J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của con mắt

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của con mắt

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh


Điều cốt yếu của câu hỏi liên quan ở đây được chứa đựng trong một câu nói của Plotinus, rằng con mắt sẽ có thể nhìn thấy được mặt trời nếu như, theo đặc tính, con mắt đó bản thân không phải là mặt trời. Căn cứ vào việc mặt trời là nguồn sáng và ánh sáng đó biểu tượng cho trí óc và tinh thần, thì cái quá trình thấy sẽ biểu trưng cho một hành vi tinh thần và là biểu tượng cho sự thông hiểu. Do vậy, “con mắt thần linh” của người Ai-cập – một kí hiệu mang tính quyết định  cho bộ chữ tượng hình đuợc gọi là Wadza – biểu thị “Người mà nuôi dưỡng ngọn lửa thiêng liêng hoặc trí óc của Loài người” [1] – thực ra là thần Osiris. Cũng cực kì thú vị, là cái cách mà người Ai-cập định nghĩa con mắt – hoặc, thay vào đó, là hình tròn của tròng đen với con ngươi ngay trung tâm – là “mặt trời ở trong miệng” (hoặc là Thế giới sáng tạo) [2].

René Magritte, một hoạ sĩ siêu thực, đã minh hoạ mối quan hệ y như vậy giữa mặt trời và cái miệng bằng một trong những bức tranh thu hút nhất của ông ta. Sự chiếm hữu của đôi mắt truyền tải cái tính chất bình thường thuộc về cơ thể và một thứ tương đương vậy về mặt tinh thần, và sự chiếm hữu đó là kết quả của sự việc con mắt thứ ba là biểu tượng của siêu nhân hoặc là của thần linh. Về một con mắt đơn lẻ, thì sự tạo nghĩa của nó có tính hai chiều: một mặt nó hàm ý về bọn người thấp hèn bởi vì một con mắt thì ít hơn hai (hai con mắt tương đồng với hình thái chuẩn mực); nhưng mặt khác, vì vị trí của nó nằm ở trán, phía trên khu vực vốn đuợc dành cho đôi mắt tự nhiên, nên nó dường như ám chỉ đến những quyền năng phi thường mà thật ra – trong thần thoại – chính là hoá thân của bọn Cyclop. Cùng lúc đó con mắt ở trán được liên hệ với ý niệm về sự huỷ diệt, vì nguyên do rõ ràng trong trường hợp của con mắt đơn lẻ; nhưng nguyên do y vậy cũng được áp dụng khi có một con mắt thứ ba ở ngay trán, như là thần Siva (hay Shiva) vậy. Điều này được giải thích bằng cách tham chiếu đến một trong những khía cạnh về tính biểu tượng của con số ba: vì nếu như người ta nói rằng số ba tương ứng với tính chủ động, bị động và trung tính, thì nó có thể được áp dụng vào sự tạo hoá, sự bảo tồn và sự huỷ diệt. Đôi mắt khác thường có sự tương đương mặt tinh thần đối với khả năng nhìn thấy tương lai. (Đôi mắt khác thường là những con mắt được chuyển dịch về mặt sinh học đến những phần khác nhau của cơ thể, như là ở trên đôi tay, hai cánh, thân mình, cánh tay và những phần khác nhau của cái đầu, theo hình tượng của những sinh vật huyền ảo, những thiên thần, những vị thần linh, v.v.) Ví dụ khi đôi mắt toạ lạc trên bàn tay, bằng việc liên hệ với tính biểu tượng của bàn tay thì chúng biểu thị cho hành vi nhìn thấu tương lai.

Việc có nhiều con mắt hơn bình thường có một sự tạo nghĩa hai chiều quan trọng cần phải chú ý. Đầu tiên, đôi mắt ý chỉ đến ban đêm với những chùm sao, thứ nhì, mang tính nghịch lí nhưng lại cần thiết, người sở hữu nhiều con mắt sẽ bị bỏ lại trong bóng đêm. Hơn nữa, bằng phương thức xác nhận, chúng ta hãy nhớ lại rằng trong lí thuyết biểu tượng thì đa nguyên luôn là kí hiệu của tình trạng thấp kém. Tính hai chiều như thế rất thường gặp trong địa hạt của vô thức và của những hình ảnh phản chiếu của nó. Bài học bổ ích cho sự liên kết này là ví dụ về Argus, là người không thể trốn thoát được cái chết cùng với tất cả những con mắt của ông ta. Kẻ thù (The Adversary, tức Satan trong tiếng Do-thái cổ) được tượng trưng theo nhiều cách, trong số đó là một hữu thể với nhiều con mắt. Một ví dụ, lá bài Tarot trong Cabinet des Estampes tại Paris (Kh. 34d) mô tả quỉ dữ là Argus với nhiều con mắt trên khắp cơ thể hắn. Một phương pháp biểu tượng đối chiếu khác được tìm thấy thông thường ở trong những hình tượng về ma quỉ: nó bao gồm việc lấy đi phần nào đó của cái cơ thể đang sở hữu, như nó từng, một kiểu tự trị nhất định của đặc điểm hoặc của cái nào mà có liên hệ trực tiếp với một chức năng rõ ràng, và bao gồm cả việc khắc hoạ nó thành một gương mặt. Nhiều gương mặt và nhiều con mắt hàm chứa sự tách rời ra hoặc sự thối rữa tâm thức – một khái niệm vốn nằm ngay gốc rễ của ý niệm ma quỉ về hành động xé toạt ra thành từng mảnh [3]. Cuối cùng, quay trở lại với ý nghĩa thuần khiết của chính bản thân con mắt, Jung coi nó như là bộ ngực của người mẹ và con ngươi là ‘đứa con’ của nó. (*) Do vậy vị thần mặt trời vĩ đại lại trở thành một đứa trẻ, tìm kiếm sự phục hồi tại bộ ngực của người mẹ (đối với người Ai-cập, là biểu tượng của cái miệng) [4].



Chú thích của người dịch sang tiếng Anh:

(*) Ý niệm Jung được trình bày bằng lối chơi chữ. ‘Niña’ mang hai nghĩa ‘daughter’ (con gái) và ‘pupil (of the eye)’ (con ngươi). Cụm ‘Niña de los ojos’ giống bên tiếng Anh ‘apple of one’s eye’, đã đưa ra một điều gì đó của cảm giác về sự chơi chữ.


Nguyên chú của tác giả:

[1] GUÉNON, René. Le roi de monde. Paris, 1950.

[2] B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835.

[3] WIRTH, Oswald. Le Tarot des imagiers du Moyen Age. Paris, 1927.

[4] JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1951.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
20110731

Nguồn:

Cirlot, J. E. “Eye.” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s