Christiane Gelitz – Người thế nào thì sở thích thế nấy

Christiane Gelitz

Người thế nào thì sở thích thế nấy

Duy Đoàn chuyển ngữ

The Beatles hay Brahms, Bauhaus hay Braque – sở thích văn hoá cho biết rất nhiều về tính cách của bạn.  

Một người bạn mời bạn đến căn hộ mới của anh ta. Khi anh ta bật một đĩa nhạc jazz cũ, bạn nhìn quanh căn phòng bừa bộn để kiếm chỗ ngồi. Những tác phẩm văn chương và triết học chất thành chồng cao ngang hông ở ngay cạnh cái bàn làm việc. Một bức vẽ Picasso đầy màu sắc được găm trên tường bằng những cái đinh găm. Bộ sưu tập phim nước ngoài và phim tài liệu tràn ra khỏi cái hộp đang mở toang ra. Cái hốc của bạn cùng nhà anh ta – bạn chợt thấy được theo dọc hành lang – lại là một câu chuyện khác: một áp-phích quảng cáo Monet được đóng khung treo phía trên cái giường gọn gàng; những cái hộp đĩa CD chứa 40 bài nhạc hàng đầu và những cái hộp đựng những phim hài trên TV nằm dọc trên kệ; ở trong một cái giá gần đấy chứa đầy những tờ tạp chí lá cải được xếp cẩn thận.

Thậm chí chẳng cần gặp người bạn cùng phòng đó, bạn có thể sẵn sàng chắc chắn rằng hai người này sẽ không ở cùng nhau được lâu dài, và thực tế là bạn có thể đúng. Càng lúc càng nhiều những nghiên cứu tâm lí học hé lộ cho thấy những mối liên hệ mạnh mẽ giữa đặc điểm tính cách cá nhân và khiếu thẩm mĩ. Theo những nghiên cứu này, một người sành nhạc jazz – là người thích những cuốn sách khó nhằn và nghệ thuật trừu tượng hơn. – thì có nhiều khả năng là người hướng ngoại và cởi mở với những trải nghiệm mới. Còn người hâm mộ 40 bài nhạc hàng đầu kia mặt khác có thể sẽ né tránh tiếp cận cái mới mẻ. Dù vậy, dựa trên sự yêu thích của anh ta về trường phái nghệ thuật Ấn tượng (Impressionist), thì có thể anh ta thuộc dạng người dễ chịu và chu đáo.

Mô tả sơ lược về dạng này còn hơn cả hoàn hảo. Tất cả chúng ta đều biết những kẻ lười nhác chuyên phá vỡ mọi khuôn khổ thì thiên về những thú vui thông thái hoặc người học giả yêu thích phim bộ trên truyền hình và nhạc pop. Dù vậy, nghiên cứu gần đây cho thấy rằng chúng ta có thể, ở chừng mực nhất định, đánh giá độc giả thông qua bìa sách: nếu bạn thích sự thách thức, thì có thể bạn sẽ tìm thấy được điều đó ở trong những ấn phẩm nghe nhìn mà bạn đang xài. Nếu bạn hoà đồng và dễ gần gũi, bạn có thể sẽ hướng đến những bài nhạc, những tờ tạp chí hay những chương trình truyền hình nổi tiếng trong mắt công chúng. Và nếu bạn thuộc dạng dạt dào cảm xúc, bạn có thể chuyển sang các món văn hoá và nghệ thuật chủ yếu để có được sự thoải mái và để tiêu khiển. Thật vậy, tính cách của chúng ta – thậm chí có lẽ còn nhiều hơn trí thông minh và học vấn của ta – nắm giữ một sức mạnh to lớn về cái mà chúng ta đọc, nghe và xem.

Sẵn sàng cho những điều mới mẻ?

Nhiều nghiên cứu nhắm vào việc truy tìm thiên hướng về văn hoá của chúng ta bắt nguồn từ những đặc điểm dấu vết của tính cách được biết đến với tên gọi “Bộ Năm Quan trọng” (the Big Five): sự hướng ngoại, tính cởi mở, sự rối loạn tinh thần, sự dễ chịu và tính chu đáo. Cách mà người ta ghi điểm theo các mức đo lường này sẽ cung cấp một bức tranh tổng quan về bản chất của người đó. Họ là người hay e ngại hay dễ gần gũi, hình ảnh phản chiếu của tính hướng ngoại? Họ có tính tò mò, một chỉ số cho biết mức độ cởi mở, hay có tính thiết thực hơn? Họ có phản ứng đầy cảm xúc, hay là người bị rối loạn tinh thần, hoặc là người không dễ nổi giận? Họ có khuynh hướng hợp tác – nghĩa là người có tính khí dễ chịu – hay họ là người dễ bị cuốn vào việc tư lợi? Họ có tính tự giác, dấu hiệu của sự chu đáo, hay có tính bột phát hơn trong cách tiếp cận cuộc sống?

Trong số những đặc điểm của Bộ Năm đó, tính cởi mởi đặc biệt dường như định hình sự yêu thích của ta đối với nghệ thuật tinh tế. Năm 2009, Tomas Chamorro-Premuzic của trường University of London và đồng nghiệp đã thu thập dữ liệu trên mạng của hơn 90,000 người trong độ tuổi từ 13 đến 90 – một trong những dữ liệu lớn nhất mà các cuộc nghiên cứu như thế từng tiến hành. Họ yêu cầu những người đó đánh giá họ thích đến mức nào 24 bức hoạ thuộc bốn trường phái – Lập thể, Phục hưng, Ấn tượng và Nhật-bản – và sau đó hoàn tất bản câu hỏi thuộc Bộ Năm. Về sự hứng thú, họ phát hiện rằng chỉ có tính cởi mở là có ảnh hưởng mạnh mẽ và nhất quán đối với việc học hỏi nghệ thuật: những người nào cởi mở thì thường thưởng thức được những bức ảnh thuộc trường phái Lập thể, Phục hưng và Nhật-bản, trong khi đó những người có xu hướng truyền thống hơn – những người ghi điểm thấp đặc biệt ở mức cởi mở nhưng lại có điểm cao ở đặc điểm dễ chịu và chu đáo – thì thường chuộng hội hoạ thuộc trường phái Ấn tượng.

Tài liệu sách vở của chúng ta cũng có thể phản ánh mức độ cởi mở về mặt văn hoá của ta, theo Samuel D. Gosling của trường University of Texas ở Austin. Năm 2005, ông yêu cầu những người tham gia thí nghiệm nhìn xung quanh căn phòng, rồi đánh giá về người sống ở đó. Những người tham gia thường suy diễn rằng những chỗ trống trong phòng đầy những báo, tạp chí, đĩa CD và sách thì điển hình là thuộc về những người nào cởi mở tiếp nhận những trải nghiệm mới. Một chỉ số tốt hơn chính là về thể loại, chứ không chỉ là con số, của các ấn phẩm nghe nhìn đang hiện diện. Ví dụ, truyện tranh – cũng như sách âm nhạc hay sách triết học – thì có thể hé lộ một cách đáng kinh ngạc đôi chút về tính cởi mở của người sở hữu chúng. Mặt khác, tạp chí tin tức, cũng như sách về nghệ thuật, thi ca và tâm lí học thì thường là thuộc về những tính cách cởi mở. Những người có tính bảo thủ hơn thì có xu hướng sở hữu những bộ sưu tập về truyện cười và sách về chính trị.

Vào năm 2004, các nhà tâm lí học Nicola Schutte và John Malouff của trường University of New England ở Armidale, Úc, đã khảo sát 251 sinh viên và báo cáo về những mối liên hệ khác nhau giữa tính cởi mở và sở thích đọc sách. Những người tham gia khảo sát mà ghi điểm số cao về tính cởi mở theo bảng tóm tắt Bộ Năm thì có xu hướng yêu thích văn chương cổ điển và những mục văn hoá, nghệ thuật trên báo. Tính cởi mở cũng thường thấy ở những người thích sách hay tạp chí khoa học viễn tưởng. Niềm yêu thích những bài viết khoa học cũng được liên hệ với tính chu đáo ở mức độ khá cao. Ngược lại, những ai chú tâm vào những tờ tạp chí lá cải hay những cuốn sách diễm tình thì ghi điểm thấp hơn mức trung bình về tính cởi mở nhưng lại trên trung bình ở tính hướng ngoại.

Các nhà nghiên cứu người Hà-lan Gerbert Kraaykamp của trường University of Nijmegen và Koen van Eijck, hiện công tác ở trường Erasmus University tại Rotterdam, đã thêm vào những phát hiện này vào năm 2005, bằng cách khảo sát hơn 3000 đối tượng trong độ tuổi từ 18 đến 70. Đúng như dự báo, những người tự cho mình cởi mở tiếp nhận những điều mới thì năng động hơn về mặt văn hoá, bất kể tuổi tác, giới tính hay mức độ giáo dục, và mục tiêu theo đuổi của họ mở rộng vượt ra ngoài phạm vi nghệ thuật đỉnh cao – họ thường tham gia vào những buổi biểu diễn nhạc pop và cũng thích thú trước những bộ phim giật gân và những buổi chiếu nói về tội ác. Hơn nữa, Kraaykamp khám phá ra rằng tinh thần cởi mở có tính đặc thù là sẽ tránh đọc những cuốn sách diễm tình hay xem những bộ phim nhiều tập. Thay vào đó thì những thú vui như vậy lại thu hút những ai tự mô tả mình là người có nhiều cảm xúc.

Bởi vì nhiều cái trong số những cuộc nghiên cứu này sử dụng bàng tóm tắt Bộ Năm, nên chúng luôn có thể đối chiếu được, và hầu hết thì những phát hiện từ những nghiên cứu đó hội tụ lại ở một điểm: những ai ghi cao điểm về sự rối loạn tinh thần hay tính dễ chịu thì có xu hướng thích những hoạt động nhẹ nhàng lúc rảnh rỗi, vốn chẳng có thử thách gì về mặt trí tuệ hay về mặt cảm xúc. Những người cởi mở có đặc thù là khao khát những món quà văn hoá có tính phức tạp hơn. Những phân tích khác đã xem xét việc làm thế nào khiếu thưởng thức có liên hệ đến việc tìm kiếm cảm giác, một đặc điểm tính cách được nhà tâm lí học Marvin Zuckerman mô tả lần đầu vào thập niên 1970. Như cái tên gợi ý, những người tìm kiếm cảm giác mong mỏi sự hưng phấn, sẵn sàng liều lĩnh và thèm muốn những trải nghiệm khắc nghiệt. Việc tìm kiếm cảm giác được xem như là một khía cạnh của tính cởi mở. Năm 2001 Adrian Furnham của trường University College London và đồng nghiệp đã báo cáo rằng một người càng có xu hướng tiến về việc tìm kiếm cảm giác, thì họ càng thích nghệ thuật trừu tượng, nghệ thuật đại chúng và siêu thực, và càng không thích những bức hoạ hữu thể (representational).

Nhịp đập của một cái trống khác

Những người tìm kiếm cảm giác cũng có những sở thích âm nhạc rõ ràng. Như Zuckerman báo cáo vào khoảng 25 năm trước, thì những người đó có xu hướng thưởng thức nhạc rock và nhạc cổ điển, chứ không phải nhạc phim hay những bản thánh ca. Những nghiên cứu gần đây cũng ủng hộ cho ý nghĩ rằng tính cách định hình khiếu thưởng thức âm nhạc của chúng ta – rất nhiều, để mà một thư viện iTunes chứa những bài nhạc ưa thích của một người gần như có thể có chức năng như là tấm danh thiếp về mặt tâm lí học. Năm 2006 Gosling và Peter Jason Rentfrow của trường University of Cambridge yêu cầu những người tham gia thí nghiệm nghe 10 bản nhạc và rồi mô tả một người lạ nào đó sẽ chọn những bản nhạc ấy. Họ phát hiện rằng, bằng cách chỉ dùng những danh sách nhạc với 10 bản nhạc ở mỗi danh sách, thì những người tham gia thí nghiệm có thể đưa ra những đánh giá chính xác về tính cởi mở của người lạ đối với những trải nghiệm mới, về mức độ hướng ngoại và về các giá trị cá nhân.

Một vài năm trước đó, năm 2003, Gosling và Rentfrow, sau này cũng ở trường University of Texas, đã khảo sát khiếu thưởng thức âm nhạc của hơn 3500 sinh viên tại khuôn viên trường đại học. Để cho cuộc nghiên cứu dễ quản lí hơn, thì họ chắt lọc rất nhiều những dòng nhạc thành bốn danh mục khái quát và phát hiện rằng mỗi danh mục dường như thu hút một mô tả tính cách khác biệt: âm nhạc mãnh liệt hay nổi loạn – bao gồm rock và punk – thì thu hút được người nghe là người có điểm hơn trung bình về tính cởi mở. Những người hâm mộ dòng nhạc chiêm nghiệm và phức hợp có xu hướng cởi mở và tự do chính trị. Dòng nhạc sôi động/nhịp nhàng thì chủ yếu cuốn hút những người hướng ngoại, và giai điệu upbeat/truyền thống thu hút những người hướng ngoại cũng như người có tính dễ chịu, chu đáo và bảo thủ chính trị.

Marc Delsing và đồng nghiệp tại trường University of Utrecht xác nhận kết quả 5 năm sau đó. Những nhà nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thu thập từ cuộc nghiên cứu dài hơi dựa trên cuộc khảo sát của hơn 2000 thanh thiếu niên Hà-lan trong độ tuổi từ 12 đến 19. Một phần cuộc khảo sát hỏi về khiếu thưởng thức âm nhạc; nó loại trừ ra những dòng nhạc hiếm khi được nghe ở Hà-lan – ví dụ như nhạc dân ca, đồng quê, blue và nhạc phim – nhưng bao gồm nhiều dòng nhạc khác nhau như hardcore, punk và goth. Mặc dù có nhiều khác biệt, nhưng Delsing đã xác định được ít nhiều cũng bốn cụm tương tự về sở thích âm nhạc và tính cách mà Gosling và Rentfrow đã mô tả trước đó. Ông cần tái phân loại chỉ một dòng nhạc duy nhất để đạt được trùng khớp: trong khi mẫu thử của Mĩ để nhạc Phúc âm trong cùng một danh mục với nhạc pop, thì Delsing nhóm nó vào cùng với nhạc jazz và nhạc cổ điển.

Bởi vì cuộc khảo sát phỏng vấn các sinh viên Hà-lan suốt một khoá trong ba năm liên tiếp, Delsing và nhóm của ông cũng có thể xem xét sự phát triển của khiếu thưởng thức âm nhạc bằng cách rọi vào tính cách con người. Họ khám phá rằng các thiếu niên có xu hướng thay đổi sở thích một chút; dù vậy, khi bọn trẻ lớn hơn, thì quan điểm của chúng trở nên vững chãi. Những thanh thiếu niên hướng ngoại thường tránh xa rock và punk khi lớn lên, và quay trở về với pop và trở về cái gọi là dòng nhạc thành thị. Theo sở thích, thì những thanh niên nào nghe nhạc jazz và nhạc cổ điển thường tự mô tả mình là người có cảm xúc dao động. Ngược lại, những người hâm mộ jazz và nhạc cổ điển ở lứa tuổi sinh viên trong nhóm người thử nghiệm của Gosling thì không đạt điểm trên trung bình khi đo lường mức độ rối loạn. Delsing giả thuyết rằng nó là dấu hiệu của tinh thần trách nhiệm về mặt cảm xúc ở người trưởng thành để nghe dòng nhạc bác học hơn, trong khi điều đó hoàn toàn bình thường đối với những sinh viên lớn hơn.

Thêm nhiều nghiên cứu gần đây đã đặt câu hỏi cho bản mô tả âm nhạc của Gosling và Rentfrow. Năm 2008, nhà tâm lí học Hasan G. Tekman của trường Uludağ University tại Bursa, Thổ-nhĩ-kì, đã thêm dòng nhạc thứ năm vào hỗn hợp các dòng nhạc, nhạc dân ca Thổ-nhĩ-kì. Ông phát hiện rằng những người hâm mộ nhạc dân ca Thổ-nhĩ-kì có đặc thù là đặt điểm cao về sự dễ chịu, trên trung bình ở tính chu đáo và trên trung bình một chút về mức rối loạn. Hơn nữa, Tekman phát hiện ra những mối liên hệ vô cùng khác biệt nhau giữa những dòng nhạc khác với các đặc điểm của Bộ Năm. Ví dụ, đối với những người Thổ-nhĩ-kì tham gia thử nghiệm, thì người mà thích các dòng nhạc chiêm nghiệm và phức hợp nói chung là người có tính cởi mở – như trường hợp ở Mĩ và Hà-lan. Cũng trong năm 2008, một cuộc khảo sát ở Đức về khiếu thưởng thức âm nhạc tiến hành với 422 sinh viên tại trường University of the Bundeswehr ở Munich đã không trùng khớp với kết quả của Gosling và Rentfrow.

“Bốn chiều kích thước mà họ [Goslig và Rentfrow] thiết lập nhờ vào nghiên cứu năm 2003 đã cung cấp một cái nhìn khái quát về một số mối quan hệ giữa sở thích âm nhạc và tính cách,” Richard L. Zweigenhaft ở trường Guilford College cho biết, nhưng những phát hiện của chính ông ta “đã chỉ ra rằng đó là điều quan trọng khi xem xét những thể loại nhạc cụ thể.” Với 83 sinh viên, ông đã phơi bày ra nhiều mối liên hệ mang ý nghĩa về mặt thống kê: những người nghe đài phát thanh có xu hướng ít sợ hãi hơn nhưng cũng ít ngăn nắp, ít có tinh thần chấp hành nhiệm vụ hoặc ít có tính kỉ luật hơn những người Mĩ bình thường; những người hâm mộ nhạc opera và heavy metal đều có xu hướng bừa bộn; và những ai thích rap và hip-hop thì cho rằng thiếu tính tự giác và lòng chân thành nhưng họ cũng tự mô tả mình thuộc dạng bốc đồng, cởi mở và dễ gần gũi. Và cũng như Delsing, Zweigenhaft cho thấy rằng không phải tất cả những người hâm mộ dòng nhạc tôn giáo đều giống như nhau.

Rung và ớn lạnh

Như những nghiên cứu này đã cho thấy, thì không tất cả những người sành điệu đều sinh ra bình đẳng nhau, nhưng những người hâm mộ âm nhạc đều có nhiều điểm chung hơn chỉ là một danh sách các bài nhạc ưa thích. Năm 2007, Adrian C. North của trường Heriot Watt University ở Edinburgh và David J. Hargreaves ở trường Roehampton University ở Luân-đôn đã khảo sát hơn 2005 người Anh quốc trong độ tuổi từ 18 đến 60 về việc lựa chọn âm nhạc và lối sống. Họ phát hiện rằng những người yêu nhạc kịch có xu hướng sống một cuộc sống gương mẫu: họ tránh uống rượu và dùng thuốc kích thích, tuân thủ luật lệ và làm từ thiện. Những chuyên gia về nhạc cổ điển, jazz, blue và opera là những người có giáo dục tốt nhất trong nhóm những người thử nghiệm, và những người nghe hip-hop và nhạc vũ trường thì thường có khả năng dùng thuốc kích thích. Trong năm 2009, Juul Mulder và đồng nghiệp của bà khai thác được những mẫu hình tương đồng vậy từ cuộc nghiên cứu ở Hà-lan đối với hơn 7000 thanh thiếu niên: những người hâm mộ nhạc punk, hardcore, techno và reggae dùng nhiều thuốc kích thích hơn những người hâm mộ các dòng chính thống, nhạc pop và nhạc cổ điển. Dù vậy, những người sau chỉ sử dụng nếu họ có mối liên hệ với những người hâm mộ các dòng nhạc khác mà có dùng thuốc kích thích.

Việc tìm kiếm cảm giác – một đặc điểm được cho là được di truyền 50% – có thể là mẫu số chung liên kết một số nhóm văn hoá dị biệt đến với thuốc kích thích. Những người bảo thủ hơn thì đơn giản không cần liều lĩnh dùng những dạng âm nhạc hay thuốc men giống vậy để đặt đến cảm xúc thăng hoa tương tự. Tính cách con người cũng có thể giúp để giải thích tại sao một bản nhạc có thể kéo người này đứng dậy và nhảy múa trong khi với người khác lại không. Đối với những người nghe nhạc bình thường, thì cái hình thức đều đều của nhạc pop là đủ rồi. Tuy nhiên, những người tìm kiếm cảm giác có thể cần kích thích hơn về mặt thể chất – dưới hình thức tiếng riff kéo dài của guitar hay tiếng nhịp đập mạnh mẽ – để cảm thấy ớn lạnh đến tận xương sống và ngứa ran đầu ngón chân cái. Cùng một nguyên cớ như thế, những người có tính cởi mở tiếp nhận những trải nghiệm mới có thể cần những giai điệu thách thức hơn hay những nhịp điệu phức tạp hơn để mà nhún nhảy.

Chính xác thì cái gì tạo ra những cao trào âm nhạc như thế? Nhiều nhà khoa học đang tìm hiểu những phản ứng cảm xúc và sinh lí đối với âm nhạc. Năm 2009, nhà tâm lí học thần kinh Valorie N. Salimpoor và đồng nghiệp của bà tại trường McGill University đã yêu cầu 26 đối tượng lắng nghe hai loại âm nhạc, những bản ưa thích và những bài hát mà họ thấy bình thường. Như mong đợi, cảm xúc cao trào mà những người tham gia trải nghiệm khi nghe những bài hát ưa thích có vẻ như là kết quả từ việc tự kích thích: những khoảnh khắc phấn khích âm nhạc được liên hệ với việc gia tăng sự truyền dẫn điện ở da (skin conductivity), sự thoát mồ hôi và nhiệt độ cơ thể. Những phản ứng tương tự không xảy ra khi người tham gia thí nghiệm nghe những bài hát họ không đặc biệt thích.

Năm 2005, các nhà thần kinh học Daniel J. Levitin, cũng tại trường McGill, và Vinod Menon của truờng Stanford University đã báo cáo rằng sự tận hưởng âm nhạc sẽ thay đổi hoạt động của mạng lưới thần kinh liên quan đến những cảm xúc tích cực khác. Cụ thể là ở nhân chỏm não bụng (ventral tegmental area), một tập hợp các tế bào ở vùng não giữa vốn là trung khu của mạng lưới tưởng thưởng ở não (reward circuitry) sẽ điều chỉnh các tương tác giữa ba cấu trúc – nucleus accumbens, vùng dưới đồi (hypothalamus) và thuỳ nhỏ não trước (insula) – và các cấu trúc này điều hoà quá trình tự hưng phấn. Năm 2002, Eckart Altenmüller, giám đốc Viện Sinh lí Âm nhạc (Institute for Music Physiology) ở trường University of Hannover tại Đức, đã cho thấy sự tận tưởng âm nhạc cũng diễn ra ngay lúc mà vỏ não trái hoạt động mạnh hơn – vỏ não trái là khu vực mà các nghiên cứu khác đã liên kết nó với các cảm xúc tích cực nói chung. Ông ta còn phát hiệm thêm mối liên hệ giữa cảm giác tiêu cực về âm nhạc và sự truyền xung thần kinh tăng lên ở vỏ não phải.

Hoà âm – hay ít nhất là việc thiếu đi sự hoà âm – dường như giải thích cho một số phản ứng cảm xúc của ta đối với âm nhạc. Năm 1999, nhà tâm lí học thần kinh Anne J. Blood, hiện tại đang ở Harvard University, làm việc cùng với các đồng nghiệp tại McGill đã sáng tác ra sáu biến tấu âm nhạc, trải dài từ du dương đến hỗn tạp, và mở chúng cho một nhóm 10 người nghe. Giai điệu càng nghịch tai thì những người nghe càng ít thích nó. Hơn nữa, việc chụp PET đã hé lộ ra rằng việc nghe những âm điệu nghịch tại xảy ra cùng lúc với việc dòng máu lưu thông ở những khu vực bán cầu não phải mạnh hơn. Theo một nghiên cứu khác, Blood cho thấy rằng việc xúc động trước bản nhạc ưa thích đã kích thích các cấu trúc limbic phần bụng vốn chỉ hoạt động khi ta ăn chocolate.

Đến lúc này, không có nghiên cứu nào thông dò được chúng ta phản ứng sinh học như thế nào đối với nghệ thuật và âm nhạc theo tính cách cá nhân, hoặc tại sao chúng ta lại tận hưởng được những ấn phẩm văn hoá. Và các nhà nghiên cứu ở lĩnh vực này luôn gặp thử thách bởi thực tế rằng các hình thức nghệ thuật là những mục tiêu di động: những gì bắt đầu như là một sự nổi loạn văn hoá thì nhanh chóng trở thành dòng chính thống. Ban nhạc The Rolling Stones và nghệ thuật đại chúng lẽ ra đã trỗi dậy từ những kẻ tìm kiếm cảm giác ở thập niên 1960, nhưng họ có thể sẽ không làm phật lòng những kẻ nổi loạn thế hệ mới nổi lên nhờ Lady Gaga và Damien Hirst. Do vậy lần tới khi bạn đi đánh giá bạn cùng phòng với bạn của bạn, thì hãy hỏi tuổi anh ta: nếu cái đống đĩa nhạc punk trong góc thuộc về bố anh ta, thì anh ta có thể không bị phấn khích bởi những buổi tiệc ồn ào triền miên.

Phụ lục:

Đoá hồng chu đáo màu đỏ, hoa violet cởi mở màu xanh…

Những đặc điểm tính cách Bộ Năm Quan trọng cũng tô màu cho khuynh hướng chính trị của chúng ta, theo Dana R. Carney, hiện ở trường Columbia University. Những người Mĩ theo cánh tả có xu hướng cởi mở tiếp nhận những trải nghiệm mới; còn những người theo cánh hữu thì có đặc thù về tính chu đáo (xem hai biểu đồ bên dưới). Nói chung, thì bà ta phát hiện ra rằng những người tự do thì cởi mở hơn, có tính khoan dung hơn, sáng tạo hơn, tò mò hơn, diễn cảm hơn, nồng nhiệt hơn, và dễ thu hút đến cái mới và cái khác biệt. Những người bảo thủ thì ngược lại, có xu hướng theo lẽ thường nhiều hơn, ngăn nắp hơn, có tổ chức hơn, gọn gàng hơn, sạch sẽ hơn, lãnh đạm hơn, dè dặt hơn và cứng nhắc hơn.

Carney còn phát hiện thêm rằng, khi so với một công dân Mĩ bình thường, thì những người tự do sở hữu một lượng lớn hơn nhiều những sách và đĩa CD, cũng như sở hữu nhiều bức hoạ và các đồ thủ công trong phòng ngủ, lưu lại nhiều vé xem phim, và hiển nhiên là du lịch thường xuyên hơn, với minh chứng là bộ sưu tập các tấm bản đồ thế giới, sách du lịch và những vật dụng kỉ niệm văn hoá. Nhà của những người bảo thủ thì phản ánh một mong muốn về trật tự: họ thuờng có một tờ lịch trên tường, cũng như có các thiết bị dọn dẹp vệ sinh và sửa chữa. Hơn nữa, những người bảo thủ còn sở hữu trang thiết bị thể thao và cả rượu.

Ghi chú:

O = Openness to experience (tính cởi mở tiếp nhận trải nghiệm mới)
C = Conscientiousness (tính chu đáo)
E =  Extraversion (tính hướng ngoại)
A = Agreeableness (tính dễ chịu)
N = Neuroticism (sự rối loạn tinh thần)
+ = high (cao)
– = low (thấp)

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
20110908.

 Nguồn:

Gelitz, Chirtiane. “You Are What You Like.” Scientific American Mind, 3-4/2011: 38-43.

Advertisements

One comment on “Christiane Gelitz – Người thế nào thì sở thích thế nấy

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s