Tawada Yoko – Châu Âu là phương Tây?

 

Tawada Yoko

Châu Âu là phương Tây?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

“Truyền thống” và “hiện đại”: hai từ ưa thích của người dẫn chương trình ở trong một cái hộp thường được biết đến với cái tên “truyền hình”.

Tôi có vài cái hộp trong căn hộ của mình. Một cái gọi là tủ lạnh. Nó kêu um ủm suốt ngày đêm nhưng chẳng nói gì cả. Một cái hộp khác là cái máy giặt, và nó thường nổi điên. Tuy thế, cái thứ ngôn ngữ phát ra từ máy truyền hình thì còn điên hơn nhiều.

Tên của một trong những nhà sản xuất đồ gia dụng lớn nhất Nhật-bản là “National”. Một cái tên lạ đối với một công ti, phải không nhỉ? Thế mà cái tên đó có lẽ rất phù hợp bởi vì nó hàm chứa một cách hoàn hảo tinh thần dân tộc nảy nở trong thập niên 1920, thời điểm công ti được thành lập. Sau đó nó dùng cho việc biểu lộ niềm tự hào trong việc sản xuất công nghiệp nhằm thay cho lòng tự hào của quốc gia này bị lung lay sau thế chiến thứ hai. Kết thúc chiến tranh không làm cho bản sắc dân tộc biến mất. Nhân danh của cả quốc gia, mọi người bị thúc ép phải tái thiết đất nước và tạo ra sự sung túc. Sau đó, quốc gia mang một nghĩa khác nữa; nó trở thành một cộng đồng chịu trách nhiệm trước lịch sử. Khi tội ác, nghĩa là chiến tranh, được tiến hành nhân danh một quốc gia, thì quốc gia đó sau chiến tranh phải chịu trách nhiệm cho cuộc chiến đó, phải tiếp tục tồn tại, cho dù việc tự do vươn ra khỏi quan niệm của quốc gia là ao ước của mọi người trên thế giới.

Tôi mua máy truyền hình ở Đức. Công ti làm ra nó có tên là “Grundig”, không phải “abgrundig” (lối chơi chữ tiếng Đức: Grundig chỉ sự thấu đáo, và abgrundig có nghĩa là sâu như vực thẳm…). Ở Đức không có công ti nào gọi là “National”. Cái tên đó sẽ không mang lại ấn tượng tốt cho khách hàng.

Giống như từ “quốc gia” (nation), từ “Đức” (German)  được dùng  một cách cẩn trọng hoặc thậm chí người ta còn tránh không dùng tới. Tuy vậy, có hai chủ đề mà người ta chấp nhận niềm tự hào dân tộc, và cả hai địa hạt đó đều liên quan mật thiết đến các lĩnh vực đời sống của mọi người: xe hơi và bóng đá.

Thậm chí như một trí thức người Đức luôn biết tự nhìn lại mình và hay phê phán chính đất nước mình, thì ngay cả anh ta cũng cảm thấy bị xúc phạm nếu bạn bảo rằng xe hơi Đức thuộc hàng kém chất lượng.

Xúc phạm người Nhật thì dễ hơn, họ không chỉ tự hào về xe hơi Nhật, mà còn về Walkman và thậm chí đôi khi còn tự hào về máy giặt Nhật.. Ngay cả tôi, vốn không có mong ước trở thành người tự hào dân tộc chút nào, và cũng chẳng biết gì về chuyện nội trợ, cũng sẽ cảm thấy bị xúc phạm nếu ai đó phê bình máy giặt Nhật-bản. Tôi thích máy giặt do công ti Bosch của Đức sản xuất hơn bởi họ có quĩ tín cẩn, một trong những chương trình dùng để tài trợ cho văn chương đương đại. Dù vậy, chẳng có máy giặt nào có thể xoá bỏ vết nhơ còn tồn đọng vốn là khởi sự cho cái ý tưởng về quốc gia.

Tại Đức, người ta tự hào về xe hơi Đức mặc dù đa số người Đức không thể mua nổi một chiếc BMW hay Mercedes. Tuy nhiên, một lá quốc kì nho nhỏ thì ai cũng mua được. Người ta thậm chí có thể mua một cái ở cửa hàng năm-mười-xu [1]. Có mấy cô cậu thanh niên thất nghiệp mà đối với họ cái hình thức xưa cũ cho tinh thần dân tộc được tượng trưng bằng những biểu tượng rõ ràng vẫn tốt hơn cái niềm tự hào mà những tầng lớp thượng lưu tìm thấy trong những nhãn hiệu Đức xa xỉ vốn quá đắt đỏ đối với mọi người. Những người trẻ tuổi này nhận ra rằng họ nằm ngoài cái sự giàu sang vốn được dàn dựng sẵn và chỉ được chạm tới ở cấp độ quốc gia.

Vài năm trước đây, một điều luật mới được thông qua tại Nhật, qui định rằng lá cờ Nhật phải được kéo lên tại mỗi buổi lễ diễn ra ở các trường phổ thông và trường đại học trên cả nước. Điều luật qui định kích cỡ chính xác của lá cờ. Nếu không vậy thì sẽ có vài người quyết định kéo lá cờ còn nhỏ hơn cả tem bưu điện. Điều luật khẳng định rằng lá cờ phải được kéo lên ngay giữa sân để tất cả mọi người có thể thấy. Tại mỗi buổi lễ, mọi người phải hát bài quốc ca ở dạng nguyên gốc. Thật là có một sự cố, khi đó một giáo viên dạy nhạc đã chuyển bài quốc ca thành một bài nhạc jazz và hát theo điệu jazz đó. Điều luật này khởi sự cho cuộc thi “Ikkyu-san”. (Ikkyu-san là một Till Eulenspiegel của Nhật). Ví dụ như Học viện Ngoại ngữ ở Tokyo đã kéo lá quốc kì như luật chỉ định, với một khác biệt nhỏ: người ta cũng kéo thêm 110 lá cờ của những quốc gia khác. Điều đó chỉ có tác dụng một lần. Một điều luật “cải tiến” mới đã qui định là không được kéo thêm lá cờ nào khác.

Tinh thần dân tộc kiểu cũ, cũng giống như lá quốc kì vậy, có thể đã quay trở lại trong vài năm vừa qua bởi vì hình thức thay thế cho tinh thần dân tộc dựa trên các sản phẩm công nghiệp đã không còn hiệu quả. Người dân không còn tự hào về những công ti vốn thích sáp nhập với các tập đoàn nước ngoài và đuổi việc nhân viên. Hơn nữa, hầu hết các công ti không còn thuộc về một quốc gia duy nhất.

Ở giai đoạn vừa qua, cái từ “Âu châu” trở nên ngày càng thông dụng. Nếu tôi bật đài phát thanh thì cứ mười phút lại nghe được từ đó. Có một điều luật Âu châu để bảo vệ các công trình kỉ niệm, có một cuộc thi nhạc pop Âu châu, và có những cuốn tiểu thuyết Âu châu.

Khi so sánh với từ “Đức”, thì hai tính từ “Âu châu” và “Tây phương” luôn được người ta xem là tích cực. Từ “Đức” không còn cần thiết nữa. Ngay cả những người cấp tiến theo phe cánh hữu cũng không cần nó. Họ đề cập đến “những người da trắng”, một cụm từ không thích hợp, bởi vì họ thường đả kích những người Nga gốc Đức đi di dân mặc dù họ chẳng bao giờ nói xấu những ngôi sao nhạc pop người Mĩ gốc Phi. Họ ắt là thích trở thành người phân biệt chủng tộc, nhưng thực tế là họ đả kích một cách tàn bạo những ai mà họ qui choc cái tội nghèo.

Người Nhật không thích nói về một “châu Á”. Nghe như là chủ nghĩa đế quốc Nhật. Châu Á không phải là một, và thật tốt khi nó không phải. Không có một tông giáo chung nào, cũng như không một hệ thống chính trị chung, thậm chí cũng không dùng chung một loại gạo. Người Thái sẽ rất buồn nếu họ phải ăn gạo Nhật, và ngược lại. Cụm từ “châu Á” là đứa con của chủ nghĩa thực dân; sinh ra tại châu Âu, được người Nhật dùng và lạm dụng, và người Nhật đã loại bỏ từ đó sau thế chiến thứ hai.

Tại châu Âu, người ta thích nói về ẩm thực Á châu, y học Á châu, hoặc về triết học Á châu, bởi vì họ muốn có cái kiểu một nền văn hoá Á châu thống nhất. Nếu không, thì sự tồn tại của văn hoá Âu châu sẽ bị nghi ngờ. Tuy nhiên, ở châu Á, vì nhiều lí do khác nhau mà người ta vui mừng khi không có một nền văn hoá Á châu.

Tôi cũng không thể đề cập đến “thế giới Đông phương”. Cái khái niệm “Đông phương” là một khái niệm rất Tây-Âu. Từ này được dùng để chỉ vùng Cận Đông, Trung-quốc và Nhật-bản, thỉnh thoảng có cả Nga, và thậm chí cả mấy nước Trung Âu hoặc thuộc Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Ý tưởng về “phương Đông” luôn cần thiết để hình ảnh “phương Tây’ hiện ra cụ thể. Việc nghiên cứu Đông phương học đã tiết lộ điều này cách đây rất lâu. Bất kì ai cho rằng phương Đông là hư cấu thì cần phải để ý đến đặc điểm hư cấu của châu Âu.

Gần đây trong một chương trình phát thanh tại Đức nói về Hồi giáo, người dẫn chương trình nói những hoạt động chính trị của lối tu tập bảo căn (fundamentalism) theo đạo Hồi không xứng đáng được công nhận là một nền văn hoá khác bởi vì những kẻ bảo căn đó đã du nhập ý thức hệ và chiến lược từ châu Âu. Thực ra là từ Stalin và Hitler. Sau đó, người dẫn chương trình nói về truyền thống dân chủ mang tính chính trị “Tây phương” như thể là độc tài toàn trị không nằm trong truyền thống đó vậy. Tới giữa chương trình, cô ta nói rằng phương Tây không phải lúc nào cũng cư xử theo lối Tây phương, mặc dù cô ta không định nghĩa được cụm từ “Tây phương”, và cứ khăng khăng dùng nó. Ngược lại, từ “Tây phương” dường như làm cho lập luận của cô ta thêm vững chắc. Cô ta không dùng cụm từ nào khác, ví dụ như “Âu-Mĩ”, có thể vì cô ta muốn loại trừ Nam Mĩ ra. Hơn nữa, cụm từ “Tây phương” có thể được dùng để loại trừ những quốc gia ở Đông Âu, đặc biệt là Nga.

Tôi thường tự hỏi tại sao mình không thể thốt ra dễ dàng những từ “Tây phương” hay “Đông phương”. Tôi hoàn toàn không chống đối từ “Âu châu”, cho dù tôi hiếm khi dùng từ đó bởi vì thỉnh thoảng nó chả nói lên được gì nhiều. Liệu có một thứ được gọi là thức ăn Âu châu không? Spaghetti? Người Âu châu, ví dụ như người Na-uy, đã đóng góp vào truyền thống món mì pasta của Ý nhiều hơn người Trung-quốc chăng? Tôi có nói đến văn chương “Âu châu”, nếu lúc đó tôi quá lười để mà liệt kê từng nước. Từ “Đức” cũng không tương ứng với thực tế. Liệu ngày nay có thể nói về văn chương Đức không? Còn ẩm thực Đức thì sao? Khoai tây không phải đến từ Nam Mĩ à? Dù sao, tôi thích những từ “Đức” và “Âu châu” hơn “Tây phương” bởi vì chúng buộc tôi tư duy cụ thể hơn. Cụm từ “Tây phương” mặt khác ngấm ngầm chứa đựng một quan niệm không tốt. Nó cố bao lấy cái ý thức hệ vào theo cách gói ghém vùng địa lí: bất kì ai ủng hộ cho dân chủ, tự do và chủ nghĩa cá nhân đều được xem là có định hướng Tây phương. Và, nếu người đó xuất thân từ phía Tây về mặt địa lí, thì họ thuộc về truyền thống của chính họ. Nếu không, họ bỏ đi truyền thống của chính họ. Họ có thể hiện đại đó, nhưng không còn là chính bản thân mình nữa.

Văn hoá “Tây phương” truyền thống thường được coi là hướng đi duy nhất cho sự phát triển. Tuy nhiên, hướng đi đó là một sự hư cấu được nuôi dưỡng kĩ càng. Ví dụ như văn hoá Hi-lạp cổ đại được xem là phần quan trọng cho dòng văn hoá đó trong khi ảnh hưởng từ nền toán học và khoa học tự nhiên của Ả-rập thì lại bị loại trừ. Tuy nhiên, ở Hamburg, tôi không tìm ra được bất kì dấu vết gì của nền văn hoá Hi-lạp cổ đại. Ngược lại, tại một ngôi đền ở Nara, một thành phố Nhật, điểm cuối cùng của Con đường Tơ lụa, người ta có thể tìm thấy một vật trang trí dạng chùm nho vốn có nguồn gốc từ Hi-lạp. Thứ trái cây bằng đá này vẫn không thối rữa mặc dù đã hơn một ngàn tuổi và đã có mặt trước đó một ngàn năm rồi. Những nền văn hoá trên trái đất này luôn tạo thành một mạng lưới chứ không chỉ vài hướng đi song song.

Tôi không thể dùng những cụm từ như “văn hoá chúng ta” nữa, bởi vì tôi không biết người nào sẽ thuộc về cái “văn hoá chúng ta” này, còn người nào thì không. Tôi sẽ không bao giờ mơ tưởng về việc mô tả truyền thống kịch Noh hay Butoh là những thứ thuộc về văn hoá “chúng ta”. Khi tôi dùng những tên đó, tôi không có ý nói về người Nhật mà về những người tham dự vào những nhà hát kịch như thế.

Người dẫn chương trình truyền hình dùng kịch bản cho ngày hôm nay như mọi hôm trước, nền văn hoá “ngoại quốc” nào mà anh ta chuẩn bị trình chiếu cho chúng ta thấy thì có quan trọng gì. Nếu một cô gái ở một đất nước mà người dẫn chương trình nghĩ là nước ngoài và cô gái không có bạn trai, sống với gia đình có một bà mẹ đằm thắm, người ta nói rằng cô gái sống theo truyền thống. Nếu cô ta phải lòng một chàng trai, cự nhau với gia đình và bỏ nhà đi, thì người ta bảo rằng cô gái bị ảnh hưởng bởi phong cách hiện đại Tây phương và bỏ nhà đi để tự lập.

Khi người Mĩ đến Nhật vào cuối thế kỉ 19, có những điều luật mới được ban hành ở Nhật nhằm hiện đại hoá đất nước. Ví dụ, những khu tắm tập thể công cộng, việc khoả thân nơi công cộng và đồng tính luyến ái, tất cả đều bị cấm lần đầu tiên trong lịch sử Nhật-bản. Việc hiện đại hoá này không liên hệ gì đến tự do và tính cá nhân nhưng lại liên quan nhiều hơn đến những nỗ lực công nghiệp hoá và quân sự hoá đất nước theo phái Thanh giáo. Tại thời điểm đó, khi người Nhật chọn nước Phổ làm mẫu hình cho việc tiếp tục hiện đại hoá, thì cái tâm tính Nhật-bản điển hình nổi lên quá đặc thù Nhật-bản đến mức phải được du nhập từ Phổ. Nói cách khác, những đặc tính cụ thể vốn đã tồn tại trong văn hoá Nhật rồi, chẳng hạn như đạo lí samurai, lối làm việc tập thể của những nông dân trồng lúa, niềm tin về tư duy quyền lực và phân cấp, những đặc tính đó được chọn như là những nhân tố phù hợp cho thế giới hiện đại và được trao cách xử lí theo người Phổ.

Người dẫn chương trình hét toáng lên trong cái hộp truyền hình rằng Mĩ Latin là một khối mâu thuẫn, Đông Á là một khối mâu thuẫn, Ả-rập Saudi là một khối mâu thuẫn, bởi vì hiện đại và truyền thống tồn tại cùng nhau tại những nơi đó. Tuy vậy, thật bình thường khi một đất nước nên hiện đại hoá mà không cần tiêu huỷ hoàn toàn nền văn hoá tiền công nghiệp. Thậm chí ở Anh, nơi mà quá trình hiện đại hoá bắt đầu rất sớm, thì những câu chuyện ma, chuyện kinh dị và yêu thuật vẫn còn tồn tại. Tuy vậy, bởi vì thời kì hiện đại thuộc về phương Tây, nên người dẫn chương trình không bao giờ nói rằng nước Anh là đất nước của những mâu thuẫn.

Có lẽ châu Âu chịu đựng nhiều nhất khi bị tác động bởi hệ thống công nghiệp hoặc ảnh hưởng bởi sự khai minh. Để làm dịu nỗi đau thì Tây phương và hiện đại được xem như là một.

Người Đức dùng từ “Tây phương” cũng có thể coi là tốt. Hệ quả là họ sẽ không phải cảm thấy bực dọc một cách không cần thiết về ảnh hưởng của Mĩ. Nếu không thì người dẫn chương trình sẽ phải đưa tin về chính văn hoá của anh ta theo cùng một cách anh ta đưa tin gần đây về một quốc gia ở một nơi gọi là thế giới thứ ba: “Buồn làm sao khi mà vì những lí do tài chính, hệ thống trường đại học truyền thống tuyệt diệu ở Đức phải tiếp nhận hệ thống hiện đại của Mĩ. Điều đó thật sự là quá rầu nhưng tự do cá nhân trên thị trường mở thì quan trọng hơn nhiều so với truyền thống của riêng ai đó. Việc luật pháp chi phối giờ mở cửa hàng cũng buồn y như vậy. Sẽ tốt hơn nếu ai cũng có thể mua đồ bất kì khi nào họ muốn. Mãi cho đến gần đây thì cái quyền tự do ấy chưa từng tồn tại ở Đức khi mà giáo hội ban lệnh cấm. Theo Kinh thánh thì Chúa không làm việc vào ngày thứ bảy, do vậy loài người cũng không nên làm việc ngày đó. Tuy vậy, họ dần dần cũng giải phóng bản thân thoát khỏi ý nghĩ truyền thống về ngày Chủ-nhật và tận hưởng sự tự do tiêu thụ vào ngày đó mà không cảm thấy tội lỗi. Tuy nhiên, một số công dân sẽ tiếp tục chịu đựng khoảng cách giữa truyền thống và hiện đại.” Đó là kịch bản duy nhất mà người dẫn chương trình dùng khi anh ta điểm tin về những quốc gia không-phải-phương-Tây.

Có nhiều hình hài khác nhau của hiện đại. Có nhiều loại máy truyền hình khác nhau. Ta có thể nói về công nghệ Nhật-bản, vốn khác biệt với công nghệ Trung-quốc hay Hoa-kì. Ví dụ, có một qui luật hiển nhiên ở công nghệ Nhật-bản, bảo rằng thứ gì càng nhỏ thì càng đẹp. Kết quả là, ở Nhật, người ta sáng chế và sản xuất ra máy phát thanh bán dẫn, Walkman, và những thiết bị nhỏ khác. Tuy nhiên, công nghệ Nhật-bản cũng dễ áp dụng như công nghệ Âu châu. Ngày nay những chiếc xe hơi nhỏ nhất trên thế giới không phải của Nhật, mà là của châu Âu. Hơn nữa, cái máy vi tính lớn nhất thế giới là của người Nhật và các chuyên gia công nghệ Nhật-bản không hề xấu hổ về nó. Do vậy, dường như không có nghĩa lí gì khi nói đến một công nghệ quốc gia nào đó.

Ta cũng có thể nói đến một dạng dân chủ hay tự do kiểu Nhật nếu người ta không xem chúng như là những bản vẽ xây dựng, mà thay vào đó là những ngôi nhà thực sự làm bằng gỗ, rơm hoặc đá, được xây dựng ở một địa điểm cụ thể. Nói về sự khác biệt không tương đồng với việc khẳng định sự hiện hữu của bản tính dân tộc.

Đối với sân khấu kịch cũng y vậy. Sân khấu kịch hiện đại của Nhật không chỉ là của người Nhật. Sẽ không đúng khi cho rằng chỉ những đoàn kịch đến từ Nhật là của Nhật. Những diễn viên không phải người Nhật có cùng những cơ hội để làm việc cùng với truyền thống Nhật-bản. Những biên giới quốc gia chỉ là phần rìa của những ống kính trong kính hiển vi, được dùng để nghiên cứu chi tiết những hiện tượng đặc thù.

Để giải phóng con người khỏi cái khái niệm của văn hoá dân tộc, con người ta có thể tập trung vào vùng miền. “Chúng tôi không muốn văn chương Đức nữa, chúng tôi chỉ muốn văn chương vùng Bavaria.” Hầu hết người ta sẽ không nhận thấy lời tuyên bố trên là sáng tạo hay thú vị. Thế tại sao cũng những người đó lại thấy hấp dẫn khi nghe nói đang có màn trình diễn của một đoàn kịch “truyền thống” đến từ một trong những vùng được gọi là dân tộc thiểu số ở một nơi gọi là thế giới thứ ba? Người ta cho phép bản thân nói đến một thứ truyền thống “thực thụ” của một nền văn hoá nếu họ loại trừ nền văn hoá đó ra khỏi thế giới hiện đại.

Tuy nhiên, trên thế giới ngày nay, mỗi nền văn hoá đều có tính hiện đại riêng của nó. Không nền văn hoá nào bị cô lập hoàn toàn. Mỗi nền văn hoá phản ứng lại – trực tiếp hay gián tiếp, ý thức hay trong tiềm thức – với các hiện tượng xảy ra bên ngoài nó.

Lạ lùng sao, tôi từng tiếp cận với khuynh hướng địa phương nhiều hơn là khuynh hướng toàn cầu tại đất Mĩ. Nói về điều đó tôi không có ý chỉ những dân tộc thiểu số như chủng tộc người Amish, những người vẫn còn sót lại những đặc tính Âu châu “thực thụ”, mà thay vào đó là ý chỉ những sinh viên bình thường tại những trường đại học tỉnh lẻ. Họ sống bên ngoài sự toàn cầu hoá ngay tại cùng thời điểm mà chúng ta đang trách cứ người Mĩ về việc tiêu huỷ sự khác biệt văn hoá. Ở Missoula, một sinh viên trường University of Montana đã tự hào trả lời “Không!” khi tôi hỏi cậu ta là có quán café Starbuck nào ở thị trấn không. Hiển nhiên là không phải tất cả nước Hoa-kì đều bị Mĩ hoá. Ở Tokyo có 141 quán café Starbuck, ở California có 1414, ở Berlin 8, và ở Missoula không có cái nào. Cậu sinh viên đó sinh ra tại Montana, học hành tại đó và muốn làm việc ở đó sau khi học xong. Cậu ta đã từng tới một thị trấn nhỏ của Nhật, nhưng cậu ta chưa bao giờ tới New York. Cậu ta không sống ở Mĩ; cậu ta sống ở Montana. Sự va chạm giữa nền văn hoá của thành thị với của tỉnh lẻ đã làm choáng hết tâm trí cậu ta. Những người thành thị coi khinh các tỉnh lẻ như Montana, nhưng cậu ta thì muốn sống thật với chính truyền thống của mình.

Tôi mỉm cười khi cậu ta nói về truyền thống tại Montana nhưng thật sự cái mà cậu ta nói thì không hề buồn cười. Truyền thống là hư cấu. Nó luôn được sản sinh ra bằng sự nhận thức muộn màng. Nếu nó không được sản xuất ra, thì nó không ở đó. Truyền thống Nhật-bản không kém phần hư cấu so với Montana. Khi chính quyền Nhật vào cuối thế kỉ 19 mở cửa đất nước ra thế giới bên ngoài, họ nhanh chóng tái kích hoạt những truyền thống Thần đạo vốn không được thực hành trong suốt hơn ba trăm năm. Truyền thống văn hoá là cần thiết để hình thành bản sắc dân tộc. Trước đó nó là điều không cần thiết cho đến khi nào đất nước chưa tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài.

Bởi vì truyền thống là hư cấu, không có lí do gì để cảm thấy nối kết với truyền thống về mặt di truyền. Mọi người có thể tự do lựa chọn cái truyền thống hư cấu họ mong muốn làm việc cùng. Mỗi nghệ sĩ có thể làm việc với bất kì nhân tố nào được tìm thấy trên hành tinh này. Một nghệ sĩ có thể sản sinh ra điều gì mới và thú vị hay không, phụ thuộc không phải vào nguồn gốc của người nghệ sĩ, mà phụ thuộc vào tài năng của người nghệ sĩ đó.

2005.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn,
20110622

Ghi chú của người dịch:

[1] Cửa hàng năm-hoặc-mười-xu (five and a dime store): cửa hàng mà ở đó mọi món đồ đều có giá trị 5 hoặc 10 xu.

Nguồn:

Tawada Yoko. “Is Europe Western.” Kyoto Journal: KJ Selections.
http://www.kyotojournal.org/kjselections/Tawada_Europe.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s