Emily Anthes – Xây dựng phục vụ cho tâm thức con người


Emily Anthes

Xây dựng phục vụ cho tâm thức con người

Duy Đoàn chuyển ngữ


Vào thập niên 1950, một bác sĩ và cũng là nhà sinh vật học từng đoạt nhiều giải thưởng Jonas Salk đang nỗ lực tìm ra cách chữa trị bệnh bại liệt trong một phòng thí nghiệm ở dưới tầng hầm tối tăm tại Pittsburgh. Tiến trình diễn ra khá chậm, do vậy để làm thông thoáng đầu óc mình thì ông ta đi du lịch tới Assisi, Ý, ở đó ông ta trải qua một khoảng thời gian ở tu viện thuộc thế kỉ 13, đi chậm rãi giữa những cây cột và những cái sân nhỏ bên trong. Salk chợt phát hiện ra ông ta thông hiểu được thêm nhiều thứ, bao gồm cả cái mà sẽ dẫn ông ta đến việc tìm ra loại vaccine bại liệt hiệu quả. Salk quả quyết rằng ông ta đã rút ra được sự hứng khởi từ bối cảnh mang tính chất tôn giáo như thế. Ông ta đi đến chỗ có niềm tin mạnh mẽ rằng kiến trúc có khả năng ảnh huởng lên tâm thức con người, đến mức ông đã hợp tác cùng với kiến trúc sư danh tiếng Louis Kahn để xây dựng Viện Salk ở La Jolla, California, và dùng viện này làm cơ sở vật chất phục vụ cho khoa học để kích thích những đột phá và khuyến khích sự sáng tạo.

Hình 1 (lấy từ tạp chí Scientific American Mind, số tháng 4/5/6 năm 2009, trang 53)


Các kiến trúc sư từ lâu đã có trực giác rằng nơi ta sống có thể gây tác động lên tư duy, cảm giác và hành vi của ta. Nhưng giờ đây, nửa thế kỉ sau chuyến hành trình đầy cảm hứng của Salk, các nhà khoa học hành vi đang đưa ra những cơ sở thực tế cho những linh cảm này. Họ đang khám phá những manh mối đang trêu ngươi con người về việc làm sao thiết kế những vùng không gian có thể đẩy mạnh tính sáng tạo, giúp cho các sinh viên tập trung và nhanh nhạy, và có thể tạo ra sự thư giãn và sự thân mật xã hội. Những viện nghiên cứu như Academy of Neuroscience for Architecture ở San Diego khuyến khích nghiên cứu liên ngành tìm ra cách lí giải làm thế nào mà một môi trường được sắp đặt sẵn có thê ảnh huởng lên tâm thức con người, và một số trường kiến trúc cũng tổ chức mấy lớp học về môn thần kinh học nhập môn (introductory neuroscience).

Những nỗ lực như thế ảnh hưởng lên lĩnh vực thiết kế, dẫn đầu những dự án tối tân nhất, như dự án những căn hộ cho người già mắc bệnh sa sút trí tuệ, mà ở đó chính cái toà nhà là một phần của công việc chữa trị [1]. Tương tự vậy, trường Kingsdale ở Luân-đôn đã được thiết kế lại, với sự trợ giúp của các nhà tâm lí học, để đẩy mạnh tính gắn kết xã hội (xem hình 2); cấu trúc mới cũng bao gồm những yếu tố giúp khuyến khích sự nhanh nhạy và tính sáng tạo. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu chỉ vừa mới bắt đầu mà thôi. “Tất cả điều này đang ở giai đoạn sơ khởi”, kiến trúc sư David Allison nói thế, ông cũng là người đứng đầu chương trình Kiến trúc + Sức khoẻ của trường Clemson University. “Nhưng cái chương trình thần kinh học vừa bắt đầu này có thể cho chúng ta thông hiểu hơn về cách làm thế nào mà môi trường được xây dựng tác động lên sức khoẻ và sự an lành của chúng ta, làm thế nào mà chúng ta làm việc và chúng ta cảm giác ra sao trong những môi trường như thế.”


Hình 2 (lấy từ tạp chí Scientific American Mind, số tháng 4/5/6 năm 2009, trang 55)

Tư duy cao hơn (higher thought)

Những cuộc nghiên cứu nghiêm túc về cái cách con người phản ứng ra sao với môi trường được xây dựng bắt đầu vào thập niên 1950, khi một vài nhóm nghiên cứu phân tích làm thế nào mà thiết kế của bệnh viện, đặc biệt là những khu trị liệu tâm lí, ảnh hưởng lên hành vi và kết quả của bệnh nhân. Trong thập niên 1960 và 1970, lĩnh vực với cái tên gọi tâm lí học môi trường (environmental psychology) bắt đầu nở rộ.

“Có một ý thức xã hội nảy nở trong lĩnh vực kiến trúc vào thời đó,” John Zeisel, nhà xã hội học lão luyện của trường Columbia University, đã phát biểu như thế, ông cũng là chủ tịch của Hearthstone Alzheimer Care, và chuyên về lĩnh vực thiết kế cơ sở vật chất cho những người bị sa sút trí tuệ. Các kiến trúc sư bắt đầu tự hỏi chính mình, Ziesel nói thêm, “Có điều gì về con người mà ta cần phải tìm ra để xây những khu nhà tương ứng với nhu cầu của con người ta?” Sự phát triển của các ngành khoa học nghiên cứu bộ não trong cuối thế kỉ 20 đã cung cấp cho lĩnh vực này một vũ khí công nghệ, những công cụ và những lí thuyết mới. Các nhà nghiên cứu bắt đầu suy xét “làm thế nào mà ta tận dụng được những phương pháp nghiêm ngặt của ngành thần kinh học và sự thấu hiểu tường tận về bộ não để gây ảnh hưởng lên việc chúng ta thiết kế ra sao,” Eve Edelstein nói, đây là nhà khoa học khách mời chuyên về bộ não của trường University of California, San Diego, và là giáo sư phụ tá của trường New School of Architecture and Design, cũng tại San Diego.

Giờ đây việc nghiên cứu hé lộ ra rằng điều đó có thể giúp soi sáng sự quan sát của Salk rằng các khía cạnh của môi trường vật lí có thể ảnh hưởng lên tính sáng tạo. Vào năm 2007, Joan Meyers-Levy, một giáo sư marketing tại trường University of Minnesota, báo cáo rằng độ cao của trần nhà gây tác động lên cách người ta tư duy. Bà phân công ngẫu nhiên cho 100 người vào một căn phòng với trần nhà cao 8 hoặc 10 bộ (khoảng 2.4 và 3m) và yêu cầu những người tham gia nhóm lại những môn thể thao từ một danh sách có 10 mục thành các danh mục theo lựa chọn của họ. Những người hoàn thành nhiệm vụ trong căn phòng có trần cao hơn thì tạo ra những danh mục mang tính trừu tượng hơn, chẳng hạn như những môn thể thao “thử thách” hoặc những môn thể thao họ thích chơi, so với những người trong căn phòng với trần thấp hơn, những người này đưa ra những phân nhóm cụ thể hơn, chẳng hạn như số lượng người tham gia trong một đội. “Độ cao trần nhà tác động lên cái cách bạn xử lí thông tin,” Meyers-Levy nói. “Bạn tập trung vào những chi tiết cụ thể trong hoàn cảnh trần nhà thấp.”

Bởi vì công trình trước đó của bà đã chỉ ra rằng các trần nhà được nâng lên sẽ khiến người ta cảm giác ít bị gò bó hơn, nhà nghiên cứu cho rằng những trần nhà cao hơn sẽ khuyến khích người ta suy nghĩ tự do hơn, điều này có thể dẫn đến việc họ sẽ tạo ra những kết nối trừu tượng hơn. Mặt khác, y nghĩa về sự giam hãm tạo ra bởi trần nhà thấp có thể tạo ra cảm giác về một góc nhìn kĩ càng hơn, mang tính thống kê hơn – điều này có thể được ưa chuộng hơn trong một vài hoàn cảnh. “Tuỳ thuộc rất nhiều vào loại công việc bạn đang làm,” Meyers-Levy giải thích. “Nếu bạn trong phòng mổ, có thể trần thấp sẽ tốt hơn. Bạn muốn bác sĩ giải phẫu thực hiện đúng các chi tiết.” Tương tự vậy, việc trả tiền hoá đơn có thể sẽ được thực hiện hiệu quả hơn trong căn phòng có trần thấp, trong khi đó tạo ra những tác phẩm nghệ thuật lớn có thể sẽ khả dĩ hơn nếu ở trong căn xưởng có trần nhà cao vút. Meyers-Levy chỉ ra rằng, độ cao thật sự của trần nhà không quan trọng bằng cảm giác về độ cao. “Chúng tôi nghĩ bạn có thể có được những hiệu ứng này bằng cách điều khiển khả năng cảm quan về không gian,” bà ta nói, bằng cách dùng sơn có màu sáng, ví dụ vậy, hoặc dùng những tấm gương để khiến cho căn phòng trông như có nhiều khoảng không gian hơn.

Chú trọng vào thiên nhiên

Ngoài việc trần nhà cao, thì góc nhìn được tạo ra bởi toà nhà có thể ảnh hưởng đến trí năng – cụ thể là khả năng tập trung của người ở trong nhà. Mặc dù nhìn ngắm ra ngoài cửa sổ cho thấy sự xao nhãng, nhưng có vẻ như việc nhìn ra khung cảnh thiên nhiên, như khu vườn, cánh đồng hoặc khu rừng, thật sự tăng cường sự tập trung. Một nghiên cứu ra mắt năm 2000 thực hiện bởi nhà tâm lí học môi trường Nancy Wells, hiện công tác ở Cornell University, và đồng nghiệp của bà ta, đã theo dõi những đứa trẻ từ 7 đến 12 tuổi trước và sau khi gia đình chuyển đi nơi khác. Wells và nhóm của bà đánh giá góc nhìn toàn cảnh từ cửa sổ cho mỗi căn nhà cũ và mới. Họ phát hiện rằng những đứa trẻ mà trải nghiệm được sự tăng cường hết mức của sắc xanh tự nhiên khi di dời đi nơi khác, thì sẽ đạt được nhiều tiến bộ nhất khi làm bài kiểm tra chuẩn về sự chú ý. (Các nhà khoa học điều khiển sự khác biệt của chất lượng nhà ở, điều này trở nên không có liên hệ với sự chú ý.) Một thí nghiệm khác cho thấy những sinh viên đại học có những góc nhìn hướng về tự nhiên ở trong khu kí túc xá của họ khi được đo sự tập trung tinh thần thì sẽ đạt điểm cao hơn so với những sinh viên nhìn ra khung cảnh toàn là những vật thể do người làm ra.

Không gian chơi đùa màu xanh lá có thể đặc biệt hữu ích cho sinh viên nào có chứng rối loạn không thể tập trung. Kiến trúc sư và nhà nghiên cứu về phong cảnh William Sullivan của trường University of Illinois và đồng nghiệp ông ta đã nghiên cứu 96 đứa trẻ con bị chứng ADD (attention deficit disorder, tình trạng rối loạn thiếu khả năng chú ý). Các nhà khoa học yêu cầu những bậc cha mẹ mô tả khả năng tập trung của bọn trẻ – như là làm bài tập về nhà hoặc những chỉ thị bằng lời – sau khi bọn trẻ tham dự vào những hoạt động như câu cá, đá bóng, và chơi trò chơi điện tử, mà trong những hoạt động đó chúng được tiếp xúc với những lượng khác nhau của các cành lá xanh um. “Những bậc cha mẹ báo cáo lại rằng triệu chứng ADD của bọn trẻ bớt nghiêm trọng hơn sau khi chúng ở trong hoặc quan sát những khoảng không gian xanh rì,” Sullivan nói, kết quả của ông được công bố năm 2001.

Những phát hiện như thế có thể là kết quả của hiệu ứng phục hồi lại của tâm thức khi nhìn ngắm cảnh quan thiên nhiên, theo ý tưởng phát triển bởi hai nhà tâm lí học Stephen Kaplan và Rachel Kaplan, cả hai đều của trường University of Michigan tại Ann Arbor. Theo như lí thuyết này, những công việc trong thế giới hiện đại có thể gây ra những mệt mỏi về tinh thần, trong khi đó việc nhìn ra ngoài khung cảnh tự nhiên thì hầu như không cần nỗ lực gì và có thể làm cho tâm trí có được sự nghỉ ngơi cần thiết. “Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khi người ta nhìn ra cảnh tự nhiên, cho dù những cảnh tự nhiên đó là thật hay được chiếu trên màn ảnh, thì khả năng tập trung của họ tăng lên,” Stephen Kaplan cho biết.

Quang cảnh tự nhiên có thể sống động hơn khung cảnh thành thị, Sullian nói thêm, bởi vì loài người có một khuynh hướng bẩm sinh phản ứng theo hướng tích cực đối với tự nhiên – một lời giải thích thay cho thuyết ưa chuộng sinh thái (biophilia). “Chúng ta tiến hoá trong một môi trường khiến cho chúng ta có thể vận hành hiệu quả trong những khoảng không gian xanh rì,” ông ta nói. Trong một bài viết vào tháng 12/2008 cho tờ Psychological Science, Stephen Kaplan cũng đưa ra ý rằng những bối cảnh thành thị cũng tạo kích thích, và việc tham gia vào chúng – với sự giao thông và các đám đông của thành thị – cần cái việc tri nhận nhiều hơn là ngắm nhìn những lùm cây.

Bằng cách dùng tự nhiên để tăng cường sự chú ý cần phải mang lại kết quả tốt về mặt học thuật, và nó dường như là vậy, theo một nghiên cứu công bố vào mùa xuân 2009 và nghiên cứu đó được thực hiện bởi C. Kenneth Tamer, người đứng đầu School Design & Planning Laboratory của trường University of Georgia. Trong phân tích của họ về hơn 10,000 học sinh lớp năm của 71 trường tiểu học tại Georgia, Tamer và đồng nghiệp phát hiện ra rằng học sinh nào ở trong lớp học có tầm nhìn không hạn chế ít nhất 50 bộ (khoảng 15m) bên ngoài cửa sổ, bao gồm vườn tược, đồi núi và những yếu tố tự nhiên khác, thì sẽ có điểm số cao hơn trong những bài kiểm tra từ vựng, nghệ thuật ngôn ngữ và toán, so với những học sinh không có những tầm nhìn mở rộng đến thế và có lớp học chỉ nhìn ra đường sá, các bãi đậu xe và những thứ khác trong nội thành.

Nhìn thấy ánh sáng

Ngoài vấn đề cây cỏ, thế giới tự nhiên còn có một số thứ khác dâng tặng cho những người ở trong nhà: ánh sáng. Ánh sáng ban ngày đồng bộ hoá chu kì ngủ-thức của chúng ta, hoặc nhịp sinh học 24 giờ, làm cho chúng ta ở trạng thái tỉnh táo vào ban ngày và khiến ta có thể ngủ vào ban đêm. Dù vậy nhiều toà nhà trụ sở không được thiết kế để có nhiều ánh sáng tự nhiên mà tâm trí và cơ thể ta cần.

Thiếu ánh sáng có thể là một vấn đề riêng biệt đối với học sinh. “Bạn mang đứa trẻ chưa được nghỉ ngơi đủ, bỏ chúng trước trường nơi mà có rất ít ánh sáng tự nhiên, và đoán xem điều gì? Chúng sẽ bị mệt mỏi,” Tanner cho biết. Một cuộc nghiên cứu vào năm 1992 theo dõi học sinh Thuỵ-điển thuộc bốn lớp học khác nhau trong một năm. Cuộc nghiên cứu cho biết bọn trẻ trong những lớp học với ánh sáng ban ngày ít nhất thì làm ngăn lại mức cortisol, một loại hormone được điều chỉnh bởi nhịp sinh học 24 giờ của cơ thể.

Người ta cũng đã cho thấy lượng ánh sáng mặt trời đầy đủ sẽ cải thiện kết quả của học sinh. Năm 1999, nhóm Heschong Mahone, một nhóm tư vấn toạ lạc tại California chuyên về xây dựng những cấu trúc hiệu quả về mặt năng lượng, đã thu thập điểm số của những bài kiểm tra tiêu chuẩn về toán học và về môn tập đọc của hơn 21,000 học sinh tiểu học thuộc ba khu vực trường học của ba bang: California, Washington và Colorado. Dùng ảnh chụp, các bản vẽ kiến trúc, và đích thân thăm viếng, các nhà nghiên cứu đánh giá lượng ánh sáng ban ngày hiện hữu ở trong 2,000 lớp học theo thang điểm từ 0 đến 5. Tại một khu vực trường học – Capistrano, California – học sinh ở trong những lớp học sáng sủa nhất thì tăng 26% khả năng đọc nhanh và 20% trong việc làm toán nhanh trong thời gian một năm, so với những học sinh ở trong lớp có ít ánh sáng ban ngày. Ở hai khu vực kia, ánh sáng ban ngày dư dả làm tăng điểm số lên từ khoảng 7 đến 18%.

Các nhà nghỉ dưỡng cũng có thể là quá tối để có thể giữ được nhịp sinh học 24 giờ hoạt động bình thường. Trong một nghiên cứu công bố năm 2008, nhà thần kinh học Rixt F. Riemersma-van der Lek của Netherlands Institute for Neuroscience và đồng nghiệp đã chọn ngẫu nhiên 6 trong số 12 cơ sở vật chất hỗ trợ sinh sống tại Hà-lan để lắp đặt thêm vào thiết bị chiếu sáng, đưa độ sáng lên khoảng 1,000 lux; 6 khu kia được cung cấp hệ thống chiếu sáng mờ hơn vào khoảng 300 lux. Cuộc thí nghiệm diễn ra trong những khoảng thời gian sáu tháng suốt hơn ba năm rưỡi, các cư dân trong mấy toà nhà sáng sủa hơn có mức giảm về khả năng tri nhận ít hơn 5% so với những người trong sáu toàn nhà tối hơn. (Ánh sáng thêm vào cũng làm giảm triệu chứng trầm cảm lên đến 19%.) Những nghiên cứu khác cho thấy nhịp sinh học 24 giờ giữ cho bộ não hoạt động tối ưu , ví dụ như bằng cách định mức hormone và mức độ trao đổi chất.Những người già – đặc biệt là những nguời bị sa sút trí tuệ – thường có sự bế tắc chu kì sinh học 24 giờ. Các nhà nghiên cứu tin rằng cung cấp nhiều ánh sáng ban ngày có thể sẽ giúp phục hồi các nhịp thích hợp và do vậy sẽ cải thiện chức năng não bộ nói chung.

Bước sóng của ánh sáng cũng là điều cực kì quan trọng. Hệ thống tuần hoàn sinh học 24 giờ của chúng ta chủ yếu được điều tiết bởi ánh sáng có sắc xanh dương với bước sóng ngắn; Các tế bào nhận kích thích từ ánh sáng phản hồi đến các nhân trên chéo (suprachiasmatic nucleus), một phần của vùng dưới đồi (hypothalamus) vốn có chức năng điều tiết nhịp sinh học hàng ngày của chúng ta, và các tế bào này nhận và truyền hầu hết các xung thần kinh đến bộ não khi chúng phát hiện ra ánh sáng xanh. Ánh sáng bước sóng ngắn này – hiện diện trong ánh sáng mặt tròi –  cho bộ não và cơ thể biết rằng khi nào là ban ngày. (Ngược lại, các tế bào hình que và hình nón, vốn chịu trách nhiệm cho thị giác, sẽ hoạt động tối đa khi tiếp nhận ánh sáng xanh lục hoặc vàng-xanh lục.)

Các nhà nghiên cứu đề nghị dùng các diode phát ra ánh sáng xanh dương (LED) và ánh sáng huỳnh quang cho ra ánh sáng trắng tự nhiên (full spectrum) suốt thời gian ban ngày; cả hai loại ánh sáng đó đều có ánh sáng xanh dương để khởi động hệ thống sinh học tuần hoàn 24 giờ và giữ cho những người trong nhà thức tỉnh và nhanh nhạy. Sau khi trời tối, các toà nhà có thể chuyển sang dùng đèn và đồ đạc với những bóng đèn phát ánh sáng bước sóng dài hơn, những ánh sáng này ít phát ra ánh sáng mà hệ thống sinh học tuần hoàn 24 giờ có thể nhận biết được, và ít có thể can thiệp giấc ngủ ban đêm. “Nếu bạn đưa cho người ta một hệ thống ánh sáng mà tại đó người ta có thể phân biệt được giữa ngày và đêm, thì đó là một quyết định kiến trúc quan trọng,” Mariana Figueiro, giám đốc chương trình của Lighting Research Center tại Rensselaer Polytechnic Institute, cho biết.

Một căn phòng để thư giãn

Mặc dù ánh sáng nhiều có thể làm tăng sự tri nhận, công trình gần đây cho biết nó còn làm giảm đi sự thư giãn và sự cởi mở – các hệ quả mà có thể còn quan trọng hơn cả sự nhanh nhạy trong một số bối cảnh. Trong một nghiên cứu năm 2006, các nhà tư vấn phỏng vấn 80 sinh viên đại học từng cá nhân một trong căn phòng tối mờ hoặc căn phòng sáng trưng. Những sinh viên sau đó phải thực hiện bản liệt kê câu hỏi về phản ứng của họ đối với cuộc phỏng vấn. Các sinh viên đuợc phỏng vấn trong căn phòng tối mờ thì cảm thấy thư giãn hơn, cách nhìn nhận của họ đối với người tư vấn cũng tích cực hơn và chia sẻ nhiều thông tin về bản thân họ hơn so với những sinh viên được tư vấn ở căn phòng sáng trưng kia. Những phát hiện đó hàm ý rằng ánh sáng tối mờ giúp cho con người ta thả lỏng mình. Nếu điều đó đúng, thì việc giữ ánh sáng ở cường độ thấp trong suốt buổi ăn tối hay ở những bữa tiệc có thể thúc đẩy sự thư giãn và tính thân mật.

Tương tư vậy những thứ bên trong căn phòng có thể mang tính êm ả – hoặc ngược lại. Nhà thần kinh học Moshe Bar của Harvard Medical School và người sau này thành trợ lí của ông, Maital Neta, đã cho các đối tượng tham gia thí nghiệm thấy những bức ảnh của những phiên bản đồ vật trung tính khác nhau, như cái ghế bành hay đồng hồ. Các hình mẫu của mỗi món đó đều giống nhau ngoại trừ một số cái có góc cạnh uốn lượn hoặc được bo tròn, trong khi những cái khác thì có những cạnh trông sắc bén và vuông vức. Khi được yêu cầu để đưa ra những đánh giá tức thời về những món đồ này, thì những người tham gia thí nghiệm có vẻ ưa chuộng những món có những đường cong hơn. Bar cho rằng sự ưa chuộng này tồn tại vì chúng ta liên hệ những góc cạnh sắc nhọn với sự nguy hiểm. (Bộ não có thể nhận thức được mức độ nguy hiểm hơn, ví dụ, từ cái hang động có nhiều tảng đá nhọn lởm chởm nhô ra khỏi tường đá, so với cái hang có những tảng đá được bo tròn cũng nhô ra khỏi tường đá.) “Có lẽ cái vẻ sắc nhọn bên ngoài được bộ não mã hoá thành những mối đe doạ đầy tiềm năng,” ông cho biết.

Bar cung cấp bằng chứng cho lí thuyết này trong nghiên cứu năm 2007, trong nghiên cứu đó những người tham gia thí nghiệm xem một dãy các vật trung tính – lần này trong khi bộ não của họ được quét bằng phương pháp chụp cộng hưởng từ chức năng (functional magnetic resonance imaging). Nhà thần kinh học phát hiện ra rằng hạch hạnh nhân (amygdala), vốn liên hệ đến quá trình xử lí nỗi sợ hãi và khơi gợi cảm xúc, sẽ hoạt động mạnh hơn khi con người nhìn vào vật thể có những góc nhọn. “Những nền móng cơ sở thật ra nằm sâu trong bộ não chúng ta,” Bar giải thích. “Những đặc điểm về thị giác vô cùng cơ bản truyền tải cho ta biết lượng thông tin ở múc cao hơn như ‘Báo động đỏ!’ hoặc ‘Thư giãn đi, mọi thứ êm rồi, chả có mối đe doạ nào trong khu vực.’” Ông thừa nhận rằng những đường nét bên ngoài của vật thể không chỉ là yếu tố duy nhất tác động lên sở thích mĩ học của chúng ta, và nghiên cứu của ông vẫn còn trong giai đoạn sơ khởi. Nhưng nếu mọi thứ đều như nhau, việc lấp đầy phòng khách và phòng chờ bằng những món đồ nội thất có góc cạnh bo tròn và uốn cong có thể giúp cho các vị khách được thoải mái.

Sự lựa chọn đồ nội thất cũng có thể gây ảnh hưởng lên việc con người tương tác với nhau. Một số nghiên cứu về tâm lí học môi trường tập trung vào những bản phác thảo chỗ ngồi trong những khu chăm sóc sức khoẻ cư dân; các nhà khoa học khám phá ra rằng cái lối thông thường khi sắp đặt những chiếc ghế dọc theo bức tường trong những căn phòng tập thể hoặc những phòng khách thật sự ngăn chặn việc hoà nhập. Những nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng bản phác thảo tốt hơn nhằm khuyến khích sự tương tác lẫn nhau chính là sắp xếp các món đồ nội thất thành từng nhóm nhỏ rải rác khắp căn phòng. Một nghiên cứu năm 1999 thực hiện bởi các nhà tâm lí học của trường Otto-von-Guericke University of Magdeburg ở Đức và Uppsala University ở Thuỵ-điển đã xem xét việc sắp chỗ ngồi theo một cách khác. Suốt tám tuần và hơn 50 bài học, các nhà nghiên cứu xoay chuyển một phòng học lớp bốn theo hai cách sắp: thành những hàng ghế và sắp ghế theo một hình cung nửa vòng tròn xung quanh người giáo viên. Cách hiệu chỉnh theo nửa vòng tròn làm tăng khả năng tham gia của học sinh, đẩy số lượng câu hỏi của học sinh lên. Những nghiên cứu khác chỉ ra rằng việc xếp ghế theo từng hàng khuyến khích học sinh làm việc độc lập và cải thiện hành vi ứng xử trong lớp.

Ttấm thảm lót  cũng có thể làm cho các mối quan hệ xã hội diễn ra trơn tru hơn. Ở bệnh viện, thảm lót sàn làm tăng lượng thời gian viếng thăm của bạn bè và gia đình bệnh nhân, theo một nghiên cứu năm 2000 với người dẫn đầu chương trình nghiên cứu là chuyên gia thiết kế về chăm sóc sức khoẻ Debra Harris, hiện đang là chủ tịch và CEO của RAD Consultants ở Austin. Những bằng chứng về mặt xã hội như thế cuối cùng có thể đẩy nhanh việc chữa trị. Dĩ nhiên là tấm thảm thì khó lau chùi hơn loại sàn bệnh viện truyền thống – và có thể có nguy cơ về sức khoẻ trong một số khung cảnh – do vậy nó có thể không thích hợp tại những nơi như phòng cấp cứu là nơi mà có lượng bệnh nhân thay đổi khá cao và có nhiều thứ bừa bộn. Nhưng những căn phòng, toà nhà hay những phân khu dành làm nơi ở của các bệnh nhân dài hạn, như các khu cơ sở vật chất hỗ trợ sinh sống, thì có thể hưởng lợi từ những tấm thảm.

Gần đây các nhà khoa học tập trung chủ yếu vào những toà nhà công cộng, như bệnh viện, trường học, cửa hàng. Do vậy, một người chủ hộ có hứng thú về việc tăng cường trí óc của mình thông qua thiết kế thì phải làm một số chuyện ngoại suy. “Chúng ta có số lượng sinh viên rất giới hạn, do vậy chúng ta phải nhìn vào vấn đề thông qua một cái ống hút,” Allison của Clemson cho biết. “Giờ chúng ta cần tìm thêm nhiều mẫu hình chung nữa. Làm thế nào bạn lấy những câu trả lời cho những câu hỏi rất cụ thể mà tạo ra được công dụng rộng rãi và phổ quát? Đó là cái mà tất cả chúng tôi đang nỗ lực thực hiện.”

Nỗ lực đó nên đạt hiệu quả, các chuyên gia tin thế, bởi khi các nhà thiết kế tạo ra những toà nhà mà để tâm đến tâm thức con người thì những người cư ngụ sẽ hưởng lợi. Những khu chăm sóc đặc biệt dành cho bệnh nhân Alzheimer mà được thiết kế tốt thì làm giảm những mối lo âu, giận dữ, sự thoát li xã hội,  trầm cảm và chứng rối loạn tâm thần, theo một nghiên cứu năm 2003 thực hiện bởi Zeisel và đồng nghiệp. Và thiết kế cho trường học có thể tạo ra 10 đến 15% sự khác biệt về điểm số của học sinh tiểu học khi làm bài kiểm tra tiêu chuẩn về kĩ năng đọc và toán, một báo cáo năm 2001 thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của trường University of Georgia cho biết.

“Nhờ vào các tiến bộ của ngành thần kinh học, chúng ta có thể bắt đầu đo lường những hiệu ứng của môi trường ở mức chi tiết hơn trước đây,” Edelstein của trường University of California, San Diego cho biết. “Chúng ta có thể hiểu được môi trường hơn, chúng ta có thể hiểu được phản ứng của chúng ta tốt hơn, và chúng ta có thể tạo ra mối tương quan giữa chúng với kết quả đạt được. Tôi thật sự thấy ớn lạnh khi nghĩ về điều này.”


Chú thích:

[1] Nơi cư ngụ của những người mắc bệnh sa sút trí tuệ có thể có vài yêu cầu kiến trúc đặc biệt. Ví dụ, những người lớn tuổi có những tổn hại về khả năng tri nhận thường cố thoát khỏi khu cơ sở vật chất hỗ trợ sinh sống, và cuối cùng là bị lạc, nhiễm lạnh hoặc tệ hơn. Một giải pháp vô cùng dễ hiểu và gây ngạc nhiên cho vấn đề này: nguỵ trang những lối thoát ra ngoài. Đặt những cánh cửa mà được dùng để ra ngoài dọc theo, thay vì đặt ở cuối, hành lang, thu nhỏ kích cỡ của dòng chữ “exit”, phủ vải lên những nắm đấm cửa và biến cái cửa thành một khối đặc (không có cửa sổ nhìn ra ngoài), điều này làm giảm đi những nỗ lực rời khỏi nhà của những người cư ngụ bên trong. Năm 2003, John Zeisel, một nhà xã hội học và cũng là chủ tịch và đồng sáng lập Hearthstone Alzheimer Care có cơ sở vật chất toạ lạc tại Massachusetts và New York, đã nghiên cứu tổng cộng 427 cư dân tại 15 khu chăm sóc đặc biệt khác nhau dành cho những người mắc bệnh Alzheimer. Zeisel và đồng nghiệp đã nêu ra mối tương quan giữa sự vận hành tâm lí của những cư dân này (được đo đạc bằng nhiều cách đánh giá được tiêu chuẩn hoá) với những đặc tính khác nhau của môi trường vật lí mà họ sống. Trong số những phát hiện khác, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những ai sống trong những khu cơ sở vật chất với những lối thoát được nguỵ trang kĩ càng thì có ít triệu chứng trầm cảm hơn những người sống ở những căn nhà có cửa thoát lộ liễu. Zeisel ước tính rằng những dưỡng đường có những cửa thoát kín đáo thì các nhân viên sẽ bớt lo lắng hơn về sự an toàn của bệnh nhân và sẽ tạo ra nhiều tự do và quyền tự chủ hơn cho những người sinh sống trong đó, từ đó tâm trạng của những bệnh nhân cũng được nâng lên.


Những cửa thoát ra ngoài được ngụy trang như những cái này ở nhà của những bệnh nhân Alzheimer có thể cải thiện tâm trạng của những cư dân đó.
(hình lấy từ tạp chí Scientific American Mind, số tháng 4/5/6 năm 2009, trang 58)

Nguỵ trang lối thoát ra ngoài chỉ là một sự can thiệp vào môi trường sống nhằm giúp những công dân lớn tuổi bị sa sút trí tuệ, Zeisel cho biết. Ví vụ, những bệnh nhân có trí nhớ suy yếu sẽ gặp khó khăn để hình thành những tấm bản đồ tri nhận về môi trường sống của họ, đăng lên một loạt những tấm ảnh ở lối đi hành lang sẽ giúp bệnh nhân tìm đường đi. Và việc giúp họ định vị các hành lang theo đó có thể làm giảm nỗi thống khổ, sự giận dữ và nỗi lo âu của họ, theo như Zeisel cho biết. “Rất nhiều cái được gọi là triệu chứng của bệnh Alzheimer là kết quả của các nhân tố môi trường vốn không phù hợp với nhu cầu con người,” ông khẳng định.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
20110730.



Nguồn:

Anthens, Emily. “Building around the Mind.” Scientific American Mind, April/May/June 2009: 52-59.

Advertisements

3 comments on “Emily Anthes – Xây dựng phục vụ cho tâm thức con người

  1. Pingback: Helmut Leder – Tư duy theo thiết kế « Chiếc nón

  2. Bài báo khoa học trên cung cấp nhiều thông tin thú vị,các nghiên cứu khoa học về tương quan giữa nhu cầu con nguời và môi trường chung quanh cho thấy việc xây và ở là một,không thể tách rời như triết gia Heidegger quan niệm.Việc xây không nên quan niệm cứng nhắc là chỉ là dựng lên những công trình sang trọng,tiện nghi mà bản thân việc xây chính là việc ở,phải tương hợp với những nhu cầu tự nhiên của con người.Điều này cho thấy tầm quan trọng của ngành kiến trúc đối với đời sống của con nguời.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s