Helmut Leder – Tư duy theo thiết kế

Helmut Leder

Tư duy theo thiết kế

Duy Đoàn chuyển ngữ


Một ngành khoa học về những vẻ đẹp thường ngày hé lộ cho ta biết cái mà con người thật sự thích – và lí do tại sao.

Đi dọc theo con đường nằm trong khu dân cư vào một buổi chiều, bạn có thể thấy mình đang lướt mắt qua những khung cửa sổ sáng choang khi đi qua những ngôi nhà. Khi bạn nhìn vào trong, bạn bắt gặp một nguồn cung cấp đồ dùng cho mọi người: một cái ghế nệm dài với đồ gác tay uốn cong trong một ngôi nhà, một cái trường kỉ bằng da bóng loáng và những bức tranh theo trường phái tối giản hoá (minimalist) trong một ngôi nhà khác.

Khiếu thẩm mĩ của mỗi người dường như khác nhau, và hơn nữa cái cảm quan đó đi ngược lại với việc có nhiều sở thích được chia sẻ cùng nhau. Nhóm chúng tôi tại University of Vienna, nằm trong số những nhóm khác, đã đi tìm cách làm sáng tỏ những mẫu hình và nguyên lí đằng sau những phản ứng cảm xúc của con người đối với đồ vật. Mặc dù xu hướng dẫn tới những lựa chọn thiết kế nhất định nào đó, nhưng các nhà khoa học đã xác định được những đặc điểm nền tảng của tâm thức hay chi phối xu hướng của con người trong việc thích hay không thích sản phẩm nào. Các nhà tâm lí học giờ đây được trang bị tốt hơn bao giờ hết để giải thích làm thế nào bạn đi đến việc chọn những món đồ đó ngay từ ban đầu. Họ cũng có thể bắt đầu từ việc giải mã lí do tại sao bạn tiếp tục yêu thích những món đồ đó dù rất lâu sau đó khi chúng đã mất đi vẻ sáng ngời ban đầu, trong khi đó ở nơi khác thì chúng ở trong thùng rác rồi.

Sở thích chúng ta không chỉ dễ đoán được, mà chúng còn rất linh hoạt. Bằng cách dùng những thao tác đơn giản, các nhà nghiên cứu có thể quan sát bạn điều chỉnh lại khả năng đánh giá mĩ học của bạn chỉ trong vài phút. Cái ý tưởng thiết yếu đó lộ diện vào cuối thập niên 1960, khi nhà tâm lí học quá cố Robert B. Zajonc, sau này thuộc truờng University of Michigan, ở Ann Arbor, đề xuất hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên (mere exposure effect): thấy một vật gì đó lặp đi lặp lại – một cái trường kỉ, một chiếc xe hoặc một ấm café – sẽ làm tăng lên tính thu hút của nó. Nhưng sự lặp lại sẽ dẫn đến nhàm chán, những nghiên cứu gần đây cho biết vậy, và do đó dẫn đến việc chúng ta nâng cao sự đánh giá của mình về những thiết kế mới và khác biệt. Chúng ta phần lớn có thể để mất đi niềm hứng thú của mình về vẻ ngoài của món đồ, mặc dù chúng ta từng cho rằng cái vẻ đó là mọi thứ trên đời

Hình 1.
Những sở thích về mẫu thiết kế của từng người có thể hình thành sự lựa chọn của họ cho các vật trang hoàng ở phòng khách. hưng các nhà khoa học đang dần hé lộ ra tâm lí chung nhằm giải thích khiếu thẩm mĩ của người tiêu dùng.

To và tròn trịa

Các nhà thiết kế sản phẩm từ lâu đã muốn biết những đặc điểm hình ảnh nào có năng lực thu hút chúng ta hoặc làm chúng ta từ bỏ nó. Các nhà khoa học nêu ra câu hỏi đó đã xác định được một số ít những hướng dẫn để làm điểm khởi đầu. Ví dụ, họ phát hiện ra rằng con người thích những đồ vật to lớn hơn những món đồ nhỏ, mặc dù chẳng ai dám chắc được lí do tại sao. Mọi người cũng có xu hướng chọn những mẫu hình tròn trịa hơn là những hình dáng sắc nhọn. Trong một nghiên cứu công bố năm 2006, các nhà thần kinh học Moshe Bar và Maital Nera, cả hai đều thuộc trường Harvard Medical School, đã báo cáo rằng hầu hết các khách hàng thích những chiếc ghế sofa có dáng cong cong hơn, và xem xét kĩ lưỡng những chiếc ghế sofa có kiểu thiết kế góc cạnh. Một năm sau, họ đưa ra lời giải thích. Họ quan sát rằng những mẫu hình sắc nhọn làm kích hoạt các neuron nằm ở trung khu gây cảm giác sợ hãi của bộ não – vùng hạch hạnh nhân (amygdala) – mạnh hơn những vật có hình dạng tròn trịa, bởi vì có lẽ các vật góc cạnh như gai nhọn hay dao là những dấu hiệu của sự nguy hiểm [xem thêm bài “Building around the Mind,” của Emily Anthes, SCIENTIFIC AMERICAN MIND, April/May 2009].

Hình 2.
Con người hướng tới những hình dạng tròn trịa có lẽ vì những vật sắc nhọn như gai báo hiệu sự nguy hiểm

Con người cũng hay bị thu hút bởi tính đối xứng. Đồ gốm Trung-hoa cổ đại và những bức hoạ phương Tây thế kỉ 20 đều giống nhau ở chỗ trưng bày ra những hình dạng và kiểu mẫu đối xứng. Người ta biết rằng con người ưa chuộng những gương mặt cân đối hơn, hình dạng gương mặt đó có thể cho biết về tình trạng sức khoẻ và khả năng sinh sản tốt. Trong một chuỗi những nghiên cứu thì nhà tâm lí học Thomas Jacobsen của trường University of Leipzig ở Đức và những đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng tính đối xứng là điểm tiên báo mạnh mẽ nhất cho những đánh giá về cái đẹp trong số những người tình nguyện được yêu cầu đánh giá những hình dạng cơ bản hoặc những kiểu mẫu trừu tượng.

Những yếu tố khác, như tính phức tạp của đồ vật, có thể làm tăng lên vẻ hấp dẫn thị giác. Chúng ta thường thấy những thứ phức tạp thì đẹp hơn những thứ đơn giản, trong đó tính phức tạp được định nghĩa là số lượng thành phần làm nên bức ảnh hoặc hình dáng nào đó. Trong một nghiên cứu năm 2009, nhà tâm lí học Pablo P. L. Tinio, hiện đang thuộc trường Queens College, City University of New York, và tôi đã đưa ra những tài liệu về việc làm thế nào mà cả tính đối xứng lẫn tính phức tạp lại là đặc điểm nổi trội trong những đánh giá về cái đẹp của con người. Chúng tôi đã yêu cầu 16 sinh viên tâm lí học tại trường University of Vienna đánh giá sự hấp dẫn của 160 mẫu thiết kế hai chiều trắng-đen được nhóm thành bốn danh mục: đối xứng phức tạp, bất đối xứng phức tạp, đối xứng đơn giản, và bất đối xứng đơn giản [xem hình 3]. Xác nhận cho những nghiên cứu trước về tính đối xứng và phức tạp, thì những kiểu mẫu đối xứng phức tạp được đánh giá là đẹp nhất. Những kiểu mẫu đối xứng đơn giản nhận được đánh giá cao thứ nhì, cho thấy rằng tính đối xứng quan trọng hơn tính phức tạp trong cảm nhận của chúng ta về cái đẹp. Kết quả cũng ủng hộ cho ý tưởng kết hợp tính đối xứng và tính phức tap sẽ đạt được thang điểm đánh giá về cái đẹp cao hơn khi tách hai yếu tố đó ra riêng biệt.

Hình 3.
Con người chuộng những mẫu hình phức tạp hơn là những mẫu đơn giản. Họ cũng cho rằng đối xứng là đẹp. Do vậy, những đối tượng tham gia thí nghiệm thích nhất những mẫu thiết kế phức tạp và đối xứng (bên trái trên cùng) trong số bốn mẫu này.

Khu vực của sự thoải mái

Một yếu tố tinh vi khác ảnh hưởng lên cách đánh giá mĩ học của chúng ta là sự nhận thức thâm căn cố đế về cái đẹp của nguyên mẫu, vốn được xác định như là trung bình thống kê của toàn bộ các mẫu vật của sản phẩm hay món đồ đó. Bởi vì nguyên mẫu tương đồng với nhiều mẫu vật khác nhau của một loại, nên nó dường như quen thuộc với chúng ta mặc dù thực chất nó là mới. Do vậy, người ta hay bị thu hút bởi những gương mặt “trung bình” – những gương mặt là kết quả từ sự kết hợp toán học, có thể là, của mười hai gương mặt, tạo ra những tỉ lệ về mũi, miệng, và mắt, cũng như khoảng cách giữa những đặc điểm này, và những gương mặt đó trùng khớp với trung bình cộng của vật mẫu. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng chúng ta có xu hướng thích những qui tắc mĩ học nói chung, bao gồm vẻ bề ngoài của món đồ nội thất, những tác phẩm hội hoạ và thậm chí những mẫu hình các dấu chấm vô nghĩa.

Một số nhà nghiên cứu đã lí thuyết hoá vấn đề liên quan đến những gương mặt cân đối, thì những kiểu mẫu đó tạo sự thoả mãn vì chúng không trưng ra những điểm lồi lõm gây phản cảm – phần mở rộng ra cho sở thích chúng ta về con người và thú vật có vẻ ngoài khoẻ mạnh. Nhưng các nhà tâm lí học tri nhận cho biết một lời giải thích khác, đó là, những gương mặt hay những đồ vật điển hình hơn thì dễ dàng nhận ra hơn, đưa ra ưu điểm thuận lợi để kích thích trung khu nhận dạng của bộ não. Trong một nghiên cứu công bố năm 2001 các nhà tâm lí học Piotr Winkielman, đang làm việc tại University of California, San Diego, và John T. Cacioppo của University of Chicago đã cho 16 tình nguyện viên xem 20 bức tranh trắng đen về các vật, như con ngựa, con chó, con chim, cái nhà hay máy bay, họ đã làm cho chúng trở nên dễ nhận biết và khó nhận biết hơn. Trong khi đó những người tham gia thí nghiệm đánh giá xem họ thích bức hình đó nhiều cỡ nào. Để đo lường phản ứng cảm xúc của những người tham gia, các nhà nghiên cứu đã ghi hình lại hoạt động của các cơ mặt bằng điện cơ đồ (electromyogram). Winkielman và Cacioppo phát hiện rằng món đồ càng dễ nhận dạng thì những người tham gia càng thích nó – và những hoạt động cơ mặt dùng để cười được ghi nhận nhiều hơn. Kết quả cho biết rằng việc dễ dàng nhận dạng là một yếu tố quan trọng để có thể có cảm giác thích thú.

Nhưng quyền năng của các kiểu mẫu có thể phụ thuộc vào bối cảnh vì các hình dạng có thể đùa giỡn với cảm xúc chúng ta. Trong một nghiên cứu năm 2010 Winkielman và đồng nghiệp khảo sát xem các kiểu mẫu có thể làm con người ta dịu lại được không, bằng cách điều chỉnh tâm trạng của 16 sinh viên đại học. Họ khiến một số có tâm trạng tốt bằng cách yêu cầu những người đó nói về những trải nghiệm vui vẻ và số khác thì bị đưa vào tình trạng âu sầu hơn khi họ được yêu cầu nhớ lại những chuyện buồn. Theo các nhà nghiên cứu lí giải, nếu sự tương đồng đem lại sự thoải mái và cảm giác an toàn, thì nó phải đặc biệt có sự thu hút khi một người nào đó đang xuống tinh thần. Nhóm của Winkielman cho những người tham gia thí nghiệm xem 14 mẫu hình các dấu chấm theo ngẫu nhiên, toàn bộ những biến thể của một kiểu mẫu, và tiếp sau là chuỗi các mẫu hình khác, trong đó một số hình những người đó đã thấy rồi, còn một số thì chưa.Trong mỗi trường hợp, những người tham gia đánh giá mức độ thích cho các mẫu hình.

Những người buồn bã thì chuộng, và mỉm cười, những hình ảnh mà họ đã từng thấy hơn, cũng như những kiểu mẫu đã từng thấy. Nhưng những người vui tươi phản ứng khác: họ không thích những hình mẫu mà họ nhận ra cũng như cũng không cho thấy ứng đáp cảm xúc tích cực. Họ cũng không cảm thấy những hình kiểu mẫu thu hút được họ. Những nhà nghiên cứu kết luận rằng những dạng quen thuộc đem lại sự vững tin và an toàn khi tâm trạng con người báo hiệu cho biết về một khung cảnh bất an. Bởi vì những người vui vẻ không khao khát sự thoải mái đó, nên những thiết kế hiệu dụng dường như chỉ là một bức tranh nhiều mảnh hơn là trông đẹp đẽ.

Món mới, món cũ

Nhưng bạn không cần phải cứ khăng khăng thích những tính chất mới mẻ. Năm 2003, một đội ngũ mà dẫn đầu là Paul Hekkert, giáo sư lí thuyết hình thái của trường Delft University of Technology ở Hà-lan, đã báo cáo về quá trình yêu cầu ba nhóm tình nguyện viên, 79 tất cả, đánh giá những thiết kế khác nhau của máy chà nhám điện, ấm đun nước, điện thoại và xe hơi về tính độc đáo và vẻ đẹp, cũng như đánh giá xem chúng trông điển hình ra sao. Những người tham gia đánh giá những mẫu mã thông thường nhất thuộc dạng ít thu hút nhất, với chút ít phản ứng nồng nhiệt với những đồ vật có hình dạng khác thường mà mục đích sử dụng của chúng thì không rõ ràng. Điểm cao nhất thuộc về những mẫu thiết kế ghép đôi tính độc đáo với hình dạng cổ điển – ví dụ, các kiểu mẫu mang đặc điểm khác thường. Nói cách khác, những sản phẩm phổ thông nhất sẽ trông mới mẻ khi giữ lại được cảm giác quen thuộc, một qui luật mà nhà thiết kế người Mĩ Raymond Loewy gọi là “tân tiến nhất mà chấp nhận được.”

Hình 4.
Các nghiên cứu cho biết hầu người mọi người đều chọn các mẫu thiết kế mang hơi hướm tính độc đáo nhưng vẫn dựa trên những hình dạng cổ điển.

Các nhà thiết kế sản phẩm có thể kết hợp theo trực giác tính hiệu dụng với cái mới. Ví dụ, các nhà sản xuất xe hơi thường cố duy trì tính liên tục các mẫu thiết kế với mục đích nhận dạng thương hiệu. Trong một số trường hợp, một nhãn hiệu thậm chí đạt được “trạng thái” nhận dạng được: các nhà thiết kế của mẫu xe Aston Martin DB7 hiện nay giữ lại vẻ mặt tinh quái của chiếc xe James Bond kinh điển thời thập niên 1960. Nhưng các nhà sản xuất cũng chỉnh lại mấu thiết kế với những tinh chạm rải rác đây đó để giúp người mua tránh được sự nhàm chán – ví dụ, chiếc Aston Martin và chuỗi BMW 7 kiểu mới có đèn pha là những “con mắt” có hồn hơn, với con ngươi và tròng đen được thêm vào. [1]

Con người thích sự mới mẻ ở một sản phẩm đặc thù nào đó nhiều đến mức nào – hay là việc con người dễ chán mẫu thiết kế ra sao – có thể phụ thuộc vào mức độ anh ta hay cô ta biết về sản phẩm đó nhiều ra sao. Các chuyên gia có thể nắm được tính chất riêng biệt nhiều hơn là những người không chuyên. Hekkert và đồng nghiệp cho thấy rằng những người biết nhiều về xe hơi có xu hướng chuộng những mẫu thiết kế độc đáo lạ thường. Mẫu mã càng cách tân, thì nó sẽ càng đẹp theo sự đánh giá của các chuyên gia. Những nghiên cứu tương tự về những người sành hội hoạ cho biết kiến thức tinh thông khiến cho con người thích những bức hoạ, những mẫu điêu khắc và những bức vẽ chì mang tính trừu tượng và thiên về ý niệm hơn so với những người nghiệp dư. Dường như là các chuyên gia thì dễ có cảm giác chán hơn.

Hiệu ứng chuyên môn, như chúng tôi lí giải, có thể bắt nguồn chính yếu từ việc cứ xem và đánh giá lặp đi lặp lại nhiều lần những dạng đồ vật nào đó. Trong một nghiên cứu công bố năm 2005, nhà tâm lí học Claus-Christian Carbon, hiện thời đang ở trường University of Bamberg tại Đức, và tôi đã phát hiện ra điều hậu thuẫn cho ý tưởng rằng việc đánh giá một sản phẩm cụ thể nhiều lần sẽ làm tăng lên niềm thích thú đối với những vật thể mới lạ và có tính cách tân. Chúng tôi trình ra cho 32 người thấy chín bức hình nội thất xe hơi tiêu biểu cho các mẫu thiết kế cổ điển và cách tân. Ở mỗi trường hợp, chúng tôi yêu cầu người xem đánh giá xem họ thích phần nội thất nhiều đến mức nào và nó trông mới mẻ ra sao theo thang điểm từ 1 đến 7. Để mô phỏng việc phơi bày lặp đi lặp lại, một nửa đối tượng tham gia thí nghiệm nhìn vào mỗi bức hình thêm 25 lần, mỗi lần thế đánh giá mức độ mà bức hình đó mang lại cho suy nghĩ của mình theo những tính từ khác nhau – kinh tởm, hay là hài lòng, thái quá, có phong cách hay có tính trang trí. Trong khi đó những người khác được thoát khỏi mấy bức hình, thay vào đó họ trả lời những câu hỏi địa lí không liên quan gì cả. Rồi sau đó chúng tôi hỏi lại từng người xem họ thích những mẫu thiết kế ra sao.

Ở vòng đánh giá đầu tiên, chúng ta thấy rằng phần nội thất cổ điển được chuộng nhất, một phát hiện tương thích với công trình trước của chúng tôi. Khi chúng tôi yêu cầu những người tham gia đánh giá mấy bức hình lần thứ hai, thì những ai đã thấy các mẫu nội thất đó một lần trước đó bị mắc kẹt với cảm nhận ban đầu của họ. Ngược lại, những người được cho xem lặp đi lặp lại mấy bức hình thì điều chỉnh sở thích của họ hướng đến những mẫu nội thất có tính cách tân hơn. Những dạng cổ điển đã mất đi vẻ quyến rũ của nó. Hiệu ứng này xảy ra khá nhanh – chỉ khoảng chừng 20 phút sau khi đuợc bày ra.

Đối với những người tiêu dùng, các phát hiện này cho biết rằng một người mua hàng mà có nhiều thông tin sẽ tốn một khoảng thời gian cho sản phẩm trước khi bỏ tiền ra – có lẽ là do việc lái thử một chiếc xe mới vài lần hay là việc đi thử đôi giày mới vài vòng. Thậm chí một tiếp xúc ngắn ngủi với một món đồ cũng sẽ phản ánh lại sở thích lâu dài của bạn tốt hơn phản ứng đầu tiên của bạn, và thực tế là bỏ thêm thời gian có thể sẽ hướng cách nhìn của bạn đến những sản phẩm mới mẻ và ngộ nghĩnh hơn. Về phần mình thì những nhà thiết kế có thể muốn tập trung vào việc thêm thắt những đặc tính độc đáo cho những món hàng chủ đạo mà người tiêu dùng sẽ sở hữu lâu dài.

Mùi vị của sự thất vọng

Kinh nghiệm không chỉ tác động lên lòng ham muốn cái mới của chúng ta mà còn tác động lên cảm giác yêu thích cái tính chất phức tạp. Trong nghiên cứu của chúng tôi năm 2009, Tinio và tôi cũng đã phát hiện ra rằng việc tiếp xúc quá nhiều trước vật thể phức tạp – trong trường hợp này là xem những mẫu thiết kế chi tiết chỉ có màu đen-trắng – thì sẽ tạo ra hệ quả tương phản. Sau khi cứ lặp đi lặp lại việc tiếp xúc những mẫu hình phức tạp thì những người tham gia đánh giá những mẫu đơn giản là những cái đẹp hơn; tương đương vậy, việc tiếp xúc quá nhiều những mẫu hình đơn giản sẽ khiến người ta chuộng mẫu phức tạp, và đó là yếu tố trên hết trong việc đánh giá sự quyến rũ. Mặt khác, tính đối xứng thì không bị ảnh hưởng bởi sự lặp lại – những người tham gia luôn thích những mẫu thiết kế đối xứng.

Ảnh hưởng từ kinh nghiệm lâu dài không giới hạn ở việc ta nhìn sự vật ra sao. Ngược lại với chủ điểm của các nhà thiết kế – và của hầu hết các nghiên cứu khoa học – thì cái vẻ ngoài không phải luôn luôn là điều tối ưu. Trong một nghiên cứu năm 2010, Hekkert và các nhà tâm lí học Anna Fenko và Hendrik N. J. Schifferstein, hai người sau ở Deft, họ yêu cầu 243 sinh viên tốt nghiệp tường trình lại những trải nghiệm của họ về một sản phẩm mua được gần đây – như là, một đôi giày, một cái máy in hay một cái máy pha cà-phê – trong lúc mua sản phẩm đó và sau tuần đầu tiên, tháng đầu tiên, và năm đầu tiên sở hữu và dùng nó. Các sinh viên đó tường trình về việc từng giác quan của họ đã góp phần nhiều như thế nào vào sự tương tác với sản phẩm.

Trung bình trải dài 93 sản phẩm khác nhau, những nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ảnh hưởng thị giác của món đồ là thứ mạnh mẽ nhất trong lúc mua hàng. Tuy vậy, sau khi dùng sản phẩm một tháng, thì cảm giác về xúc giác mà món đồ mang lại thế nào trở nên quan trọng hơn vẻ ngoài của họ, và sau một năm thì cái vẻ ngoài, cảm giác và âm thanh phát ra của sản phẩm được đánh đồng như nhau. Những tác giả các công trình nghiên cứu kết luận, “Để tránh sự thất vọng của người tiêu dùng thì các nhà bán lẻ nên nghĩ cách phô bày ra những thuộc tính phi thị giác của sản phẩm ở giai đoạn mua hàng (con chuột máy tính cảm giác ra sao, cái máy pha cà-phê tạo tiếng ồn kiểu gì, v.v.)” Dĩ nhiên là vai trò của các giác quan khác nhau sẽ thay đổi theo sản phẩm – sau một năm thì thính giác là điều nổi bật nhất cho các sản phẩm công nghệ cao, trong khi đối với giày dép thì cảm nhận và vẻ ngoài của chúng được xem là quan trọng như nhau.

Hình 5.
Khi một người quyết định mua món gì đó, thì vẻ ngoài của sản phẩm là điều tối ưu. Tuy nhiên, sau một tháng dùng món đồ, thì đồ vật đó tạo ra cảm nhận về xúc giá thế nào lại là điều quan trọng hơn. Đối với giày thì sự thoải mái vẫn còn là điều quan trọng sau một năm.

Rất nhiều ảnh hưởng tác động lên phán xét mĩ học của chúng ta dường như làm cho việc tiên đoán mức độ hài lòng sau này của ta đối với một sản phẩm bất kì trở nên khó khăn. Nhưng nghiên cứu sẽ cho biết những hướng dẫn dễ hiểu dành cho người tiêu dùng theo dõi. Ví dụ như là, chúng ta nên xem xét cảm giác, âm thanh và thậm chí cả mùi nữa, của một món gì đó khi đang quyết định có nên mua hay không. Chúng ta nên nghĩ đến tâm trạng của mình tại thời điểm đó: Nó có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của ta về món đồ lạc hậu so với món đồ hiện đại?

Chúng ta có thể hơi lặp lại một chút phản ứng về món hàng tiềm năng nếu nó liên quan đến một sản phẩm mà chúng ta dự kiến sẽ sở hữu nó trong một khoảng thời gian. Và khi mua cho bạn mình, hãy ghi nhớ rằng người bạn đó của bạn có thể thích một món đồ mới mẻ hơn – hoặc không mới mẻ bằng – so với sở thích của bạn nếu kiến thức tinh thông của anh ta hay cô ta khác biệt lớn so với của bạn. Do vậy, lần tới bạn tự thấy mình sẽ âm thầm chốt lại ý kiến của mình về mẫu trang trí của người hàng xóm – và tự hỏi về những đồ vật cụ thể nằm trong đó – hãy nhớ rằng, ngược lại với câu thành ngữ xưa cũ, tuy chín người mười ý nhưng sẽ có một điểm chung nào đó.

[1] Phụ lục: Chiếc xe hơi có thể dòm lại bạn

Leonardo da Vinci đã lưu ý về những hình ảnh giống mặt người ở trong những món đồ, bằng cách nhìn thấy sự kết hợp giữa mắt-mũi-miệng trỗi lên từ những đường nét ngoại viên bức tường. Bạn có thể nhận ra gương mặt người ở trong đám mây, ở những cái cây hay ở những khung cảnh tĩnh lặng trong môi trường. Bởi vì bộ não chúng ta được kết nối với việc nhận dạng gương mặt, chúng ta có thể hình dung ra chúng hầu như bất kì nơi đâu. Một số nhà thiết kế xe hơi tận dụng hiện tượng này để cố tình tạo dáng mặt trước chiếc xe sao cho chúng mang “vẻ ngoài’ cụ thể. Một số chiếc xe hơi dường như có thể cười, trong khi những chiếc khác thì có thể chiếu những ánh nhìn hằn học. Bởi vì những gương mặt khơi gợi những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ hơn nhiều so với những vật thể không sống động, chèn “gương mặt” vào những sản phẩm tiêu dùng là một cách để thu hút người ta đến với món đồ một cách mạnh mẽ và độc đáo.

Chiến thuật này giờ đây được khoa học hậu thuẫn: chúng tôi gần đây phát hiện ra rằng con người xử lí phần trước hình gương mặt của chiếc xe giống như cách họ làm với gương mặt người. Năm 2010, cùng với đồng nghiệp tại University of Vienna, nhà nhân chủng học Sonja Windhager và những người khác, tôi tường trình lại việc theo dõi chuyển động của mắt của 25 người đàn ông và 25 phụ nữ trong khi họ xem cùng lúc những bức ảnh của một gương mặt và của một góc nhìn chính diện của một chiếc xe. Chúng tôi khám phá rằng con người quét qua chiếc xe với cùng một mẫu hình di chuyển của mắt như họ làm với gương mặt – đầu tiên, hướng cái nhìn của họ đến đèn pha, y như họ làm đối với đôi mắt của gương mặt, và rồi hướng đến cái lưới tản nhiệt, “cái mũi” của chiếc xe, và tới phần cửa hút vào phía bên dưới, cái tương tự với cái miệng.

Hình 6.
Những nhà sản xuất xe hơi có thể kiến tạo những chiếc xe có vẻ ngoài như khuôn mặt để thu hút người tiêu dùng. Vẻ ngoài thậm chí có thể là dấu hiệu của một thương hiệu: chiếc Aston Martin 1965 mà James Bond lái (hình trái) có vẻ mặt cười tinh nghịch giống như bạn đối tác hiện đại của nó (2002) (hình bên phải)

Khi được yêu cầu so sánh mắt, mũi, miệng và tai (hai cái kính hai bên) giữa gương mặt và chiếc xe, người ta di chuyển đôi mắt qua lại giữa các đặc điểm tương ứng, lướt nhìn từ cái đèn pha đến đôi mắt, từ cái lưới tản nhiệt đến cái mũi (hoặc thỉnh thoảng là cái miệng), và cứ thế, việc này chỉ ra rằng họ lí giải những bộ phận này của xe hơi với chức năng như các yếu tố trên gương mặt. Hơn nữa, như khi người ta có xu hướng tập trung vào đôi mắt của người khác hơn bất kì đặc điểm còn lại, thì những người tham gia thí nghiệm thường xuyên bị thu hút vào cặp đèn pha, dán mắt họ vào chúng cực kì nhiều lần. Những kết quả này cho biết những giả định về hình người của con người dường như chỉ lối cho cái cách thức mà ở đó họ xử lí thông tin về mặt hình ảnh đối với mặt trước chiếc xe hơi.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
20110827.


Nguồn:

Leder, Helmut. “Thinking by Design.” Scientific American Mind, July/August 2011: 42-47.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s