Erica Westley – Lợi thế song ngữ

 

Erica Westly

Lợi thế song ngữ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Nhiều bậc phụ huynh muốn con họ thông thạo thêm một ngôn ngữ thứ hai, nhưng chỉ có một số ít đứa trẻ ở đất nước này làm được điều đó. Chỉ có 9% số người lớn tại Hoa-kì thông thạo hơn một ngôn ngữ. Ở châu Âu thì con số đó gần 50%. “Hoa-kì còn lâu mới thành một xã hội đa ngôn ngữ giống như nhiều đối thủ kinh tế của chúng ta,” Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hoa-kì Arne Duncan nói thế tại một buổi họp về việc giáo dục ngoại ngữ vào tháng 12 vừa rồi.

Một phần vấn đề chính là việc các học sinh Mĩ không tiếp xúc thường với ngôn ngữ thứ hai mãi đến khi vào trung học, và thậm chí khi đó thì việc đào tạo ngoại ngữ cũng hiếm khi là chương trình bắt buộc. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em có thể học được ngôn ngữ thứ hai nếu chúng bắt đầu sớm, nhưng năm 2008 thì chỉ có một phần tư số trường tiểu học tại Mĩ đưa ra hình thức dạy ngoại ngữ, theo nguồn của Bộ Giáo dục. Sự thể như thế phần lớn bắt nguồn từ việc tưởng rằng dạy cho trẻ ngoại ngữ quá sớm có thể dẫn đến nói năng khiếm khuyết hay ngập ngừng bởi vì hai ngôn ngữ có thể gây ra sự nhiễu. Tuy vậy, trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra điều ngược lại: được nuôi nấng bằng hai ngôn ngữ cùng lúc thật sự có thể tạo thuận lợi cho việc phát triển các kĩ năng ngôn ngữ và tri nhận. Những năng khiếu này bao gồm tính linh động về mặt tinh thần, khả năng tư duy trừu tượng và trí nhớ hoạt động, một loại trí nhớ ngắn hạn thiết yếu cho việc học tập và giải quyết vấn đề.

Những thông điệp hỗn hợp

Cho đến giữa thập niên 1800, thì việc sử dụng song ngữ xuất hiện rất thường tại Mĩ. Nhưng vào thập niên 1880 thì cái suy nghĩ thường thấy đó bắt đầu quay lưng lại với những người di dân, và các nhà tâm lí học tuyên bố rằng tiếp xúc với nhiều hơn một ngôn ngữ sẽ khiến bọn trẻ giảm sút về mặt trí tuệ. Mặc dù vào thập niên 1960 thì các nhà nghiên cứu đã bắt đầu bác bỏ những nghiên cứu sớm sủa kia, nhưng vẫn còn tồn tại những ý nghĩ rằng trẻ con cần phải chọn một ngôn ngữ trội hơn.”Vẫn còn giả thuyết rằng bộ não được thiết lập chỉ cho duy nhất một ngôn ngữ,” nhà thần kinh học Laura-Ann Petitto cho biết, bà đang làm việc tại Gallaudet University ở Washington, D.C. Theo giả thuyết này, tâm thức một đứa trẻ song ngữ bị kéo vào một sự giằng co liên tục dẫn đến việc nói năng ngập ngừng và lúng túng trước việc chọn dùng ngôn ngữ nào. Nhưng trong một chuỗi nghiên cứu bắt đầu vào năm 2001, Petitto và đồng nghiệp phát hiện ra rằng trẻ em tiếp xúc với hai ngôn ngữ trước tuổi lên 10 sẽ đạt tới những cột mốc ngôn ngữ then chốt, như việc nói ra những ngôn từ đầu tiên và học cách đọc sách, cùng lúc với những đứa trẻ đơn ngữ đồng trang lứa và không có dấu hiệu gì về sự phá hỏng hay nhập nhằng ngôn ngữ. “Những đứa trẻ này hiểu được chúng có hai ngôn ngữ khác biệt nhau ngay từ ban đầu,” bà cho biết. “Chúng không bị lúng túng gì cả.”

Hình 1. Những đứa trẻ nào mà học ngôn ngữ thứ hai tại trường có thể tích góp được những lợi ích về mặt trí tuệ từ việc đào tạo ngôn ngữ học, những lợi ích này mở rộng vượt ra xa không chỉ gói gọn trong khả năng giao tiếp với người nước ngoài.

Nghiên cứu gần đây cho biết trẻ em không chỉ có thể phân biệt được hai ngôn ngữ ở bất kì độ tuổi nào, mà những thuận lợi về khả năng tri nhận, bắt nguồn từ việc tiếp xúc ngôn ngữ thứ hai, bắt đầu từ sớm khi chúng còn là trẻ sơ sinh. Trong một nghiên cứu năm 2009 về “những đứa trẻ song ngữ còn nằm nôi,” nhà tâm lí học tri nhận Agnes Kovács của trường Central European University ở Hungary và Jacques Mehler của trường International School for Advanced Studies ở Ý đã dùng bài kiểm tra thị giác để đo lường cái mà những nhà thần kinh học gọi là tính linh động về mặt tri nhận ở những đứa trẻ bảy tháng tuổi trong giai đoạn chưa biết nói. Kovács muốn thấy những đứa trẻ sơ sinh có thể thích ứng nhanh ra sao với những qui luật thay đổi. Họ chỉ cho bọn trẻ một mẫu hình bao gồm những âm thanh dạng như tiếng nói. Khi kết thúc chuỗi âm thanh đó, một phần thưởng bằng hình ảnh dưới dạng con búp-bê sẽ hiện lên ở một chỗ nhất định trên màn hình máy tính. Người ta mong bọn trẻ sẽ học được rằng một mẫu hình âm thanh được cho sẵn sẽ cho biết trước sự xuất hiện của con búp-bê tại địa điểm đó. Cả hai đứa trẻ song ngữ lẫn đơn ngữ đều cho thấy chúng liên hệ chuỗi âm thanh với vị trí con búp-bê tốt như nhau bằng cách nhìn vào bên phải để thấy con búp-bê xuất hiện.Nhưng khi Kovács chỉnh lại chuỗi âm thanh – và di dời con búp-bê đi – thì bọn trẻ song ngữ cũng điều chỉnh, chuyển hướng nhìn dự đoán của chúng sang vị trí mới. Tuy nhiên, bọn trẻ đơn ngữ thì tiếp tục tìm kiếm con búp-bê ở vị trí ban đầu.

Tác động đến não bộ

Nghiên cứu khác cho biết rằng việc được nuôi nấng thành một người biết song ngữ sẽ cải thiện những kĩ năng tri nhận một khi đứa trẻ biết nói. Trong một nghiên cứu công bố năm 2010, nhà tâm lí học Esther Adi-Japha và đồng nghiệp tại trường Bar-Ilan University ở Israel đã phát hiện rằng những đứa trẻ song ngữ từ bốn đến năm tuổi cho thấy tính sáng tạo nhiều hơn những đứa trẻ đơn ngữ đồng trang lứa khi được yêu cầu vẽ một căn nhà hay một bông hoa tưởng tượng. Bọn trẻ đơn ngữ có xu hướng vẽ hoa mà thiếu mất cánh hoa hay lá, trong khi đó bọn trẻ song ngữ vẽ ra những hình ảnh tổng hợp mang tính tưởng tượng, như là “bông hoa hình cái diều” và “căn nhà robot,” điều này cho biết khả năng vượt trội về việc nắm được những ý niệm trừu tượng [xem hình 2]. Trong khi đó dữ liệu từ cuộc nghiên cứu 2008 từ phòng thí nghiệm của Petitto cho biết bọn trẻ từ những gia đình nói tiếng Anh mà học tại những trường nửa Tây-ban-nha, nửa Anh thì sẽ làm những bài kiểm tra đọc tốt hơn những đứa chỉ học duy nhất chương trình tiếng Anh.

Hình 2. Khi được yêu cầu vẽ một bông hoa không tồn tại trên đời, thì bọn trẻ đơn ngữ có xu hướng bỏ đi mấy phần của bông hoa (hình trái). Còn những đứa trẻ song ngữ thường thêm vào ngữ cảnh, chẳng hạn mô tả bông hoa như là một cái cửa ra vào (hình phải), một gợi ý rằng tư duy của chúng sâu sắc hơn.

Một vài nghiên cứu cũng liên hệ việc biết hai ngôn ngữ với việc trí nhớ hoạt động được cải thiện, là loại trí nhớ liên hệ với cả hai kĩ năng đọc hiểu và toán học. “Cái ấn tượng chính là việc có bao nhiêu lợi ích thuộc về phạm vi không dùng lời nói,” nhà tâm lí học Ellen Bialystok của trường York University tại Toronto cho biết. Trong một nghiên cứu không được công bố thì Bialystok và cộng sự tại trường Đại học Nam-kinh ở Trung-quốc phát hiện ra rằng những đứa trẻ song ngữ bảy tuổi có kết quả tốt hơn nhiều so với những đứa trẻ đơn ngữ đồng trang lứa khi làm hai bài kiểm tra trí nhớ hoạt động – một bài yêu cầu chúng nhớ lại và sắp xếp lại một dãy các con số và bài kia thì yêu cầu chúng làm lại theo đúng cái mẫu hình những bước nhảy của chú ếch hoạt hình trên màn hình máy tính. Toàn bộ những khác biệt về mặt tri nhận này hàm ý rằng việc học ngôn ngữ thứ hai sẽ tinh chỉnh cấu trúc của bộ não phát triển. Mặc dù phương pháp quét não bộ tiêu chuẩn, phương pháp cộng hưởng từ chức năng (functional MRI), được khuyến cáo không nên dùng cho trẻ nhỏ, nhưng một phương pháp chụp hình não bất xâm nhập tương đối mới được gọi là phương pháp quang phổ cận hồng ngoại chức năng (functional near-infrared spectroscopy) giờ đây có thể cho phép các nhà khoa học đối chiếu bộ não của bọn trẻ song ngữ với của bọn trẻ đơn ngữ đồng trang lứa. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những khu vực ngôn ngữ của các bộ não đơn ngữ và song ngữ phát triển tương tự nhau, ngoại trừ một số vùng, như vỏ não vùng trán thấp (inferior frontal cortex) vốn liên quan đến cả hai kĩ năng ngôn ngữ và tư duy, những vùng này có vẻ như hoạt động mạnh hơn đối với bọn trẻ song ngữ, đặc biệt khi chúng đang đọc sách. Các nhà nghiên cứu nói rằng cách tốt nhất để trở nên thông thạo ngôn ngữ thứ hai là bắt đầu từ thuở nhỏ và thực hành thường xuyên. “Đào tạo ngôn ngữ phải ở mức hệ thống,” Kovács nói. Các chuyên gia ghi nhận rằng tiếp xúc hàng ngày với ngôn ngữ thứ hai là điều hoàn hảo. Trẻ em lớn lên trong môi trường đa ngôn ngữ có thể đạt tới mức tiếp xúc như vậy một cách tự nhiên, nhưng những đứa trẻ sống trong bối cảnh đơn ngữ có thể cần sự dạy dỗ nỗ lực hơn. Một giải pháp là những ngôi trường chuyên sâu dạy một số lớp bằng ngôn ngữ phụ, như tiếng Tây-ban-nha hay Trung-quốc. Cung cấp tiền nong và nhân sự cho những chương trình này là điều khó khăn, nhưng những ngôi trường như thế càng lúc càng phổ biến tại Mĩ và Canada. “Một số sinh viên tỏ ra thông thạo; số khác thì không như vậy. Nhưng lợi ích thì rõ ràng,” Bialystok cho biết. “Mọi người đều nên được quyền trở thành người biết song ngữ.” Phụ lục: Ngôn từ của sự thông tuệ – Lauren Migliore Việc thông thạo, hay thậm chí chỉ vừa đủ khả năng biết, hơn một ngôn ngữ không chỉ tạo bước tiến cho các kĩ năng tư duy của đứa trẻ, mà còn tạo ra những lợi thế về mặt tri nhận ở giai đoạn trưởng thành. Nói cụ thể, trở thành người biết song ngữ sẽ có thứ gì đó dường như sẽ cải thiện bộ não chống lại tình trạng suy nhược tinh thần. Vào năm 2010 nhà tâm lí học Ellen Bialystok và đồng nghiệp tại trường York University ở Toronto đã đánh giá những bản ghi chép về sức khoẻ và giáo dục tinh thần, bao gồm cả về đào tạo ngôn ngữ, của 211 bệnh nhân được chẩn đoán là bị suy giảm trí tuệ (dementia). Họ phát hiện rằng một nhóm 102 người trong một nhóm được phân loại là nhóm song ngữ đã được chẩn đoán là có bệnh muộn hơn 4.3 năm (và được báo cáo có những triệu chứng sơ khởi 5.1 năm sau đó) so với nhóm 109 người đơn ngữ, mặc dù toàn bộ họ đều có chức năng tri nhận gần như tương đương nhau và có nhu cầu nghề nghiệp tương đồng nhau trong lúc họ đang khoẻ mạnh. Những dữ liệu này, vốn xác nhận những điều đó từ một nghiên cứu trước, chỉ ra rằng việc biết hai ngôn ngữ có thể giúp trì hoãn lại giai đoạn bắt đầu chứng suy giảm trí tuệ. Biết một ngôn ngữ thứ hai bằng cách nào đó dường như sẽ làm dịu lại những hiệu ứng của bệnh lí lan truyền ở não. Trong một công trình mà nhóm của Bialystok đã mô tả trước đó trong năm nay, thì các nhà nghiên cứu đã quét bộ não của 450 bệnh nhân đơn ngữ và song ngữ được chẩn đoán mắc chứng suy giảm trí tuệ dạng giống bệnh Alzheimer để tìm kiếm những thương tổn và những thay đổi về cấu trúc. Những người này toàn bộ đều thể hiện mức độ tương đồng nhau về chức năng tri nhận, nhưng bộ não của những người song ngữ cho thấy chứng teo và tổn hại ở những vùng liên quan đến trí nhớ dài hạn, khả năng nhận biết ngôn ngữ và cảm quan về thính giác. Bialystok đặt ra giả thuyết rằng bởi vì là người biết hai ngôn ngữ, nên các bệnh nhân đó bằng cách nào đó có thể đền bù cho việc bị tổn hại cấu trúc nhiều hơn. Việc nói được nhiều hơn hai ngôn ngữ có thể đưa ra một loại phòng vệ thậm chí còn tốt hơn. Cũng trong năm 2011 nhà nghiên cứu Magali Perquin của Trung tâm Nghiên cứu Sức khoẻ Cộng đồng tại Luxembourg và đồng nghiệp đã báo cáo việc đánh giá sức khoẻ tâm lí thần kinh của 230 ông bà lớn tuổi, những người có thể nói hai đến bảy ngôn ngữ. Họ phát hiện rằng những ai nói được ba ngôn ngữ hoặc nhiều hơn thì có khả năng bị tổn hại tinh thần bằng một phần tư so với những người chỉ nói hai ngôn ngữ. Việc học ngôn ngữ với số lượng càng nhiều thì dường như càng cung cấp một chỗ tựa che chở mạnh mẽ cho quan điểm đào tạo như thế này chính là việc tạo dựng nên một tấm khiên bảo vệ cho khả năng tri nhận. Những phát hiện đó trùng khớp với ý nghĩ được định hình từ lâu rằng học tập và giáo dục giúp ngăn chặn sự suy thoái về trí tuệ bằng cách tăng cường năng lực tư duy tổng quát của bộ não – cái gọi là dự trữ tính tri nhận (cognitive reserve). Nhà tâm lí học César Ávila Rivera và đồng nghiệp tại trường Jaume I University of Castelíon ở Tây-ban-nha đã báo cáo trong năm 2010 rằng những người lớn biết hai ngôn ngữ thì nhanh nhạy và hiệu quả hơn ở một số công việc liên quan đến việc sử dụng các kĩ năng được biết đến như là các chức năng quản trị, ví dụ như hoạch định hay giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên là năng lực tinh thần của một người có thể ảnh hưởng đến khả năng của người đó trong việc học ngôn ngữ mới, nâng cao khả năng về việc những người song ngữ có thể tri nhận tốt hơn để bắt đầu. Nhưng một công trình khác chỉ ra rằng việc học một ngôn ngữ thứ hai có thể khuyết khích sự thay đổi bộ não theo hướng có lợi. Ví dụ, nó có thể làm tăng mật độ tế bào não ở một số khu vực có tầm quan trọng cho việc vận hành khả năng tri nhận. Và cái nghiên cứu nhấn mạnh thuận lợi về mặt tri nhận của một người song ngữ khi lớn lên sẽ củng cố khái niệm rằng khi học cách nói oui, hay hai thì sẽ có thứ gì đó giúp bạn chống đỡ những bộ phận tư duy nằm trong não.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn. 20110901.

Nguồn: Westly, Erica. “The Bilingual Advantage.” Scientific American Mind, July/August 2011: 38-41.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s