Umberto Eco – Làm thế nào để trở thành người dẫn chương trình truyền hình

Umberto Eco

Làm thế nào để trở thành người dẫn chương trình truyền hình

Duy Doan dịch


Hồi trước, tôi đã trải qua một chuyện thú vị ở đảo Svalbard, là nơi mà Viện Khoa học địa phương mời tôi ở đó vài năm để tìm hiểu về quốc gia Bonga, một xã hội hưng thịnh nằm giữa Vùng đất Bí ẩn (Terra Incognita) và Hòn đảo May mắn (Isles of the Blest).

Các sinh hoạt của người Bonga thì cũng chẳng khác gì mấy với chúng ta, nhưng họ có tính hay khẳng định huỵch toẹt mọi thứ ra một cách bất thường, dưới dạng một câu phát biểu ngắn. Họ không nhận biết được cái hay của việc tự ngầm hiểu, của cái sự mặc-nhiên-nó-là-thế.

Ví dụ, nếu chúng ta chuẩn bị nói chuyện, hiển nhiên là chúng ta sẽ phải dùng những ngôn từ; nhưng chúng ta cảm thấy chả cần thiết để nói lên thế. Một người Bonga thì ngược lại, khi nói chuyện với một người Bonga khác, sẽ bắt đầu bằng câu nói: “Chú ý nè, tôi chuẩn bị nói chuyện đây, và tôi sẽ dùng một vài ngôn từ đó.” Chúng ta xây nhà cửa và rồi (trừ trường hợp ngoại lệ đối với người Nhật) chúng ta chỉ cho một vài người khách qua đường về số nhà, về tên của người sống trong những ngôi nhà đó. Những người Bonga thì viết ra từ “ngôi nhà” ở trên mọi căn nhà, và viết từ “cái cửa” ngay bên cạnh cái cửa. Nếu bạn bấm chuông nhà một người Bonga, thì anh ta sẽ mở cửa kèm theo câu: “Tôi đang mở cửa đây,” và sau đó anh ta tự giới thiệu mình. Nếu anh ta mời bạn dùng bữa tối, anh ấy sẽ chỉ cho bạn một cái ghế với những lời nói sau: “Đây là cái bàn, và những cái này là những cái ghế!” Rồi trong một giọng nói đầy hoan hỉ, anh ta tuyên bố: “Và bây giờ, là người hầu gái! Đây là Rosina. Cô này sẽ hỏi anh muốn dùng gì và phục vụ một bữa ăn khoái khẩu dành cho anh!” Thủ tục đó cũng y chang vậy ở tại các nhà hàng.

Thật kì lạ khi quan sát những người Bonga lúc họ đi xem hát. Khi đèn rạp hát tắt dần, một nam diễn viên xuất hiện và nói: “Đây là cái màn!” Rồi cái màn kéo lên và các diễn viên khác bước ra, để trình diễn vở Hamlet hay còn gọi là Le Malade imaginaire (người bệnh tưởng). Nhưng mỗi diễn viên lại được giới thiệu cho khán thính giả, đầu tiên là họ tên thật của anh ta, rồi sau đó là tên của nhân vật anh ta thủ vai. Khi một diễn viên nói xong, anh ta tuyên bố: “Giờ là khoảnh khắc im lặng!” Một vài giây trôi qua, và rồi diễn viên tiếp theo tiếp tục nói. Dĩ nhiên là, ở cuối màn đầu tiên, một trong những diễn viên chạy ra chỗ đèn chiếu sân khấu và thông báo cho mọi người rằng “bây giờ sẽ là lúc chuyển tiếp giữa hai màn.”

Cái mà đặc biệt làm tôi ấn tuợng là việc buổi biễu diễn âm nhạc của họ, cũng như chúng ta, bao gồm những đoạn nói chuyện trào phúng, những bài hát, những bài song ca, và khiêu vũ. Nhưng ở đất nước chúng ta thì tôi quen với ý nghĩ hai diễn viên hài sẽ diễn trào phúng trước, rồi một người bắt đầu hát một bài hát, rồi sẽ có những cô gái xinh tươi chạy ra với những bước chân thoăn thoắt để bắt đầu nhảy múa, để giúp người xem được giải khuây. Cuối cùng, khi màn nhảy múa chấm dứt, những người diễn viên sẽ quay lại. Còn tại nhà hát Bonga, đầu tiên các diễn viên sẽ thông báo rằng một màn diễn hài vui nhộn sẽ ra mắt mọi người, rồi họ bảo là họ sẽ chuẩn bị song ca, còn chỉ ra rằng màn này sẽ vui lắm, và cuối cùng người diễn viên còn lại trên sâu khấu sẽ thông báo: “Giờ là màn nhảy múa!” Điều làm tôi sửng sốt nhất chưa phải như thế, trong khi chuyển tiếp giữa hai màn, một số khẩu hiệu quảng cáo xuất hiện trên bức màn – người ta cũng làm thế tại nhà hát của chúng ta – mà điều này mới làm tôi ngạc nhiên; sau khi thông báo về việc chuyển màn, người diễn viên nói thêm vào: “Và giờ là quảng cáo!”

Trong suốt một khoảng thời gian dài, tôi tự hỏi điều gì đã khiến những người Bonga cần sự rõ ràng một cách kì quái như vậy. Có lẽ, tôi tự nói chính mình, rằng họ hơi chậm hiểu và nếu người nào đó không nói rằng “tôi chuẩn bị đi đây” thì họ sẽ không nhận ra được người ta sẽ chuẩn bị nói lời tạm biệt. Và trong một mức độ nào đó thì chuyện đó ắt hẳn là thật. Nhưng còn có một lí do khác. Người Bonga là những kẻ tôn sùng sự thể hiện, và do đó họ phải biến đổi mọi thứ – thậm chí cả việc ngầm hiểu – thành một việc thể hiện ra bên ngoài.

Trong suốt thời gian ở tại Bonga, tôi cũng có cơ hội tái xây dựng lại lịch sử của việc vỗ tay. Vào thời xưa, người Bonga vỗ tay vì hai nguyên do: hoặc là họ vui mừng vì màn trình diễn hay, hoặc vì họ muốn tôn vinh một người với phẩm chất xuất sắc. Thời lượng của việc vỗ tay tán thưởng cho biết ai là người được trân trọng và được yêu quí nhất. Một lần nữa, vào thời xưa, những tên quản lí nhà hát lắm trò, nhằm thuyết phục khán thính giả tin rằng tác phẩm có giá trị thực sự, đã trả tiền và sai mấy tên du thủ du thực đứng vỗ tay cho dù chẳng có lí do gì hết. Khi các chương trình truyền hình lần đầu tiên được phát sóng tại Bonga, những nhà sản xuất đã dụ dỗ mấy người họ hàng của những người tổ chức vào phòng thu hình và, nhờ vào ánh đèn chớp chớp (mà người xem truyền hình tại nhà không thể thấy được), những người đó sẽ biết khi nào họ vỗ tay. Chẳng mấy chốc người xem biết được cái mánh đó, nhưng, trong khi tại đất nước chúng ta , những trò vỗ tay kiểu đó sẽ ngay lập tức không được tin tưởng nữa, thì ở Bonga lại không như vậy. Những người xem chương trình tại nhà bắt đầu cũng muốn tham gia vào việc vỗ tay, và nhiều đám đông đã có mặt một cách tự nguyện tại các phòng thu truyền hình, sẵn sàng trả tiền để có cái đặc quyền được vỗ tay. Một vài người nhiệt tình đã theo các lớp học đặc biệt về vỗ tay. Và vì lúc này mọi thứ đều công khai, nên chính người dẫn chương trình sẽ nói, bằng một giọng nói lớn vào những thời điểm phù hợp, rằng: “Và bây giờ chúng ta hãy nghe một tràng pháo tay.” Nhưng rồi chẳng mấy chốc những khán thính giả bắt đầu vỗ tay mà chả cần người dẫn chương trình đề nghị. Anh ta chỉ đơn giản hỏi ai đó trong đám đông, ví dụ như anh hiện đang làm gì để kiếm sống, và khi anh ta trả lời: “Tôi đang phụ trách một cái phòng hơi ngạt tại trại chó hoang của thành phố,” thì những lời của anh ta sẽ được chào mừng bằng những tiếng vỗ tay vang dội. (Điều này hồi đó thường xảy ra thỉnh thoảng tại phương Tây, khi Bob Hope xuất hiện, và trước khi anh ta có thể mở miệng chào, thì những tiếng vỗ tay nồng nhiệt đã vang lên trong phòng. Hoặc khi người dẫn chương trình sẽ nói, “Chúng ta lại ở đây, thành từng nhóm, như mọi ngày thứ 5,” và người ta không chỉ vỗ tay, mà còn chia phe ra nữa.)

Việc vỗ tay trở nên vô cùng thiết yếu đến nỗi trong suốt các chương trình quảng cáo, khi người ta nói, “Hãy mua những viên thuốc giảm cân PIP,” thì sẽ nghe được tiếng vỗ tay rì rào. Người xem biết rất rõ là chẳng có ai trong phòng thu với người quảng cáo này, nhưng tiếng vỗ tay là rất cần thiết; nếu không chương trình có lẽ dường như sẽ không thực tế, và người xem sẽ chuyển kênh. Người Bonga muốn truyền hình cho họ thấy cuộc đời thực, như nó đang sống, mà không có chút giả vờ nào. Sự vỗ tay đến từ khán thính giả (như chúng ta), chứ không phải đến từ diễn viên (là người giả vờ), và do vậy đó là sự đảm bảo duy nhất rằng truyền hình là cửa sổ mở ra thế giới. Người Bonga hiện đang chuẩn bị một chương trình được tạo ra hoàn toàn bởi các diễn viên làm công việc vỗ tay; nó sẽ có tên là TeleTruth (Sự thật Truyền hình). Để cảm nhận rằng đôi chân của họ đang dính chặt trên mặt đất, người Bonga giờ đây lúc nào cũng vỗ tay, thậm chí khi họ không xem truyền hình. Họ vỗ tay ở đám tang, không phải vì họ cảm thấy hài lòng hay vì họ muốn làm hài lòng người thân yêu của họ đã lìa xa trần thế, mà là để không phải cảm thấy sự u ám bao trùm bởi những sự u ám khác, để chắc chắn rằng họ đang tồn tại và họ là thực, như những hình ảnh họ thấy trên màn ảnh nhỏ vậy. Một ngày kia, tôi đến thăm một ngôi nhà Bonga nọ thì có người họ hàng bước vào và bảo, “Bà ngoại vừa mới bị xe tải cán chết!” Những người còn lại nhảy cẫng lên và vỗ tay điên cuồng.

Tôi không thể nói rằng người Bonga thuộc đẳng cấp thấp hơn chúng ta. Thực ra thì, một người trong bọn họ đã bảo với tôi là họ dự định chinh phục cả thế giới. Và ý tưởng đó hoàn toàn không phải chuyện nói suông, tôi đã nhận ra thế khi tôi về nhà. Chiều hôm đó tôi bật truyền hình và thấy một người dẫn chương trình đang giới thiệu những cô gái trợ lí của anh ta, rồi thông báo là anh ta sẽ có một cuộc độc thoại hài hước, và kết thúc bằng: “Và giờ đây là phần múa ballet của chúng tôi!” Một người đàn ông lịch thiệp hào nhoáng, tranh luận về những vấn đề chính trị nghiêm túc với một người đàn ông lịch thiệp hào nhoáng khác, và khi đến thời điểm nhất định, một người ngừng tranh luận để nói, “Và giờ, nghỉ giải lao để dành cho quảng cáo.” Mấy người làm trò thậm chí còn giới thiệu các khán thính giả cho ta biết. Một số khác, bảo rằng máy quay đang quay họ. Mọi người vỗ tay.

Bất an tột cùng, tôi rời nhà và đi đến một nhà hàng, vốn nổi tiếng về ẩm thực hiện đại. Người bồi bàn đến, mang cho tôi ba cái lá rau diếp. Và anh ta nói, “Đây là món rau thập cẩm, được rắc cải lông (rughetta) của vùng Piedmont, được băm nhỏ và được làm chung với muối biển, được thoa lên bằng dầu olive nguyên chất lấy từ lần ép đầu tiên của vùng Umbria.”

1987

Sài-gòn,
ngày Ukraine tuyên bố độc lập,
cũng là ngày chào đời của Jorge Luis Borges (1899-1986),
20100824.

Nguồn:

Eco, Umberto. “How to Be a TV Host.” How to Travel with a Salmon & Other Essays. Trans. William Weaver. New York: Harcourt Brace & Company, 1994.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s