Nhận thức trong giao tiếp của người Việt

Trong quyển II  Luận về nhận thức của con người  (Essay Concerning Human Understanding, 1690)– triết gia người Anh, John Locke, nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh nghiệm giác quan trong việc truy tìm tri thức thay vì suy đoán trực giác và diễn dịch. Ông cho rằng trí tuệ của con người khi sinh ra giống như một tấm giấy trắng (tabula rasa) sẽ được lấp đầy bằng những chữ. Những chữ đó là  gì? Chúng chính là kinh nghiệm. “Không có gì có trong trí tuệ mà không có trước trong giác quan”. Ông chia kinh nghiệm thành hai loại: quan sát những đối tượng ngoại tại và quan sát những đối tượng trong tâm trí.

Quan sát những đối tượng ngoại tại là cách nói khác về giác quan. Quan sát những hoạt động trong tâm trí, Locke dùng chữ “hồi niệm”, vì mọi người đạt được ý tưởng bằng cách nghĩ lại những hoạt động trong tâm trí. Những ví dụ về hồi niệm là lĩnh hội, suy tư, nghi ngờ, tin  tưởng, suy luận, nhận biết, tỏ ý chí.

William James, triết gia kiêm tâm lí học người Mĩ, người đã đề xướng thuyết cảm xúc.

Thuyết cảm xúc của James cho rằng cảm xúc là tri giác của trí tuệ về những điều kiện sinh lí học xuất phát từ những kích thích. Ví dụ: không phải chúng ta thấy con gấu sợ hãi và bỏ chạy, mà là chúng ta thấy con gấu, bỏ chạy trước, rồi do đó, chúng ta sợ hãi con gấu. Theo James, tri giác tạo ra các phản ứng của cơ thể rồi các phản ứng này được kinh nghiệm như là cảm xúc. Nói khác đi, các cảm xúc mà chúng ta cảm thấy thì tuỳ thuộc điều chúng ta làm.

Giao tiếp là quá trình nhận thức và cảm xúc ở các mối quan hệ giữa hai người với nhau.

Có thế đó là hoạt động trong một nhóm người, nhưng tựu trung, đó cũng chỉ là giữa cá nhân với một cá nhân lớn, hoặc một cá nhân đơn lẻ.

Nhận thức trong các mối quan hệ cá nhân liên quan đến những yếu tố như:

Đồng cảm (affinity), sự hiểu rõ, giống nhau về tính tình, về hoàn cảnh, khiến hai người dễ hiểu, thông cảm cho nhau. Sự tôn trọng (respect), trong một mối quan hệ, tôn trọng là tình cảm quan trọng, có nhiều ý nghĩa, vì nó khiến mối quan hệ có nền tảng bền vững. Sự đồng cảm và tôn trọng thoạt nhìn có vẻ giống nhau, nhưng chúng thật sự khác nhau. Xuất hiện sự tôn trọng  trong một mối quan hệ luôn khiến những người trong mối quan hệ ấy cảm thấy thoải mái, vừa ý. Sự gần gũi (immediacy), và sự kiểm soát (control), khi một người mất sự kiểm soát cảm xúc của bản thân thì mối quan hệ đó có nguy cơ phát triển theo chiều hướng xấu và sẽ có một phía rút lui khỏi mối quan hệ.

Các đặc trưng cơ bản trong văn hoá giao tiếp của người Việt.

Sau khi nhìn nhận chung về giao tiếp giữa người và người, chúng ta không thể không bàn đến văn hoá giao tiếp của người Việt. Vì đó là nguồn gốc vấn đề giao tiếp liên quan đến hai khía cạnh quan trọng  ảnh hưởng đến giao tiếp, tạo nên rào cản là văn hoá và tâm lí.

Người Việt vốn sống trong môi trường làng xã. Cộng đồng làng xã hình thành tính cộng đồng, và tính tự trị. Tính cộng đồng tạo nên tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, nếp sống dân chủ bình đẳng. Nhưng có nhược điểm là thủ tiêu vai trò cá nhân, thói dựa dẫm, ỷ lại, thói cào bằng, đố kị.

Tính tự trị xác định sự độc lập của làng xã, tạo nên tinh thần tự lập, cần cù, tự cung tự cấp, nhưng cũng có nhược điểm là có óc tư hữu, ích kỉ, óc bè phái, địa phương, và óc gia trưởng.

Từ lối sống làng xã hình thành nên thói quen giao tiếp của người Việt. Vì sống trong cộng đồng cho nên người Việt đối với khách thường hay thăm hỏi, hiếu khách. Đến khi ra khỏi làng xã, bước ra một môi trường mới lại rụt rè.

Nguồn gốc của người Việt là lấy nông nghiệp làm chủ. Vì thế nên trọng tình hơn trọng lí. Xét về quan hệ giao tiếp lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Với đối tượng giao tiếp, ưa tìm hiểu, đánh giá, quan sát. Do sự tồn tại của người Việt gắn liền với cộng đồng, tập thể cho nên dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm tôn trọng danh dự. Trong làng, quan trọng là lão làng, người có tuổi, không xét về địa vị và tiền của. Trong giao tiếp, người có nhân cách là người biết cư xử theo cương vị của mình. Ví dụ, tôi là con của cha tôi, là chồng của vợ tôi, là cha của con tôi, là tôi đối với mọi người. Cứ theo vai vế mà hình thành cách đối xử. Nếu tôi làm sai những qui cách thông thường thì tôi là người có nhân cách kém. Bộ mặt của cá nhân trong giao tiếp là quan trọng.

Về cách thức giao tiếp, người Việt ưa sự tế nhị, ý tứ, và trọng sự hoà thuận. Chính vì tế nhị, ý tứ tạo nên cách nói vòng vo tam quốc. Chính lối sống trọng tình, tư duy coi trọng các mối quan hệ đã tạo thói quen đắn đo cân nhắc và từ đó dẫn đến thiếu tính quyết đoán. Tâm lí trọng  sự hoà thuận khiến người Việt luôn chủ trương nhường nhịn.

Trên đây là một số đặc điểm trong giao tiếp của người Việt, để từ đó thấy được ưu, khuyết điểm để bổ sung, hoàn thiện kĩ năng giao tiếp, vốn là kĩ năng không thể thiếu trong thời đại ngày nay.

11/08/2011

Nhu Huinh

Tài liệu tham khảo:

Mai Sơn, 101 triết gia, Tri Thức, 2007.

Nguyễn Văn Huyên, Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt nam, Khoa học xã hội, 1995.

Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt nam, Văn học, 2002.

Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt nam, Đại học  tổng hợp TPHCM, 1995.

Adler, Ronald B. & George Rodman. Understanding Human Communication. 9th edition. New York: Oxford University Press, 2006.


About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s