Nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học – Phạm Phú Quốc & Lê Tấn Luật

Nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học[1]

Phạm Phú Quốc & Lê Tấn Luật

Bài này góp ý những vấn đề cần cân nhắc trước khi xây dựng chiến lược phát triển Trường Đại học Ngân hàng Tp. HCM, liên quan đến nghiên cứu khoa học (NCKH) và đào tạo đại học (ĐTĐH). Với mục đích đó, bài viết không nói về ưu điểm và thành tựu trường đạt được trong thời gian qua, mà chỉ tập trung bàn về những vấn đề cần cải tiến. Nội dung liên quan NCKH và ĐTĐH được đề cập dưới ba giác độ là (1) quan điểm, (2) thực trạng và (3) hướng giải quyết.

1.    Nghiên cứu khoa học

Phần này chủ yếu bàn về NCKH đối với nghiên cứu viên và giảng viên của trường.

1.1.  Quan điểm về NCKH

NCKH là gì và tầm quan trọng của nó, tuy là hai vấn đề không mới, nhưng cần được xác định rõ trước khi xây dựng chiến lược NCKH cho trường. Điều này cần thiết, vì chúng liên quan tới các giải pháp cho thực trạng nghiên cứu hiện nay.

NCKH phải theo tiêu chuẩn hội nhập. NCKH có nhiều cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thấp, nó được coi là hoạt động tìm hiểu những vấn đề, những kiến thức có sẵn rồi tập hợp chúng lại theo mục đích của người nghiên cứu, nhằm giúp độc giả hiểu vấn đề đó hoặc để góp ý cho các hoạt động trong cuộc sống (Văn Như Cương, 2009). Dạng này chỉ phù hợp cho người mới tập làm nghiên cứu hoặc tích hợp vào các chương trình đào tạo bậc cử nhân trở xuống, để sinh viên làm quen với NCKH thông qua các bài tập nhóm, tiểu luận hoặc khóa luận.[2]

Trường đại học cần hướng tới NCKH ở cấp độ cao hơn, theo xu hướng hội nhập; ở đó, “nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học” (Nguyễn Văn Tuấn, 2009). Trước tiên, công trình NCKH phải bổ sung kiến thức ngành nói riêng và nhân loại nói chung. Muốn vậy, nhà nghiên cứu phải biết những công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến công trình của mình mới ước định được công trình có đóng góp gì cho khoa học và thực tiễn. Ngoài ra, công trình phải tuân thủ phương pháp NCKH theo trình tự như đặt câu hỏi (research question), thu thập thông tin hiện hành, đặt giả thuyết, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, diễn giải kết quả phân tích, công bố kết quả, và tái kiểm định giả thuyết (Nguyễn Văn Tuấn, 2009).[3] Để kết quả nghiên cứu được cộng đồng khoa học thừa nhận, nhà nghiên cứu không chỉ phải cập nhật kiến thức mới nhất về lĩnh vực mình đang nghiên cứu mà còn phải sử dụng thành thạo các công cụ phân tích định tính và định lượng phù hợp.

NCKH có tầm quan trọng không kém hoạt động đào tạo. NCKH rất cần thiết để làm tăng uy tín học thuật và từ đó làm tăng thứ hạng của trường. Trong xu hướng hội nhập, cách tính thứ hạng của các trường phụ thuộc nhiều vào các công trình khoa học được đăng trên các tạp chí uy tín, hiện nay là các tạp chí quốc tế (theo Báo Tuổi Trẻ (2008) và Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg (2007)).[4] Nếu chúng ta không có chiến lược NCKH đúng thì sẽ gặp bất lợi khi được phân loại theo xu hướng này.[5] Một khi thứ hạng của trường thấp sẽ kéo theo nhiều thiệt hại như sinh viên giỏi không thích đăng ký vào trường, người giỏi ngại về công tác, các trường đại học hoặc tổ chức uy tín hạn chế hợp tác và các chương trình tài trợ không dành ưu tiên cho trường.

Ngoài ra, khó có ĐTĐH tốt nếu trường không có NCKH tốt. Do đó, NCKH cần được đặt ngang tầm với hoạt động đào tạo.

1.2.  Thực trạng NCKH tại Đại học Ngân hàng

Phần này trước hết điểm qua tồn tại trong NCKH tại trường, sau đó bàn về những nguyên nhân dẫn đến tồn tại này.

Các công trình NCKH hiện nay chủ yếu tổng hợp kiến thức đã có hơn là các phát hiện mới và hầu hết chưa sử dụng tốt các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng,[6] do đó các công trình này khó được công bố trên các tạp chí uy tín trên thế giới mà chỉ có thể đăng trong nước (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2010). Như vậy, nếu áp dụng chuẩn xếp hạng đại học có tính đến thứ hạng các công trình khoa học thì chúng ta sẽ bị thiệt thòi. Chỉ cần so sánh với Đại học Tôn Đức Thắng cũng đã thấy nguy cơ này.[7] Trường này đã có chiến lược NCKH khá tốt, với kết quả là họ có năm bài báo khoa học (article) đăng trên tạp chí quốc tế và bảy bài tham luận (proceeding) được đưa vào kỷ yếu của hội thảo quốc tế (Đại học Tôn Đức Thắng, 2010).

Các công trình khoa học còn hạn chế như trên có thể vì ba bất cập trong chính sách NCKH của trường sau đây:

Trước tiên, trường chưa coi NCKH quan trọng như giảng dạy. Điều này có thể thấy rõ qua kế hoạch sinh hoạt khoa học không được xây dựng song song với lịch giảng đầu mỗi học kỳ.[8] Cách làm như vậy cũng gây bất lợi cho giảng viên, do khó có thể tham gia các sinh hoạt này mà không ảnh hưởng giờ giảng.

Ngoài ra, trường ít có hoạt động giao lưu khoa học, kể cả nội bộ (giữa các bộ môn, các khoa, viện, tạp chí và các trung tâm). Đặc biệt, trường có Trung tâm hợp tác quốc tế nhưng, về học thuật, nơi này chỉ hỗ trợ giảng viên một số khóa học ngắn hạn miễn phí hoặc tạo điều kiện cho một số người tham quan nước ngoài, chứ chưa có hoạt động giao lưu NCKH nào đáng kể.[9]

Cuối cùng, giảng viên chưa có đủ phương tiện tối thiểu để nghiên cứu. Cụ thể, chưa có phòng làm việc yên tĩnh thuận tiện cho nghiên cứu cũng như chưa có các phần mềm chuyên dụng, thiếu số liệu và các tạp chí khoa học quốc tế quan trọng để cập nhật những kết quả nghiên cứu mới trong ngành. [10] Ngoài ra, kỹ năng và khả năng nghiên cứu của từng người phần lớn do tự học, hơn là được hỗ trợ từ nhà trường.[11]

1.3.  Giải pháp

Trường cần thực hiện những giải pháp sau:

–           Nên đặt NCKH đúng tầm quan trọng của nó. Thể hiện trước hết ở lịch sinh hoạt khoa học đầu các học kỳ, bao gồm nhiều cấp độ từ sinh hoạt chuyên môn ở bộ môn (hoặc khoa) đến hội thảo khoa học cấp khoa, cấp trường và hội thảo quốc tế (nếu có). Lịch sinh hoạt này cần được ấn định cụ thể một số buổi nhất định trong tuần (hoặc trong tháng) và tránh trùng lắp giữa các khoa. Lịch này cũng tránh trùng với lịch giảng để những người có liên quan dễ dàng tham dự.[12] Kế đến, nên xem định mức nghiên cứu là tiêu chuẩn bắt buộc (để xét tiêu chuẩn được tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy tại trường) chứ không phải là tiêu chuẩn có thể đánh đổi bằng giờ giảng.

Ngoài ra, cần có chế độ khuyến khích liên quan tới nghiên cứu cụ thể và chi tiết hơn như (1) phân biệt chi tiết chất lượng công trình (hiện nay chúng ta đã có phân loại nhưng thiết nghĩ còn đơn giản)[13] đồng thời, (2) chính sách đãi ngộ phải đảm bảo người có thành quả nghiên cứu tốt không thiệt thòi về quyền lợi, ít nhất là thu nhập, so với người dạy nhiều.

–           Bồi dưỡng thường xuyên kỹ năng và phương pháp nghiên cứu theo xu hướng hội nhập cho nghiên cứu viên và giảng viên, nhất là giảng viên mới.[14] Nội dung bồi dưỡng cần chú trọng ba vấn đề sau:

+ Phát hiện ý tưởng nghiên cứu: Ý tưởng ở đây phải mới và có giá trị khoa học hoặc thực tiễn. Hiện nay, trên thế giới, hầu như chủ đề nào cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nên việc xác định ý tưởng nghiên cứu có mới hay không là rất khó. Do vậy, để xác định ý tưởng nghiên cứu phù hợp rất cần sự hướng dẫn và giúp đỡ của những người từng trải trong nghiên cứu và điều kiện tiên quyết là phải có đầy đủ cơ sở dữ liệu (tạp chí quan trọng trong và ngoài nước cũng như số liệu nghiên cứu). Về cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu, có thể tham khảo cách làm của Đại học Kinh Tế Tp. HCM; bước đầu, trường này đã mua quyền truy cập Science Direct, Emerald, eBrary từ 15-9-2010 (Đại học Kinh tế Tp. HCM, 2010).

+ Chọn phương pháp nghiên cứu: Sau khi có ý tưởng, cần phải có phương pháp nghiên cứu phù hợp với ý tưởng đó. Trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, muốn được các tạp chí khoa học có chất lượng[15] chấp nhận, các nghiên cứu phải ứng dụng tốt các công cụ thống kê, kinh tế lượng (cho nghiên cứu thực nghiệm) hoặc toán học (cho nghiên cứu lý thuyết).

+ Viết báo cáo nghiên cứu: Khi đã có kết quả nghiên cứu thì cách viết báo cáo cũng rất quan trọng. Trong đó, chỉ riêng cách trích dẫn không đúng cũng có thể gây ra các lỗi đạo văn đáng tiếc, như một số trường hợp xảy ra vừa qua (Nguyễn Văn Tuấn, 2010).

Đối với ba kỹ năng trên, nghiên cứu viên và giảng viên cần được đào tạo và trao đổi kinh nghiệm thường xuyên, chứ không phải tự phát như hiện nay.

–           Nên có chính sách khuyến khích nghiên cứu viên và giảng viên tham gia các hội thảo uy tín, kể cả có đóng phí, trong và ngoài nước. Các hội thảo này thường bình duyệt bài viết rất kỹ trước khi chấp nhận. Vì vậy, nếu bài của ai được chấp nhận thì họ xứng đáng được thanh toán chi phí tham dự hội thảo.[16] Khi tham gia hội thảo quốc tế, họ có điều kiện học hỏi nhiều điều bổ ích và cũng là cơ hội làm cho nhiều người biết tới trường; đây là cầu nối quan trọng cho hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đào tạo sau này.

–           Nên tận dụng quan hệ hợp tác quốc tế để thúc đẩy NCKH của trường. Muốn vậy, nên ưu tiên liên kết với các trường mạnh về NCKH.[17] Ngoài ra, cần phải xác định, mục đích chính của hợp tác quốc tế không phải để cải thiện thu nhập mà là từng bước hội nhập về đào tạo và nghiên cứu. Vì vậy, nếu chúng ta không nâng nội lực NCKH và chủ động phối hợp NCKH với đối tác thì tính cạnh tranh trong hợp tác quốc tế sẽ kém. Hệ quả là các tổ chức tốt sẽ không ưu tiên lựa chọn chúng ta làm đối tác. Điều này không có lợi cho trường trong dài hạn.

–           Nên có chỗ nghiên cứu cho giảng viên. Có thể dành vài phòng dùng chung cho mục đích nghiên cứu, với tiện ích tối thiểu (kệ sách, máy in, internet, một số bàn làm việc chung) trước khi tiến tới có phòng riêng cho giảng viên.[18] Ngoài ra, cần trang bị các phần mềm chuyên dùng cho nghiên cứu (như EndNote, SAS, Stata, Eviews, SPSS), đồng thời cần có nhân viên hỗ trợ nghiên cứu chuyên trách để sử dụng hiệu quả các công cụ và dữ liệu nghiên cứu. Những người này được đào tạo chuyên trách và họ cũng là người nhận chuyển giao kỹ thuật khi trường mua sắm các thiết bị, cơ sở dữ liệu và các phần mềm.[19] Còn nhớ, trường đã từng tiếp nhận phòng lab Reuters nhưng vì không có nhân viên hỗ trợ kỹ thuật chuyên trách nên phòng này không phát huy hết tác dụng của nó.

2.    Đào tạo đại học

Phần này bàn về quan điểm, thực trạng và giải pháp đào tạo bậc đại học ở trường.

2.1.  Quan điểm về ĐTĐH

Quan điểm ĐTĐH được thể hiện chủ yếu qua mục tiêu, chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo.[20]

ĐTĐH không phải trang bị kiến thức và kỹ năng như dạy nghề mà là đào tạo bản lĩnh cho người học. Bản lĩnh sinh viên tốt nghiệp thể hiện ở (1) hệ thống kiến thức cơ bản có tính bao quát đủ để họ làm việc trong thực tế, đồng thời (2) có khả năng tự thích nghi cũng như tự học để cập nhật và nâng cao kiến thức. Nếu quá chú trọng dạy những kiến thức ứng dụng ngay trong các đơn vị kinh tế thì giống với dạy nghề hơn rèn luyện bản lĩnh. Cách dạy này có thể chưa có vấn đề lúc sinh viên mới ra trường, nhưng về lâu dài họ sẽ bị bất lợi khi môi trường làm việc thay đổi, và như vậy rất dễ bị lạc hậu. Ngoài ra, tính đa dạng trong thực tiễn làm cho việc dạy nghề ở bậc đại học ít khả thi;[21] đồng thời, cách làm này cũng kém hiệu quả.[22] Nếu sinh viên được đào tạo bản lĩnh như trên thì sẽ không khó tự học những kiến thức nghiệp vụ cụ thể đó.

Vì vậy, chương trình đào tạo của trường không nên quá chú trọng dạy nghiệp vụ cụ thể trong thực tế.[23] Những nội dung này sinh viên phải tự tìm hiểu dưới dạng làm thuyết trình chuyên đề, tiểu luận, báo cáo thực tập hoặc khóa luận tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn và đánh giá của giảng viên.

Tóm lại, mục tiêu ĐTĐH cần được quan niệm như đúc kết của Gs. Cao Huy Thuần: “Lý tưởng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học, bất cứ ở đâu, và nhất là trong văn hóa cổ của ta, là đào tạo người học trò thành người trí thức chứ không phải chỉ thành chuyên viên” (Cao Huy Thuần, 2009).

Chương trình đào tạo cần tinh gọn, liên thông và hội nhập. Tinh gọn nghĩa là  tránh các nội dung lặp đi lặp lại không cần thiết trong các môn học, để không lãng phí thời gian của sinh viên và giảng viên, nhờ đó họ có thêm thời gian học và nghiên cứu kiến thức chuyên sâu. Tính liên thông của chương trình thể hiện ở (1) sự liên thông giữa các bậc học (cao đẳng, đại học và sau đại học) về chương trình và nội dung các môn học, và (2) trình tự các môn học trong từng bậc học.[24] Chương trình đào tạo cần thể hiện tính hội nhập vì xu hướng của nền kinh tế là hội nhập thì đào tạo cũng phải hội nhập, thậm chí đi trước một bước theo chủ trương đi tắt đón đầu của chính phủ.[25] Hơn nữa, chương trình có tính hội nhập giúp sinh viên khi ra trường sẽ thuận lợi nếu làm việc hoặc tiếp tục học tập trong môi trường có tính quốc tế hóa cao. Ngược lại, nếu cơ cấu môn học không phù hợp thông lệ chung thì sinh viên tốt nghiệp có thể bị từ chối tuyển dụng do không thể hiện kiến thức được đào tạo phù hợp yêu cầu của nhà tuyển dụng; hoặc bị hạn chế khả năng xin học các trường tốt do cơ cấu môn đã học không phù hợp với yêu cầu kiến thức đầu vào của các trường này.

Tài liệu giảng dạy phải mang tính hội nhập. Nên xác định mục đích môn học trong tổng thể chương trình, từ đó chọn giáo trình chuẩn dùng ở các trường có uy tín (đáp ứng yêu cầu cho chương trình nói trên). Hiện nay, không thể phủ nhận ưu điểm giáo dục đại học của Mỹ cho nên hầu hết các trường trên thế giới, khi xác định tài liệu giảng dạy, đều có xu hướng tham khảo giáo trình các trường đại học tốt của nước này. Đó là điều chúng ta nên cân nhắc.

Phương pháp giảng dạy khuyến khích sinh viên chủ động: nên kết hợp nhiều hoạt động đào tạo để khuyến khích tính chủ động học tập, giải quyết tình huống thực tiễn và NCKH của sinh viên, khuyến khích làm việc theo nhóm. Nhờ các phương pháp này sinh viên sẽ lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả mà giảng viên không cần tốn nhiều thời gian để thuyết giảng hết những nội dung của môn học. Nếu tinh gọn được chương trình đào tạo và tăng tính tự học của sinh viên thì số giờ giảng viên cần phải đứng lớp sẽ giảm. Đây là cơ sở để tăng đơn giá giờ giảng cũng như tạo ra thời gian để họ có thể NCKH. Cách làm này còn rèn luyện những kỹ năng tự học và hợp tác của học viên.

Mỗi môn học nên có giảng viên giảng chính và trợ giảng. Như vậy sẽ tận dụng được năng lực của giảng viên trình độ cao (giảng được nội dung quan trọng cho nhiều lớp mà không quá tải) và tạo điều kiện cho giảng viên trẻ tập sự với công việc giảng dạy và nghiên cứu từ những công việc phù hợp (như giảng một phần môn học, ôn tập, chấm bài và làm trợ lý nghiên cứu).

Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng không kém giảng viên, nhất là nếu muốn đào tạo tính chủ động học tập cho học viên. Với điều kiện kinh phí có hạn, nên ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho giảng dạy hơn các hoạt động khác chưa thật sự cần thiết.[26]

2.2.  Thực trạng ĐTĐH tại Đại học Ngân Hàng[27]

Phần này phân tích thực trạng ĐTĐH dựa trên khía cạnh đã đề cập trong phần quan điểm ĐTĐH, đồng thời nói về hạn chế của hoạt động hợp tác quốc tế trong việc hổ trợ công tác đào tại tại trường

Trước hết, mục tiêu đào tạo là (1) dạy nghề hay (2) dạy kiến thức căn bản, hiện đại và kỹ năng tự học hiện chưa thống nhất trong toàn trường.[28] Điều này dẫn đến xem nhẹ các môn cơ sở ngành và quá chú trọng các môn nghiệp vụ.[29]

Kế đến, chương trình hiện nay thừa môn học mà thiếu nội dung. Tổng số môn học cho mỗi sinh viên một khoa chuyên ngành hiện khoảng 40 tới 47 môn;[30] thế nhưng nội dung nhiều môn học còn rất khiêm tốn so với nội dung các giáo trình được nhiều trường trên thế giới áp dụng.[31] Ngoài ra, nội dung giữa các môn còn chồng chéo không cần thiết;[32] nhưng các môn học trong cùng một cấp học cũng như khác cấp học không thể hiện tính liên thông.[33]

Hơn nữa, tài liệu giảng dạy hiện chưa đủ, một số môn có tài liệu nhưng chưa đảm bảo yêu cầu xu hướng hội nhập.[34]

Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy còn chú trọng thuyết giảng hơn các hoạt động khuyến khích tính chủ động tự học của sinh viên.[35] Ngoài ra, chưa phân biệt nội dung khó (quan trọng) và nội dung dễ (ít quan trọng) để có sự phân công lao động hợp lý. Do vậy, giảng viên có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm phải giảng cả những phần mà lẽ ra họ không cần giảng. Điều này làm cho giảng viên tập sự chủ yếu chỉ nghiên cứu; còn giảng viên thâm niên, do phải giảng nhiều, nên thời gian nghiên cứu bị hạn chế.

Ngoài ra, cơ sở vật chất, cụ thể như, thư viện, internet và cơ sở dữ liệu phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên chưa được đặt đúng tầm quan trọng của nó (theo Báo Thanh Niên (2010) và Báo Vietnamnet (2009)). Trong đó, đáng quan tâm là, trang Web của trường chưa được đầu tư và sử dụng hiệu quả cho giảng dạy và quản lý sinh viên.[36]

Cuối cùng, quan hệ hợp tác quốc tế chưa có vai trò gì đáng kể cho hoạt động giảng dạy ở trường, cũng như trong NCKH.[37]

2.3.  Giải pháp

Trên cơ sở những vấn đề nói trên, thiết nghĩ trường nên chú ý các giải pháp sau:

–           Mục tiêu ĐTĐH chú trọng dạy sinh viên kiến thức căn bản, hiện đại và kỹ năng tự học. Những vấn đề quá cụ thể tại các đơn vị kinh tế thì nên yêu cầu sinh viên tự tìm hiểu thông qua bài tập nhóm, tiểu luận, báo cáo thực tập và khóa luận tốt nghiệp. Tất nhiên, những hoạt động này phải có sự hướng dẫn và đánh giả kết quả từ giảng viên.

–           Chương trình nên chú trọng dạy tốt kiến thức nền tảng để nhờ vào đó sinh viên có thể hiểu sâu kiến thức chuyên ngành và dễ dàng tiếp tục tự học cũng như học ở bậc cao hơn. Với các môn chuyên ngành, cần rèn luyện sinh viên kỹ năng ứng dụng kiến thức nền tảng vào chuyên môn cụ thể.[38] Nếu làm được điều này, giảng viên không cần dạy lại kiến thức cơ bản, nên không cần tốn nhiều thời gian để giảng lượng kiến thức chuyên ngành như hiện này. Điều này thể hiện sự tinh gọn, liên thông và hội nhập.       Dựa trên xu hướng tự chủ của trường đại học, chương trình khung nên dựa vào chuẩn của một số trường đại học có uy tín (ưu tiên các trường được công nhận của Mỹ).[39]&[40]

Để làm tốt hai giải pháp trên, nên xem xét việc sắp xếp lại các khoa hiện có cho khoa học và phù hợp với thông lệ chung trên thế giới.

–           Bước đầu có thể xin phép các nhà xuất bản để biên dịch các giáo trình phù hợp. Thiết nghĩ, tính khả thi của giải pháp này cao vì đã có nhiều sách nước ngoài được dịch và lưu hành tại Việt Nam. Đồng thời có nhiều tài liệu dạy tiếng Anh đã có sách “Chỉ được bán tại thị trường Việt Nam” (For sale in Vietnam only) với giá cả phù hợp. Về lâu dài, nên khuyến khích sinh viên và giảng viên dùng tài liệu gốc (thông qua hình thức sách “Chỉ được bán tại thị trường Việt Nam” nói trên). Ngoài ra, cũng khuyến khích sử dụng tài liệu do giảng viên tự biên soạn, nếu đạt chuẩn trường đề ra.[41]

–           Cần khuyến khích tính chủ động của học viên và coi đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi giảng viên. Ngoài ra, cần phân biệt nội dung phức tạp hay đơn giản trong các môn học để phân công phù hợp năng lực giảng viên. Những đợt tập huấn “phương pháp giảng dạy đại học” hoặc “phương pháp nghiên cứu khoa học” không phải thỉ dành riêng cho giảng viên mới mà cũng rất cần cho giảng viên thâm niên để họ bổ sung và cập nhật kiến thức này.[42]

–           Cần đầu tư và sử dụng hiệu quả hơn nữa hệ thống thư viện, internet và cơ sở vật chất khác cho đào tạo của trường. Đặc biệt, nên có kế hoạch dùng trang web trường nhiều hơn cho giảng dạy như phân phối tài liệu học tập, cho phép sinh viên đăng ký học, xin bảng điểm, liên lạc với giảng viên, và đánh giá giảng viên qua mạng, v.v. Tránh sử dụng các trang web miễn phí để giao dịch với sinh viên, do tính bảo mật của chúng không cao và không chính danh.[43] Hơn nữa, điều này có thể làm tổn hại hình ảnh Đại học Ngân hàng vốn có hẳn khoa công nghệ thông tin.

–           Cần tận dụng hoạt động hợp tác quốc tế để xây dựng chương trình chung, chọn giáo trình và học tập đối tác cách thức giảng dạy, đánh giá học viên và quản lý sinh viên.

Mong rằng những vấn đề liên quan đến NCKH và ĐTĐH nói trên được cân nhắc trước khi xây dựng chiến lược phát triển của trường. Nhóm tác giả rất vui lòng tiếp tục trao đổi về những ý kiến trên.

Melbourne, ngày 16 tháng 11 năm 2010

Phạm Phú QuốcGiảng viên Khoa Tín dụng

Nghiên cứu sinh về Ngân hàng, Đại học Monash
Building H, Room 4.12, 900 Dandenong Road, Caulfield East VIC 3145, Australia
+61 (0)3 9903 4211 – Phone, +61 (0)4 3051 4613 – Mobile

Email: PhuQuoc.Pham@monash.edu

Lê Tấn LuậtGiảng viên Khoa Giáo dục cơ bản

Nghiên cứu sinh về Thị trường chứng khoán, Đại học La Trobe

Building HU3, Room 1.20, La Trobe University, Melbourne, VIC 3086, Australia
+61 (0)3 9479 5312 – Phone, +61 (0)4 68 574 463- Mobile

Email: tl3le@students.latrobe.edu.au

Tài Liệu Tham Khảo

Báo Pháp luật Tp. HCM. (2010). Vụ giáo trình đại học thiếu nguồn trích dẫn: Có thiếu sót nhưng cần xét hoàn cảnh biên soạn. từ http://phapluattp.vn/20100507122555580p0c1019/co-thieu-sot-nhung-can-xet-hoan-canh-bien-soan.htm

Báo Thanh Niên. (2010). Thư viện chưa đáp ứng cho sinh viên. từ http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101019172317.aspx

Báo Tuổi Trẻ. (2008). Xếp hạng đại học Việt Nam: Liệu có khách quan, đáng tin cậy?. từ http://tuoitre.vn/Giao-duc/289054/Xep-hang-dai-hoc-Viet-Nam-Lieu-co-khach-quan-dang-tin-cay.html

Báo Vietnamnet. (2009). Cấm sinh viên sử dụng internet bằng…dán băng keo ổ điện. từ http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2009/04/841026/

Cao Huy Thuần. (2009). Hướng đi của đại học. Tuần Việt Nam, từ http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2009-10-21-huong-di-cua-dai-hoc

Đại học Kinh tế Tp. HCM. (2010). Thư viện Trường Đại học Kinh tế (Chuyên mục tin nổi bật). từ http://www.lib.ueh.edu.vn/?ArticleId=5da4e85f-22d8-445c-912c-6e007757f08d

Đại học Ngân hàng Tp. HCM. (2009). Quy chế về hoạt động nghiên cứu khoa học đối với giảng viên và Cán bộ công chức Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM. từ http://buh.edu.vn/Upload/633958055415312563.pdf

Đại học Ngân hàng Tp. HCM. (2010). Danh sách các đề tài NCKH. từ http://www.buh.edu.vn/content.aspx?Id=VNCKHVCNNH&SubId=CCTNCKH&ArticleID=418

Đại học Tôn Đức Thắng. (2010). Các bài báo công bố quốc tế. từ http://www.tdt.edu.vn/lang-vi/component/content/section/12

Nguyễn Thị Cành. (2009). Một số ý kiến nhằm nâng cao chấtt lượng đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam nhìn từ thựcc trạng chất lượng đào tạo tiến sĩ các chuyên ngành kinh tế hiện nay. Bài trình bày tại Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ của ĐH Quốc gia Tp. HCM”.

Nguyen Thi Canh, & Nguyen Thanh Cuong. (2010). The determinants of financial structure for Vietnam’s seafood processing enterprises. Paper presented at the FMA.

Nguyễn Văn Tuấn. (2009). Một vài ngộ nhận về nghiên cứu khoa học. Tia Sáng, từ http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=78&CategoryID=32&News=2804

Nguyễn Văn Tuấn. (2010). Đạo văn và tác giả ma trong học thuật: vấn đề hệ thống. từ http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1122-dao-van-va-tac-gia-ma-trong-hoc-thuat-van-de-he-thong

Thủ tướng Chính phủ. (2007). Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 Retrieved từ http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30340&cn_id=67242.

Văn Như Cương. (2009). Nghiên cứu- “hoạt động” từ bà nội trợ đến người thầy. Tuần Việt Nam, từ http://www.diendantoanhoc.net/vmf/index.php?option=com_ccboard&view=postlist&forum=25&topic=135&Itemid=474

Vũ Quốc Phóng. (2008). Hệ tín chỉ: “Viết lại một quyển niên giám” Việt Báo, từ http://vietbao.vn/Giao-duc/He-tin-chi-Viet-lai-mot-quyen-nien-giam/20771409/202/


[1] Nhóm tác giả nhận được góp ý từ Đào Mai, ĐH Ngân hàng; Hạ Thị Thiều Dao, ĐH Ngân hàng; Trần Thị Bình An, ĐH Ngân hàng; Võ Văn Lai, ĐH Tôn Đức Thắng (NCS Luisiana State University, Mỹ); Nguyễn Thị Kim, ĐH Hoa Sen (NCS University of Western Sydney, Úc); Nguyễn Quang Trung, ĐH Mở Tp.HCM (NCS Monash University, Úc); Trần Thanh Long, ĐHQG Hà Nội (NCS Monash University, Úc); Đỗ Quang Hưng, Học viện Hành chính (NCS La Trobe University, Úc); Đặng Hùng Vũ, ĐH An Giang (NCS Victoria University of Wellington, NZ) và một số sinh viên ĐH Ngân hàng. Trân trọng cảm ơn những đóng góp quý báu đó. Những hạn chế trong bài viết thuộc trách nhiệm tác giả.

[2] NCKH ở cấp nhập môn này vẫn rất cần sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm để tránh các sai lầm về phương pháp NCKH, nhất là tránh đạo văn, thói quen xấu làm hại nhà nghiên cứu sau này.

[3] Nguyen Thi Canh và Nguyen Thanh Cuong (2010) là ví dụ cho nghiên cứu theo dạng này tại Đại học Quốc gia Tp.HCM.

[4] Danh sách các tạp chí quốc tế được xếp hạng, tham khảo tại  http://www.journal-ranking.com/ranking/web/index.html

[5] Phát triển hệ thống đại học theo hướng hội nhập là một trong những nội dung chiến lược của Bộ Giáo dục và Đào tạo thể hiện qua Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2007). Trong đó, hệ thống đại học sẽ được phân làm ba cấp: (1) Các trường đại học được xếp hạng trong nhóm 200 trường hàng đầu thế giới; (2) Các trường đại học đào tạo định hướng nghiên cứu; (3) Các trường đại học, cao đẳng đào tạo định hướng nghề nghiệp – ứng dụng. Dự thảo chiến lược phát triển Đại học Ngân hàng phải thể hiện rõ mục tiêu của trường là lọt vào nhóm nào trong phân loại nói trên. Bài viết này giả định trường nỗ lực để chí ít được xếp vào nhóm 2.

[6] Nhiều công trình hiện được coi là định tính thực chất chưa dùng đúng các phương pháp nghiên cứu định tính. Ngoài ra, phần lớn các luận án (Phó) Tiến sỹ cũng có vấn đề về phương pháp nghiên cứu (theo Nguyễn Thị Cành (2009)).

[7] Còn nhiều nội dung khác được dùng để đánh giá trường đại học, bài viết chỉ so sánh riêng khía cạnh NCKH.

[8] Theo “Quy chế NCKH đối với GV-CB Trường ĐH Ngân hàng Tp.HCM”, hàng năm kế hoạch NCKH phải được các đơn vị trong toàn trường đăng ký, nhưng lịch sinh hoạt khoa học thì không thấy đề cập (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[9] Có thể thấy rõ điều này qua các hoạt động chính được xác định trên trang web của trung tâm này, tại: http://www.bu.edu.vn/Trung_Tam_Hop_Tac_Quoc_Te_DH_Ngan_Hang_TpHCM/Vn_AboutUs_Trung_Tam_Hop_Tac_Quoc_Te_DH_Ngan_Hang_TpHCM.aspx

[10] Thư viện Đại học Ngân hàng đã có một số tạp chí nước ngoài, nhưng chủ yếu là các tại liệu miễn phí, nên chưa có đủ các tạp chí quan trọng trong ngành.

[11] Trường đã có tập huấn NCKH cho giảng viên mới nhưng số lượng các đợt tập huấn này còn quá ít và báo cáo viên không thuộc các lĩnh vực chuyên môn của trường nên hiệu quả còn thấp.

[12] Có nghịch lý rằng, giảng viên trường thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho nhân viên ngân hàng nhưng bản thân họ hầu như không được trường thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức.

[13] Ví dụ, hiện nay một bài đăng tạp chí quốc tế được tính 500 tiết nhưng chưa phân biệt chất lượng (ranking) của tạp chí đó. Xem “Quy chế NCKH đối với GV-CB Trường ĐH Ngân hàng Tp.HCM” (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[14] Đại học Kinh Tế Tp. HCM vừa qua đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nội dung này, xem http://ueh.edu.vn/?ArticleId=576ca00c-0404-462e-840c-a82c69785e9f

[15] Xem ghi chú số 4.

[16] Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay chưa đề cập đến lệ phí đăng ký bài ở hội thảo quốc tế và công tác phí khi tham dự các hội thảo này (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[17] Các đối tác hiện nay của trường chưa phải là các đại học có thế mạnh về nghiên cứu:

–       Đại Học Bolton (Bolton University) nằm ở cuối bảng xếp hạng các đại học của Vương Quốc Anh, xem http://www.thecompleteuniversityguide.co.uk/single.htm?ipg=8726.

–       Đại Học Khoa Học Ứng Dụng Tây Bắc-Thuỵ Sỹ ( University of Applied Sciences Northwestern Switzerland (FHNW, Fachhochschule Nordwestschweiz)) được xếp loại đại học định hướng nghề nghiệp – ứng dụng, xem http://www.kfh.ch/uploads/doku/doku/Studying_in_Switzerland_2010.pdf?CFID=17549942&CFTOKEN=69855350, vì vậy không nằm trong các bảng xếp hạng dành cho các trường đại học nghiên cứu của Thuỵ Sỹ, xem http://www.universityrankings.ch/en/results/overview_list .

[18] Trường có chiến lược xây dựng thư viện hiện đại và ký túc xá hiện đại nhưng chưa thấy có chiến lược xây dựng phòng làm việc và nghiên cứu cho giảng viên.

[19] Vấn đề này có thể học tập kinh nghiệm từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.

[20] Vấn đề nhân sự liên quan tới NCKH và ĐTĐH được trình bài rải rác trong tham luận này; Vấn đề tuyển, sử dụng và đãi ngộ sẽ được trình bày riêng trong tham luận khác.

[21] Theo Gs. Vũ Quốc Phóng: “…nhu cầu của các doanh nghiệp về lao động rất đa dạng và thay đổi liên tục, cho nên nếu các doanh nghiệp muốn sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể hòa nhập ngay vào môi trường kinh doanh của họ thì chỉ có cách là họ tự mở trường đại học của công ty họ.” (Vũ Quốc Phóng, 2008).

[22] Những kỹ năng và kiến thức ứng dụng này có thể được trang bị thông qua các chương trình cao đẳng, trung cấp hoặc các chương trình ngắn hạn của của các trung tâm đào tạo chứ không cần chương trình đại học.

[23] Để ý rằng, các tài liệu có tính chuyên môn cao của CFA, CPA, RM và PM cũng chú trọng tính nguyên lý chung trong ngành, chứ không gắn với dạy nghề cho các trường hợp cụ thể. Ngay cả tài liệu của Standard & Poor’s hoặc Moody’s cũng trình bày nguyên lý chung, dù đây là các đơn vị kinh tế có tính nghiệp vụ cao.

[24] Ở cơ chế tín chỉ, sự liên thông này thể hiện ở điều kiện tốt nghiệp (chương trình khung) và điều kiện tiên quyết của từng môn học.

[25] Trường từng có những môn học có tính đón đầu. Ví dụ, năm 1992, trường Đại học Ngân hàng là một trong những nơi đầu tiên dạy môn Thị trường chứng khoán và môn Nghiệp vụ ngân hàng thương mại và đã chứng tỏ những kiến thức trong các môn học này hết sức hữu ích cho sinh viên sau này.

[26] Ví dụ chi phí xây mới cổng trường tại Thủ Đức cao hơn nhiều lần so với chi phí cho trang web; trong khi để phục vụ đào tạo, lẽ ra trang web phải được ưu tiên hơn. Còn nếu cho rằng cổng trường là bộ mặt của trường thì không chuẩn xác. Do người ta chủ yếu tìm hiểu trường qua nội dung trang web chứ hiếm ai nhìn vào cái cổng để hiểu về trường.

[27] Để có thể đánh giá đúng thực trạng một số nội dung trong phần này, trường nên có một cuộc khảo sát chính thức. Bài viết này nói về thực trạng dựa trên những thông tin và kinh nghiệm mà bản thân các tác giả có được.

[28] Qua trao đổi với các đồng nghiệp tại trường. Xem thêm ghi chú số 521 về tầm quan trọng của việc này.

[29] Muốn làm nghiên cứu hay nâng cao nghiệp vụ đều phải giỏi thống kê, kinh kế lượng và lý thuyết nền tảng ở các môn cơ sở ngành nhưng các môn này hiện chưa được chú trọng đúng mức. Khoa Kế Toán-Kiểm Toán còn loại môn Kinh tế lượng ra khỏi chương trình trong khi môn Nguyên lý thống kê không trang bị được kiến thức thống kê căn bản cho chuyên ngành Kế toán-Kiểm toán (Xem thêm ghi chú 34.).

[30] Theo bảng điểm của sinh viên và chương trình đào tạo ở các khoa tại www.buh.edu.vn.

[31] Xem ví dụ trong ghi chú 34.

[32] Một vài ví dụ điển hình: Môn Tài chính doanh nghiệp và môn Tài trợ dự án trùng phần thẩm định tài chính, trong khi lẽ ra môn Tài chính doanh nghiệp dạy chính và môn Tài trợ dự án chỉ cần bổ sung một số khái niệm và kỹ thuật thẩm định, rồi ứng dụng những kiến thức này. Môn tín dụng ngân hàng và môn Tín dụng quốc tế cùng dạy các nguyên lý tín dụng. Kế toán doanh nghiệp có phần liên quan khấu hao tài sản, Kế toán ngân hàng cũng dạy phần này. Thị trường tài chính và Kinh doanh ngoại hối trùng lắp phần cách tính tỷ giá chéo.

[33] Kiến thức các môn cơ sở như Toán cao cấp, Nguyên lý thống kê, Kinh tế học, Kinh tế lượng,.v.v. hầu như không được áp dụng cho các môn nghiệp vụ. Chương trình các cấp học hầu như ít liên thông.

[34] Ví dụ tài liệu môn Tín dụng ngân hàng hiện nay chỉ tập trung hoạt động tín dụng truyền thống, thiếu mảng quản trị danh mục tín dụng và sử dụng các phái sinh để quản lý rủi ro, chưa đề cập đầy đủ các kỹ thuật thẩm định theo xu hướng hiện đại, và thậm chí chưa có các quy định quản lý rủi ro tín dụng theo Basel. Tài liệu môn Thẩm định giá phù hợp với chương trình đào tạo tại một ngân hàng hơn chương trình đại học. Môn lý thuyết thống kê có nội dung giống môn Thống kê kinh tế (thời bao cấp).

[35] Dựa trên quan sát của người viết và phỏng vấn sinh viên học ở trường.

[36] Chỉ riêng email cũng thấy sự bất cập vì không thể phục vụ giảng dạy. Email chính thức của giảng viên có dung lượng quá nhỏ, chỉ nhận và lưu giữ được tối đa khoảng 100 email!

[37] Xem ghi chú số 9.

[38] Ví dụ, các kiến thức tài chính doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, kinh tế học,v.v. được ứng dụng vào các môn tín dụng và thẩm định dự án.

[39] Các trường được công nhận, xem ở http://www.ope.ed.gov/accreditation/

[40] Các trường này đã hoạt động và khẳng định mình trong một thời gian dài, nên kết cấu các môn học đã được sàng lọc nhiều, vì thế có thể tin cậy. Quan điểm cho rằng kết cấu như vậy không phù hợp với Việt Nam không đứng vững trước ba lý do. Thứ nhất, những chương trình nói trên thích hợp để đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong xu hướng hội nhập; nếu không, Việt Nam sẽ bất lợi vì hành xử không giống ai trên trường quốc tế. Thứ hai, nếu cho rằng không phù hợp với Việt Nam thì kết cấu chương trình được xây dựng phải khác với chương trình đào tạo ở các trường vừa nêu chứ không thể chỉ giống duy nhất ở những phần dễ dạy nhất. Cuối cùng, chính phủ và bản thân trường cử người đi học ở các nước phát triển hóa ra không cần thiết, vì như vậy sẽ học những điều không phù hợp Việt Nam?

Còn nếu chưa áp dụng được chương trình như trên, vì nhiều giảng viên chưa giảng được, thì phải giải quyết vấn đề khác, liên quan đến khâu tuyển chọn và bồi dưỡng giảng viên. Chúng ta chọn kết cấu môn học là vì chất lượng đào tạo, hay nói cách khác là vì sinh viên, chứ không phải vì sự thuận tiện cho giảng viên.

[41] Không phải giáo trình tự soạn nào cũng phù hợp. Có tài liệu chỉ cóp nhặt đơn giản từ một hoặc vài tài liệu khác, nên có thể bị sai lệch so với ý tưởng của tác giả gốc, vì thế nếu dùng giảng dạy có thể gây nguy hại cho kiến thức của sinh viên (theo Báo Pháp luật Tp. HCM (2010)).

[42] Xem thêm ghi chú 6.

[43] Hiện tại Phòng Đào tạo có một blog giao dịch với sinh viên trên My Opera: http://my.opera.com/phongdaotao/archive/

Advertisements

One comment on “Nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học – Phạm Phú Quốc & Lê Tấn Luật

  1. Pingback: Nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học « hoangnp

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s