Anthony Scioli – Năm bài học từ Nhật-bản

Anthony  Scioli

Năm bài học từ Nhật-bản

Gần đây Nhật hoàng 77 tuổi Akihito  đã khẩn cầu dân chúng của ngài “đừng từ bỏ niềm hi vọng”. Điều này có lẽ đã gây ngạc nhiên đối với một số người phương Tây bởi vì Nhật-bản là một nước phương Đông chịu ảnh hưởng rất lớn của Phật giáo và Thần đạo (Shinto), những truyền thống tín ngưỡng mà nhiều người liên kết chúng với sự tỉnh táo, sự chấp nhận và sự quên mình hơn là niềm hi vọng về tương lai, sự biến đổi, hay những đam mê trần tục. Thật ra, chẳng có gì lạ khi mà những người phương Tây  tin rằng “niềm hi vọng”  thậm chí không tồn tại ở phương Đông. Đối với nhiều trí thức người Mĩ, đặc biệt là những nhà tâm lí học,  niềm hi vọng gắn liền với sự theo đuổi những mục tiêu cụ thể, đặc biệt. Chắc chắn rằng,  Nhật hoàng không có kiểu hi vọng như thế trong tâm trí  vào lúc ông thực hiện lời khẩn cầu đó? 

Hi vọng không phải là một đức hạnh độc nhất của truyền thống Kitô-Do thái giáo (Judeo-Christian) hay của phương Tây. Để thể hiện niềm hi vọng, trong tiếng của người  Apache có  từ  “ndahondii và trong tiếng Swahili có từ  “matumaini cũng như trong tiếng Ba-tư có từ omid”, đó là một vài ví dụ. Phòng thí nghiệm lớn nhất trong khuôn viên Trạm Không gian Quốc tế (International Space Station) được gọi là “Kibou” , có nghĩa là “hi vọng”  trong tiếng Nhật. Thế thì hi vọng là gì? Nó là một vật hay là nhiều vật? Chúng ta có thể học được gì về hi vọng từ kinh nghiệm của người Nhật? Ngược lại, người Nhật học được gì từ “hi vọng” ? Liệu chúng ta có thể kết hợp những bài học này để hiểu rõ hơn về tai họa tâm linh-xã hội-tâm lí không? 

Từ “Kibou” trong Hán-Nhật văn có nghĩa là hi vọng

 

Chúng ta có thể học được gì về hi vọng từ người Nhật?

 Hi vọng thực sự liên quan một phần với những mục tiêu và sự làm chủ. Tuy nhiên, trong khi những nhà tâm lí học hàn lâm có xu hướng khái niệm hóa niềm hi vọng như là sự mong đợi đạt được những mục tiêu và sự phỏng đoán những khả năng cụ thể, thì hi vọng của một người đàn ông và một người đàn bà bình thường lại có xu hướng siêu việt, toàn diện, và phụ thuộc vào tư kiến. Hi vọng không phải là ao ước. Không như niềm lạc quan, hi vọng không có tính vị-kỉ mà có tính tập thể, bắt nguồn ở sự ủy quyền và hướng đến thành công cao hơn. Trái lại, những qui trình kiểm soát gián tiếp hay thứ yếu nổi tiếng (thỉnh thoảng gọi là “quyền lực mềm” (soft power) trong lĩnh vực thương mại) được ưa chuộng ở phương Đông có mối liên hệ với bản chất sự làm chủ hi vọng hơn là quan điểm hi vọng hướng đến mục tiêu của tâm lí học hàn lâm. Ở Nhật-bản, câu chuyện “Fukushima Năm-mươi” (Fukushima Fifty) đã cho thấy một ví dụ điển hình về sự làm chủ tập thể hướng đến một mục tiêu cao hơn.  Năm mươi người nhân viên của công ti năng lượng hạt nhân Fukushima bị phá hủy đã đồng ý tiếp tục nỗ lực nhằm ổn định nhà máy mặc cho sự phơi nhiễm phóng xạ độc hại không thể tránh khỏi.

Hi vọng có liên hệ với sự gắn kết. Thật ra, sự gắn kết có lẽ là nguồn suối quan trọng nhất cho sự phát triển hi vọng. Tuy nhiên, nếu bạn nghiên cứu tâm lí học chủ đạo, thì bạn sẽ thấy rằng có rất ít vấn đề bàn về hi vọng và sự gắn kết. Trường hợp ngoại lệ là Erik Erikson (1) đã tin rằng sự tin cậy là nguồn gốc của hi vọng ban đầu. Triết gia Gabriel Marcel (2) đồng ý với Erikson nhưng mở rộng thêm phần tử gắn kết của phương trình hi vọng. Lại nữa, điều gây tò mò là tuy chiều kích này của hi vọng có lẽ chẳng có mối liên hệ tiêu biểu nào với “đức hạnh ki-tô giáo” , song nó được thể hiện trong phù điêu nét thô khỏe thông qua sự giao lưu với Nhật-bản, vốn là một xã hội tập thể chủ nghĩa.

Trong suốt cuộc khủng hoảng, những đức tính lịch thiệp, tin cậy, và sự cởi mở có thể suy sụp nhanh chóng. Điều này thật không may bởi vì những khía cạnh liên quan đến sự gắn kết của hi vọng có thể đóng vai trò như những vị cứu tinh thực sự  trong một thảm họa động đất, lũ lụt, hay thảm họa chính yếu khác. Ở Nhật, chúng ta có thể nhận thấy giá trị của một văn hóa đoàn kết, cố kết ở cách mà những người trẻ và khỏe mạnh giúp đỡ những người già yếu và bệnh tật, cái cách mà những người dân địa phương quan tâm, sẵn sàng giúp đỡ người ngoại quốc, và sự sẵn lòng hạn chế việc tiêu thụ cá nhân đối với những tài nguyên có hạn để giúp ích cho tập thể.

Hi vọng cũng liên quan với sự sinh tồn. Trong một thời gian dài tâm lí học đã tiếp cận bản tính con người như thể nó chỉ  bắt nguồn từ bản năng sinh tồn. Hiện nay với sự xuất hiện của “tâm lí học thực định (positive psychology)”, lĩnh vực này dường như đã lãng quên rằng hi vọng được sinh tồn vẫn là nền tảng. Những hệ hình  cứ thay thế nhau, nhưng loài người vẫn là  bằng xương bằng thịt dễ bị tổn thương cũng như vẫn có những thùy trán rộng đóan trước được mối nguy hiểm và tiên liệu cái chết. Một cách trực tiếp, điều này có nghĩa là sự tập trung hiện thời vào sự tăng trưởng, những mục tiêu phía trước, sự hạnh phúc, vv phải liên tục được cân bằng với sự thấu cảm về những xung đột tự-hòa giải vốn chi phối kinh nghiệm hàng ngày của hàng triệu người phải vượt qua xung đột và khổ đau. Sinh tồn hi vọng liên kết với sự tự-hòa giải thông qua niềm tin được cứu rỗi và những lựa chọn có ý thức. Người Nhật là bậc thầy về sự tự-chủ và nhiều người quan sát đã nhận thấy tương đối không có sự hốt hoảng đám đông, và thấy sự chấp nhận và trật tự lâu bền của họ trong khi đối mặt với tình trạng thiếu thức ăn, nước và năng lượng.

Thích nghi lâu dài với làm việc trong “những không gian tù đọng” và vượt qua những thách thức của cuộc sống, không ngạc nhiên khi nhiên liệu bị cạn kiệt và điều này trở nên khó khăn cho sự sinh tồn lâu dài, thì những người trong Cộng Đồng Chữ Thập Đỏ Nhật-bản (The Japanese Red Cross Society) chuyển sang sử dụng xe đạp. Một ví dụ thứ hai về tính linh họat của người Nhật là ở việc tiếp nhận những truyền thống tín ngưỡng đa dạng, quan trọng hơn cả là đạo Phật và Thần đạo. Nhưng với một số tín ngưỡng, có một ít sự pha trộn với đạo Khổng, và thậm chí cả những yếu tố ki-tô giáo.

Hi vọng thực sự thuộc về tâm linh. Một lần nữa, bạn sẽ thấy trong tâm lí học hàn lâm có rất ít tính tâm linh của hi vọng. Nhưng với hầu hết mọi người, hôm nay, hôm qua, và chắc chắn cả mai sau, hi vọng dường như gắn chặt với lòng tin. Lòng tin này phần lớn thường là tín ngưỡng nhưng có thể bao gồm cả lòng tin vào chính mình, vào tha nhân, những thiết chế xã hội, tự nhiên, hay công nghệ.  Tuy nhiên , điều khiến nó thực sự mang ” tính tâm linh” không phải là nguồn gốc hay phạm vi của niềm tin mà ở sự mãnh liệt của nó. Theo cách nói hiện đại, niềm tin phải nội tại ở chính bản thân nó. Tính tâm linh của người Nhật là một sự phù trợ lớn lao cho họ trong suốt cuộc khủng hỏang chính vì những truyền thống tín ngưỡng (như niềm tin vào tập thể, tổ tiên, hay vào những vị thần khác nhau) đã bắt rễ sâu sắc trong nền văn hóa của họ, và không phải, như quan điểm của nhiều người phương Tây, là những tầng lớp kinh nghiệm ở bên trên, và ở bên ngoài cuộc sống hàng ngày.

 Người Nhật có thể học được gì từ hi vọng?

 Sự làm chủ. Câu tục ngữ của Nhật-bản, “Cây đinh lồi lên thì bị búa đập xuống”, củng cố một luân lí xả thân, tập thể chủ nghĩa mà có thể gây khó khăn cho việc nuôi dưỡng cảm hứng thông qua những hình mẫu anh hùng. Đây không phải là lúc để thờ ơ với những anh hùng hay xem nhẹ những hành động dũng cảm, sáng tạo hay cống hiến của cá nhân. Câu chuyện Fukushima năm mươi thường tình vừa qua nên được tri nhận trong văn hóa ứng xử cộng đồng. Tôi hiểu rằng những biến cố và sự ô nhục khả dĩ có thể gán cho cộng động những tai tiếng, đặc biệt sau những gì đã xảy ra với “hibakusha” (3) trong chiến tranh thế giới thứ II. Tuy nhiên, lợi ích sẽ lớn hơn tổn thất, ở việc mang đến cho người trẻ lẫn già những hình mẫu vai trò cụ thể. Năm mươi anh hùng có thực với năm mươi câu chuyện sẽ tạo ra một nguồn sức mạnh hi vọng dồi dào gây cảm hứng cho người dân Nhật hơn là một nhóm kẻ vô danh.

Sự gắn kết. Mặc dù có thế mạnh ở niềm tin kiên định, nhưng người Nhật vẫn phải thận trọng không để tái diễn những tội ác của Chiến tranh thế giới thứ II, bấy giờ sau vụ ném  bom ở Hiroshima và Nagashaki, những người bị phơi nhiễm phóng xạ được gọi là “hibakusha”, những người sợ hãi, những người cô độc và bị bỏ rơi. Có lẽ thậm chí quan trọng hơn đối với Nhật Bản, chúng ta biết rằng những nhóm và tổ chức sẽ hoạt động tốt nhất khi có sự tin cậy mãnh liệt ràng buộc những nhà lãnh đạo và phe phái của họ. Những sử gia đã đối chiếu sự thành công của những quân đoàn La Mã cổ đại (những kì tích của sự cố kết hoàn bị) và sự thất bại của Phe miền Nam trong cuộc nội chiến Hoa-kì (sự liên kết lỏng lẻo). Người Nhật phải bước đi càng lâu bao nhiêu trước khi họ nhận thấy những tiến bộ, và nghe càng nhiều bao nhiêu những công báo của chính phủ không phù hợp với kinh nghiệm thực tế của họ, thì việc gìn giữ những niềm tin mãnh liệt ấy sẽ càng khó khăn bấy nhiêu.

Sự sinh tồn. Junko Ooigawa, có chồng đã tiếp tục làm việc tại nhà máy Fukushima, được ca ngợi trong một bài tường thuật của đài MSNBC. Cô ấy than van “Tôi không thể tưởng tượng ra tương lai vào lúc này”. Đối với người Nhật, vốn có truyền thống Phật giáo và Thần đạo, sự tỉnh táo vào thời khắc hiện tại là không có gì khó khăn. Song sự đương đầu với cái-tại-đây và cái-bây-giờ mà không cần đến sự hướng dẫn từ quá khứ chẳng khác nào mạo hiểm đi vào vùng hoang dã mà không có bản đồ chỉ đường hay la bàn. Nhật -bản đã vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng, nổi bật nhất, vụ ném bom nguyên tử trong chiến tranh thế giới thứ II đã cướp đi sinh mạng của hơn 250.000 người và hủy hoại cuộc sống của ít nhất những người bị phơi nhiễm chất độc phóng xạ. Những người già sống sót qua thảm họa này và những thảm họa khác có thể dạy những người trẻ cách nhìn hướng về tương lai tốt đẹp và nuôi dưỡng niềm tin rằng mặt trời sẽ lại mọc ở phương Đông. Về phương diện này, Nhật Bản may mắn, vì có tỉ lệ dân số già lớn nhất thế giới, khoảng 23 %. Nhật hoàng  Akihito là một người phát ngôn lớn tuổi đặc biệt hợp lí. Khi những trái bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagashaki thì ông ấy được mười một tuổi và nhà lãnh đạo Nhật-bản bấy giờ không ai khác hơn là Hirohito, cha của Akihito.

Tính tâm linh. Những chiều kích tâm linh của hi vọng có thể bao gồm những cảm xúc của sự ủy quyền, sự nối kết, và sự tự do cũng như niềm tin vào một vũ trụ hài hòa và một cảm nhận về sự bất tử tượng trưng. Một số đáng kể người Nhật đặt niềm tin vào Thần đạo để đối mặt với những biến cố chính của cuộc đời trong khi đó sử dụng những niềm tin Phật giáo để xử lí cái chết và cuộc sống ở thế giới bên kia. Trong lúc này, họ đang hoạt động tích cực để tận dụng cả hai truyền thống này. Phật giáo là một cách tốt nhất để tìm kiếm sự tự do và duy trì niềm tin về một vũ trụ công bằng, nếu không  nói là thân ái. Thần đạo được trang bị tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của những người tìm kiếm sự ủy quyền và sự nối kết cũng như cung cấp cửa ngõ cho một tính liên tục trường tồn hơn.

Hoang Phuc  dịch

 Nguồn:   http://blog.oup.com/2011/04/japan-hope/

Chú thích

(1)   Erik Erikson (1902-1994) là một nhà tâm phân học người Đức .

(2)   Gabriel Marcel (1889-1973), triết gia người Pháp, soạn kịch và cũng là nhạc sĩ dương cầm sáng tác.

(3) Hibakusha (tiếng Nhật: 被爆者) là cụm từ được Nhật Bản dùng để chỉ những nạn nhân của Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s