Umberto Eco – Làm thế nào để thiết lập một thư viện công cộng


Umberto Eco

Làm thế nào để thiết lập một thư viện công cộng

 Duy Đoàn  chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của William Weaver


1. Những danh mục liệt kê khác nhau phải được đặt cách nhau càng xa càng tốt. Cần phải để ý tách rời danh mục sách ra khỏi danh mục tạp chí, và hai thứ này tách ra khỏi danh mục theo chủ đề; tương tự vậy, những cuốn mới mua gần đây phải được giữ cách xa những bộ cũ. Nếu được thì dòng chữ dành cho hai danh mục (sách mua gần đây và bộ sách cũ) phải có chính tả khác nhau. Trong những cuốn sách mới mua gần đây, ví dụ, pajama nên được viết với một chữ a, còn trong bộ cũ, là pyjama với một chữ y. Chaikovskii trong bộ mới sẽ theo hệ thống của Thư viện Quốc hội; trong danh mục sách cũ hơn thì tên sẽ được viết theo lối xưa, với Tch.

2. Người thủ thư phải quyết định những chủ đề. Trên trang ghi bản quyền của những cuốn sách không được chứa những dấu hiệu của các chủ đề mà bên dưới liệt kê mấy cuốn sách đó.

3. Mã sách nên có dạng mà người ta không thể giải mã ra, và nếu được thì nên có dạng cực kì phức tạp, để bất kì ai điền vào tờ giấy ghi mã sách sẽ không có chỗ để đưa vô cái dòng cuối cùng của các con số và sẽ cho rằng chúng không hợp lí. Rồi người trực bàn sẽ trao tờ giấy lại cho anh ta với cảnh báo là điền vào cho đúng.

4. Thời gian giữa việc yêu cầu sách và việc gửi sách phải càng lâu càng tốt.

5. Mỗi lần chỉ có một cuốn sách được đưa ra.

6. Cuốn sách mà người trực bàn phân phát, sau khi mẫu đơn yêu cầu được gửi đến đúng cách, thì sẽ không được đưa vào phòng tham khảo, do vậy các học giả phải chia đời sống làm việc của họ thành hai mảng cơ bản: một mặt là đọc sách, mặt khác là tra cứu sách tham khảo. Thư viện phải ngăn lại bất kì khuynh hướng thay đổi hoặc nỗ lực đọc vài cuốn sách cùng lúc, vì điều này dễ làm cho mắt lé một bên.

7. Trong chừng mực có thể, không nên để sẵn máy photo nào; nếu một loại máy như vậy có tồn tại, thì việc tiếp cận nó phải rất tốn thời gian và cực nhọc vô cùng, phí dùng máy nên cao hơn tại bất kì cửa hàng photo lân cận nào, và số lượng trang giấy sao chép được cho phép không nên quá hai hay ba trang.

8. Người thủ thư phải coi người đọc như là kẻ thù, là một dạng người lãng phí thời giờ (nếu không thì anh ta hay cô ta đã ở chỗ làm việc rồi), và là một tên trộm đầy tiềm năng.

9. Văn phòng của thủ thư phòng sách tham khảo cần phải bất khả xâm phạm.

10. Phải can ngăn việc mượn sách.

11. Việc mượn sách liên thông giữa các thư viện cần trở nên bất khả, hoặc, tốt nhất là phải tốn nhiều tháng trời. Cách hoàn hảo nhất, trong bất kì chuyện gì, là đảm bảo rằng không ai có thể khám phá ra phần nội dung của những thư viện khác.

12. Về chính sách này thì việc trộm cắp ắt hẳn rất dễ.

13. Giờ mở cửa phải trùng khớp một cách chính xác với giờ làm việc tại địa phương, được quyết định bằng việc thảo luận trước với những viên chức công đoàn giao thương và với Phòng Thương mại; việc đóng cửa hoàn toàn vào ngày thứ bảy, Chủ nhật, các buổi tối và các buổi ăn là điều hiển nhiên. Kẻ thù gớm nhất của thư viện là bọn sinh viên; người bạn tốt nhất là Thomas Jefferson, một người có thư viện cá nhân rộng lớn và do vậy không cần phải tới thăm các thư viện công cộng (dù vậy ông ta có thể để lại sách của mình cho thư viện công cộng này khi chết).

14. Việc tìm được bất kì đồ ăn thức uống nào bên trong thư viện là điều không thể được, trong bất kì tình huống nào; và nhất định là không thể rời khỏi thư viện tìm đồ ăn khi mà chưa trả toàn bộ số sách đang dùng, và rồi, sau khi làm một tách café, thì người sinh viên đó phải điền phiếu yêu cầu lần nữa.

15. Trong một ngày thì việc tìm một cuốn sách đã được dùng trong ngày hôm trước nhất định không thể được.

16. Việc biết được người nào hiện đang mượn sách là điều không thể được.

17. Nếu có thể, thì không có cả phòng vệ sinh.

18. Lí tưởng nhất là độc giả không thể vào được thư viện. Nếu anh ta thực sự vào được, thì cứ một mực khai thác cái quyền kia đến chán ngấy đi được, cái quyền được đồng thuận dựa trên nền tảng của các qui tắc năm 1789, dù vậy cái quyền đó vẫn không được thông hiểu bởi lí tính tập thể, rằng anh ta không bao giờ– với ngoại lệ cho việc viếng thăm tốc hành đến những tủ sách tham khảo – được phép tiếp cận đến khu vực linh thiêng của những kho sách.

 

GHI CHÚ MẬT: Toàn bộ nhân viên đều phải có những khiếm khuyết thể chất, khi mà mấy cơ quan cộng đồng có bổn phận tạo việc làm cho những công dân khuyết tật (Bộ phận Cứu hoả được xem như là phần thêm vào của qui định này đối với hàng ngũ của họ). Cụ thể, một thủ thư hoàn hảo nên có tật đi khập khiễng, để kéo dài thời gian dành cho việc nhận tờ giấy ghi mã sách, đi xuống tầng hầm, và quay trở lại. Vì người nhân viên yêu cầu sử dụng thang để với tới những kệ sách cao hơn mặt đất tám mét, việc thay thế hai lưỡi móc giả vào chỗ hai cánh tay bị mất đi là điều cần thiết, vì lí do an ninh nữa. Người nhân viên thiếu cả hai chi trên sẽ phân phát cuốn sách được yêu cầu bằng cách dùng răng ngậm nó (qui định thư viện có xu hướng ngăn chặn việc phân phát các sách có khổ lớn hơn khổ tám).

1981.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn,
20110704.

Nguồn:

Eco, Umberto. “How to Organize a Public Library.” How to Travel with A Salmon and Other Essays. Trans. William Weaver. New York: Harcourt Brace & Company, 1994.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s