Jeremy Hsu – Những bí mật của việc kể chuyện

Jeremy Hsu

Những bí mật của việc kể chuyện

Duy Đoàn chuyển ngữ


Khi Brad Pitt bảo với Eric Bana trong bộ phim Troy năm 2004 rằng “không có hiệp ước giữa sư tử và loài người,” thì anh ta không phải đang trích dẫn câu nói khôn ngoan đó từ ngòi bút của nhà biên kịch Hollywood. Anh ta đang nói ra những ngôn từ của Achilles bằng tiếng Anh khi mà Homer đã viết chúng ra bằng tiếng Hi-lạp hơn 2,000 năm trước trong Iliad. Câu chuyện về Cuộc chiến Trojan đã hớp hồn bao thế hệ người nghe trong khi được nâng cấp từ bản nguyên gốc, vốn là một bản thiên anh hùng ca được phát ngôn bằng lời, thành những phiên bản được viết ra trên giấy, và cuối cùng trở thành chuyển thể của một số bộ phim. Sức thu hút của câu chuyện vượt ra khỏi thời gian, ngôn ngữ và văn hoá trở nên rõ ràng thậm chí đến ngày nay, bằng cớ là phim Troy đã thành công vang dội khắp thế giới.

Tuy vậy, những câu chuyện phổ thông làm được nhiều điều hơn cả giải trí. Các nhà tâm lí học và thần kinh học gần đây trở nên hào hứng vì tính ưa chuộng việc kể chuyện của con người. Tại sao bộ não của ta dường như bị cuốn vào việc thưởng thức các câu chuyện? Và làm thế nào mà những tác động cảm xúc và tri nhận của câu chuyện lại ảnh hưởng đến niềm tin và những quyết định ở thế giới thực của chúng ta?

Trả lời cho những câu hỏi này dường như có gốc rễ từ lịch sử của ta khi còn là một động vật sống theo quần thể. Chúng ta kể chuyện về người khác và cho người khác. Các câu chuyện giúp ta dõi theo những gì đang xảy ra trong cộng đồng của mình. Một thế giới an toàn, tưởng tượng trong câu chuyện có thể là một dạng cơ sở rèn luyện, nơi mà ta có thể thực hành việc tương tác với người khác và học tập các phong tục, tập quán của xã hội. Và các câu chuyện có một quyền năng độc nhất vô nhị trong việc thuyết phục và thúc đẩy, bởi vì chúng lôi cuốn cảm xúc và khả năng đồng cảm của ta.

Một câu chuyện hay

Kể chuyện là một trong những đặc tính của con người vốn thật sự có tính phổ quát xuyên suốt các nền văn hoá và trong toàn thể lịch sử được biết đến. Các nhà nhân chủng học đã tìm ra được chứng cứ về những câu chuyện dân gian ở khắp nơi thuộc những nền văn hoá cổ xưa, được viết bằng tiếng Sanksrit, Latin, Hi-lạp, Trung-quốc, Ai-cập và Sumer. Con người sống trong các hình thức xã hội đã thêu dệt nên các câu chuyện, từ những người kể chuyện truyền miệng trong những bộ lạc săn bắt-hái lượm cho đến hàng triệu nhà văn cho ra đời hàng loạt sách vở, các chương trình truyền hình và phim ảnh. Và khi một hành vi điển hình xuất hiện trong nhiều xã hội khác nhau, các nhà nghiên cứu chú ý đến: cái gốc rễ của nó có thể cho chúng ta biết điều gì đó về quá khứ tiến hoá của mình.

Để nghiên cứu về việc kể chuyện, các nhà khoa học trước tiên phải xác định cái gì tạo thành một câu chuyện, và điều đó có thể trở nên khó nhằn. Bởi vì có quá nhiều dạng khác nhau, các học giả thường xác định cấu trúc của truyện, được biết đến với lối kể chuyện, bằng việc giải thích cái  gì không phải vậy. Sự giải trình thì trái ngược với lối kể chuyện bởi cái tính đơn giản và thẳng thừng trong lời giải thích, như một danh sách các sự kiện hay một mục từ trong cuốn bách khoa thư. Một lối tiếp cận chuẩn khác định nghĩa câu chuyện là một dãy các sự kiện liên kết nhau theo nhân quả dần dần được bộc lộ ra theo thời gian. Một định nghĩa thứ ba gắn liền với vấn đề chủ thể của câu chuyện điển hình: những tương tác của các tác nhân có chủ đích – các nhân vật với tâm thức – những người sở hữu những sự thôi thúc khác nhau.

Dù câu chuyện được định nghĩa ra sao, con người vẫn biết nó khi họ cảm nhận nó. Dù là hư cấu hay phi hư cấu, thì một câu chuyện sẽ đưa người xem đi xuyên qua cái chân thực tâm lí – những cảm xúc và tương tác có thể nhận biết được giữa các nhân vật. “Mọi người đều có phần cảm biến tự nhiên về cái chân thực tâm lí này,” theo lời của Raymond A. Mar, giáo sư cộng tác ngành tâm lí học của trường York University ở Toronto. “Chúng ta có thể biết được khi nào có điều gì đó có vẻ sai lạc.”

Nhưng những câu chuyện hay nhất – được kể lại qua nhiều thế hệ và được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau – thì còn làm được nhiều hơn chỉ đơn thuần đưa ra một bức tranh đáng tin cậy. Những câu chuyện này hấp dẫn người đọc, cảm xúc của họ có thể buộc chặt vào các nhân vật trong truyện. Sự đắm chìm như thế là một trạng thái mà các nhà tâm lí học gọi là “hoà vào nhân vật” (narrative transport).

Các nhà nghiên cứu chỉ vừa bắt đầu mổ xẻ những mối liên hệ giữa các biến số có thể khởi sinh ra sự hoà vào nhân vật. Một nghiên cứu năm 2004 thực hiện bởi nhà tâm lí học Melanie C. Green, giờ đang làm việc tại truờng University of North Carolina ở Chapel Hill, đã cho thấy kiến thức sẵn có và kinh nghiệm sống ảnh hưởng đến trải nghiệm việc hoà mình vào. Nhiều người tự nguyện đọc một truyện ngắn về một gã đàn ông đồng tính tham gia buổi họp mặt của hội nam sinh của trường đại học. Những người mà có bạn bè hay người nhà đồng tính thì được báo cáo lại là có mức hoà mình vào câu chuyện cao hơn, và họ cũng cảm thức được các sự kiện, bối cảnh và nhân vật trong truyện trở nên thực tế hơn. Việc hoà mình vào cũng sâu sắc hơn cho những ai có trải nghiệm trong quá khứ với những hội nam sinh hay hội nữ sinh. “Sự quen thuộc giúp cải thiện chuyện này, và một nhân vật để thông cảm cũng giúp cải thiện,” Green giải thích.

Một nghiên cứu khác do Green thực hiện đã phát hiện rằng những người thực hiện bài kiểm tra về sự đồng cảm tốt hơn, hoặc năng lực cảm thức được cảm xúc của người khác, thì những người đó sẽ hoà mình vào dễ hơn nhiều bất kể câu chuyện gì. “Dường như có một số biến đổi ở mức hợp lí, hoàn toàn thuộc về những người có thể bị lôi cuốn vào bởi những tấm thiệp thương mại của Hallmark,” Green cho biết.

Đi trong bụng người khác

Đồng cảm là phần khả năng lớn hơn mà con người có để tự đưa họ vào trong bụng người khác: chúng ta có thể qui một số trạng thái tinh thần – chú ý, ý định – cho thực thể khác. Tâm thức luận (theory of mind), khi đặc điểm này được biết đến, rất thiết yếu đối với quá trình tương tác xã hội và việc sống trong cộng đồng – và để hiểu được các câu chuyện.

Trẻ con phát triển tâm thức luận vào khoảng bốn hay năm tuổi. Một nghiên cứu năm 2007 bởi hai nhà tâm lí học Daniela O’Neil và Rebecca Shultis, cả hai đều thuộc trường University of Waterloo ở Ontario, phát hiện rằng những đứa trẻ năm tuổi có thể dõi theo những suy nghĩ của một nhân vật tưởng tượng nhưng một đứa ba tuổi thì không. Trẻ con thấy được con bò mô hình trong chuồng lẫn trên cánh đồng, và các nhà nghiên cứu bảo chúng rằng một người nông dân ngồi trong chuồng đang nghĩ về việc lấy sữa con bò đang đứng trên cánh đồng. Rồi khi được yêu cầu chỉ ra con bò mà người nông dân muốn lấy sữa, thì bọn trẻ ba tuổi đã chỉ con bò trong chuồng – chúng có quãng thời gian khó nhọc để dõi theo suy tư của nhân vật đối với con bò trên cánh đồng. Tuy vậy, những đứa năm tuổi đã chỉ ra được con bò trên cánh đồng, điều này diễn đạt một tâm thức luận.


Hình 1.
Trẻ con phát triển “tâm thức luận,” khả năng qui kết tư duy cho thực thể khác, vào độ bốn hay năm tuổi. Khả năng này là điều cần thiết cho đời sống xã hội – và cho việc thưởng thức truyện.

Có lẽ bởi vì tâm thức luận quá cần thiết cho việc sống trong xã hội, một khi ta sở hữu chúng, ta thường có xu hướng hình dung ra tâm thức ở mọi nơi, tạo ra câu chuyện từ mọi thứ. Một nghiên cứu kinh điển năm 1944 thực hiện bởi Fritz Heider và Mary-Ann Simmel, sau này làm việc ở trường Smith College, đã khéo léo trình bày xu hướng này. Những nhà tâm lí học này cho người ta thấy một chuyển động hoạt hình của một cặp hình tam giác và một hình tròn đang di chuyển vòng quanh một hình vuông và hỏi những người tham gia thí nghiệm chuyện gì đang diễn ra. Những người đó mô tả khung cảnh như thể các hình dạng có chủ ý và có sự thôi thúc – ví dụ, “Hình tròn đang đuổi theo hai hình tam giác.” Nhiều nghiên cứu từ đó đã xác nhận tính ưa chuộng của con người trong việc tạo ra nhân vật và câu chuyện từ bất kì điều gì ta thấy trong thế giới xung quanh mình.

Nhưng cái gì có thể là lợi thế tiến hoá của việc nhiễm những câu chuyện huyễn tưởng? “Người ta có lẽ mong chờ chọn lọc tự nhiên sẽ loại bỏ bất kì khuynh hướng nào trong việc tham gia vào những thế giới tưởng tượng thay vì thế giới thực,” theo Steven Pinker, nhà tâm lí học tiến hoá của trường Harvard University, trong ấn bản tháng tư năm 2007 của tờ Philosophy and Literature. Pinker tiếp tục lập luận phản bác lại tuyên bố này, cho rằng các câu chuyện là công cụ quan trọng cho việc học tập và phát triển những mối quan hệ với người khác trong một nhóm xã hội. Và hầu hết các nhà khoa học đều bắt đầu đồng ý: các câu chuyện có một sức mạnh như thế và có sức lôi cuốn phổ quát mà nguồn gốc thần kinh của cả hai việc kể chuyện lẫn thưởng thức chúng có lẽ được buộc chặt vào những phần thiết yếu thuộc mảng tri nhận xã hội của ta.

Như tổ tiên của ta đã tiến hoá để sống trong những nhóm hội, giả thuyết tiếp tục, họ phải làm cho những mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp trở nên có ý nghĩa. Sống trong một cộng đồng cần theo dõi những thành viên trong nhóm là ai và họ đang làm gì. Có cách gì để truyền tải những thông tin như thế tốt hơn việc kể chuyện?

Thật vậy, ngày nay con người dùng hầu hết các cuộc chuyện trò để kể những câu chuyện cá nhân và tán gẫu. Một nghiên cứu năm 1997 bởi nhà nhân chủng học và nhà sinh vật học tiến hoá Robin Dunbar, sau này làm việc ở trường University of Liverpool của nước Anh, đã phát hiện ra rằng những chủ đề xã hội chiếm lĩnh 65 phần trăm thời lượng nói chuyện giữa mọi người ở chốn công cộng, bất kể tuổi tác hay giới tính.

Các nhà nhân chủng học ghi nhận rằng việc kể chuyện có lẽ còn tiếp tục trong nền văn hoá loài người bởi vì nó đẩy mạnh tính gắn kết xã hội giữa các nhóm người và dùng làm phương pháp giá trị để truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau. Nhưng một số nhà tâm lí học bắt đầu tin rằng các câu chuyện cũng có tác động quan trọng lên những cá nhân đơn lẻ – thế giới tưởng tượng có thể dùng làm nơi thí nghiệm các kĩ năng xã hội cần thiết.

“Nếu bạn tập luyện để thành phi công, bạn sẽ bỏ thời gian trong một máy mô phỏng chuyến bay,” theo lời của Keith Oatley, giáo sư tâm lí học tri nhận ứng dụng của trường University of Toronto. Nghiên cứu ban đầu thực hiện bởi Oatley và Mar cho biết các câu chuyện có thể đóng vai trò như là “máy mô phỏng chuyến bay” đối với đời sống xã hội. Một nghiên cứu năm 2006 gợi ý một sự liên kết giữa sự thưởng thức câu chuyện và những khả năng xã hội được cải thiện tốt hơn. Các nhà nghiên cứu dùng những bài kiểm tra tự báo cáo và đánh giá để quyết định năng lực và sự đồng cảm xã hội giữa 94 sinh viên, họ cũng khảo sát số sinh viên này về việc nhận ra tên của những tác giả viết tác phẩm kể chuyện hư cấu và những tác phẩm phi hư cấu không có tính kể chuyện. Họ phát hiện rằng những sinh viên nào từng tiếp xúc với tác phẩm hư cấu nhiều hơn thì có xu hướng làm bài kiểm tra năng lực và đồng cảm xã hội tốt hơn. Mặc dù kết quả gây tranh cãi, nhưng những người thực hiện nó cảnh báo rằng nghiên cứu này không nhằm khảo sát nguyên nhân và hệ quả – tiếp xúc với các câu chuyện có thể mài giũa những kĩ năng xã hội như các nhà nghiên cứu đã ngờ vực, nhưng có lẽ những cá nhân nào hoà đồng bẩm sinh thì đơn giản là nên cố tìm nhiều câu chuyện hư cấu hơn.

Có những cuộc nghiên cứu chụp ảnh cắt lớp để ủng hộ cho ý tưởng rằng các câu chuyện có vai trò như là sự thực hành cho đời sống thực, những cuộc nghiên cứu này biểu lộ hoạt động của bộ não trong quá trình xem người thật và nhân vật hoạt hình. Năm 2007, Mar tiến hành một nghiên cứu bằng cách dùng phim Waking Life, một phim năm 2001 trong đó có những đoạn trực tiếp các diễn viên được vẽ lại để các nhân vật có vẻ như là những hình vẽ hoạt hình. Mar dùng chụp cộng hưởng từ chức năng để quét bộ não của những người tình nguyện khi họ xem những đoạn hình ảnh trùng khớp nhau của những diễn viên người thật và các nhân vật hoạt hình tương ứng. Trong suốt khi chiếu đoạn có người thật, hoạt động não bộ tăng vọt lên mạnh mẽ ở các nếp gấp vùng thái dương bên phải (superior temporal sulcus) và nơi tiếp giáp giữa thuỳ đỉnh và thuỳ thái dương (temporoparietal junction), những khu vực liên hệ với việc xử lí hình ảnh chuyển động của vật thể sinh học. Những vùng tương tự vậy cũng trỗi lên ở mức thấp hơn đối với đoạn phim hoạt hình. “Sự khác biệt trong quá trình kích hoạt não bộ này có thể là cách làm sao ta có thể phân biệt được giữa tưởng tượng và thực tại,” Mar cho biết.

Khi các nhà tâm lí học xem xét tình yêu của ta dành cho các câu chuyện để tìm manh mối về lịch sử tiến hoá của ta, thì các nhà nghiên cứu khác bắt đầu nghiên cứu chủ đề và loại nhân vật xuất hiện nhất quán trong các câu chuyện từ mọi nền văn hoá. Công trình của họ hé lộ ra những điểm tương đồng phổ quát có thể phản ánh tâm thần được tiến hoá và chia sẻ của loài người.

Con trai gặp con gái…

Một nghiên cứu năm 2006 tiến hành bởi Jonathan Gottschall, giáo sư Anh ngữ của trường Washington & Jefferson College, đã phát hiện những mô tả có liên quan về một cuộc tình lãng mạn trong những câu chuyện cổ rải rác xuyên suốt không gian và thời gian. Ý tưởng về cuộc tình lãng mạn theo truyền thống không được xem có tính phổ quát về mặt văn hoá bởi vì có nhiều xã hội mà hôn nhân chính yếu là việc cân nhắc về kinh tế hay vị lợi. Nhưng nghiên cứu của Gottschall cho thấy thay vì là niềm tin của những xã hội nhất định, thì cuộc tình lãng mạn ắt hẳn có gốc rễ từ tổ tiên chung của chúng ta. Nói cách khác, lãng mạn – không chỉ là tình dục – có cơ sở sinh học nằm bên trong bộ não.

“Bạn tìm ra được những tính chất chung này,” Gottschall cho biết. Ông là một trong vài  học giả, được biết một cách thân mật như là người theo thuyết Darwin nghiên cứu về văn chương, khẳng định rằng các chủ đề của truyện không chỉ đơn giản trỗi dậy theo từng nền văn hoá riêng biệt. Thay vào đó các nhà nghiên cứu văn chương theo thuyết Darwin đưa ra ý rằng các câu chuyện từ khắp nơi trên thế giới có những chủ đề phổ quát phản ánh đặc điểm sinh học chung ngầm bên dưới của chúng ta.

Một nghiên cứu khác của Gottschall công bố vào đầu năm 2008 tiết lộ một tâm tính dai dẳng liên quan đến vai trò của giới tính. Đội ngũ của ông làm một phân tích nội dung về 90 bộ sưu tập truyện dân gian, mỗi bộ sưu tập bao gồm 50 đến 100 truyện, từ các xã hội trải dài từ các quốc gia công nghiệp đến những bộ lạc săn bắt-hái lượm. Họ phát hiện tràn ngập những mô tả về giới tính tương tự nhau  nhấn mạnh về nhân vật nam chính mạnh mẽ và người đẹp nữ. Để đối trọng với khả năng những người kể chuyện phái nam thiên vị về sự lí tưởng hoá của giới tính, thì đội ngũ đó cũng lấy mẫu từ các nền văn hoá vốn có tính quân bình cao hơn và ít bị kiểm soát bởi nam giới hơn.


Hình 2.
Nhân vật nam mạnh mẽ và nhân vật nữ xinh đẹp trong Ramayana là kiểu mẫu thường thấy trong nhiều nền văn hoá khác biệt nhau

“Chúng tôi thậm chí không thể tìm thấy một nền văn hoá nhấn mạnh hơn vào người đẹp phái nam,” Gottschall nhận định, giải thích rằng mẫu nghiên cứu có số nam chính nhiều gấp ba lần so với số nữ chính và gấp sáu lần khi đề cập đến người đẹp nữ so với người đẹp nam. Ông cho biết sự khác biệt đó trong các khuôn mẫu giới tính có thể phản ánh sự nhấn mạnh theo thuyết Darwin cổ điển về sức khoẻ sinh sản ở phụ nữ, đuợc biểu hiện bởi tuổi trẻ và sắc đẹp, và về năng lực đáng được ao ước của phái nam để đóng góp cho gia đình, được biểu hiện bởi sức mạnh thể chất và thành công.

Những chủ để truyện phổ quát khác tiết lộ những mong muốn và nhu cầu cơ bản của chúng ta. “Câu chuyện liên quan về những con người theo đuổi mục tiêu nào đó,” theo lời của Patrick Colm Hogan, giáo sư Anh ngữ và văn chương đối chiếu của trường University of Connecticut. “Những mục tiêu chuẩn phần nào là kết quả của việc hệ thống cảm xúc của ta được thiết lập như thế nào.”

Hogan không tự xem mình là nhà nghiên cứu văn chương theo thuyết Darwin, nhưng nghiên cứu của ông về mọi thứ từ những bài thơ Hindu hùng tráng như Ramayana cho đến những chuyển thể phim của Shakespeare đã ủng hộ cho ý tưởng rằng các câu chuyện tiết lộ điều gì đó về cảm xúc ngự trị trong tâm thức con người. Có chừng hai phần ba trong số những câu chuyện đáng trân trọng về truyền thống kể chuyện dường như là những biến thể của ba hình mẫu, hay khuôn mẫu, của việc kể chuyện, theo Hogan cho biết. Hai khuôn mẫu thường thấy nhất là những cảnh lãng mạn hoặc mang chất anh hùng – cái trước tập trung về những gian nan và khó nhọc trong tình yêu, trong khi đó cái đặc điểm sau bàn về vấn đề đấu tranh sức mạnh. Khuôn mẫu thứ ba, mà Hogan đặt tên là “hi sinh”, tập trung về sự dồi dào ruộng đất so với nạn đói kém cũng như về sự cứu rỗi xã hội. Những chủ đề này xuất hiện lặp đi lặp lại khi con người tạo ra những bản ghi chép truyện về những nhu cầu cơ bản nhất của mình: thức ăn, sinh sản và địa vị xã hội.

Hạnh phúc mãi về sau

Sức mạnh của các câu chuyện không dừng lại ở khả năng tiết lộ các hoạt động ở tâm thức của ta. Truyện kể cũng là một công cụ thuyết phục có uy lực, theo Hogan và những nhà nghiên cứu khác, và nó có khả năng định hình niềm tin và thay đổi tâm thức.

Các nhà làm quảng cáo từ lâu đã tận dung tính thuyết phục của câu chuyện kể bằng cách rải vào những nhân vật đáng yêu hay những câu chuyện hài hước ở trong các chương trình quảng cáo. Một nghiên cứu năm 2007 bởi nhà nghiên cứu marketing Jennifer Edson Escalas của trường Vanderbilt University phát hiện ra rằng những người tham gia thí nghiệm phản ứng tích cực hơn với những quảng cáo ở dạng kể chuyện so với những quảng cáo thẳng thừng thuyết phục người xem nghĩ về các lí lẽ cho một sản phẩm nào đó. Tương tự vậy, Green đồng tác giả cho một nghiên cứu năm 2006 cho thấy rằng những thông tin có nhãn hiệu “sự thật” sẽ làm tăng sự phân tích bình phẩm, trong khi đó những thông tin mang nhãn “hư cấu” có hiệu ứng ngược lại. Những nghiên cứu như thế này cho thấy con người sẵn sàng chấp nhận các ý tưởng hơn khi tâm trí họ đang ở trong phương thức về câu chuyện trái với lúc họ đang trong trạng thái phân tích.

Những tác phẩm hư cấu thậm chí có thể có những hệ quả ở thế giới thực ngoài mong đợi đối với sự lựa chọn của con người. Merlot là một trong những loại rượu vang đỏ nổi tiếng của người Mĩ cho đến khi một bộ phim năm 2005 Sideways khắc hoạ nam diễn viên Paul Giamatti như một người yêu rượu khó tính đã khinh rẻ loại rượu đó, coi như là loại thường và hạ cấp. Các nhà làm rượu đã thấy được sự sụt giảm đáng chú ý về doanh số bán rượu vang đỏ năm đó, đặc biệt sau khi Sideways thu hút được sự chú ý tầm quốc gia nhờ vào vài đề cử Oscar.


Hình 3.
Doanh số bán rượu Merlot tụt xuống nhanh chóng sau khi nhân vật Paul Giamatti khinh rẻ loại ruợu vang đỏ này trong bộ phim Sideways

Khi các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu sức mạnh và tính thuyết phục của việc kể chuyện. Một số như Green đang nghiên cứu làm thế nào mà các câu chuyện có thể mang tính ứng dụng trong việc đưa ra những thông điệp lành mạnh về sức khoẻ. “Nhiều vấn đề dựa trên hành vi,” Green cho biết, hướng đến nghiên cứu đưa ra tài liệu về ảnh hưởng của phim Hollywood đối với thói quen hút thuốc của trẻ vị thành niên. Mar và Oatley muốn xem xét sâu hơn làm thế nào các câu chuyện có thể cải thiện các kĩ năng xã hội bằng cách hoạt động như là những máy mô phỏng đối với bộ não, điều này có thể lật ngược lại cái ý cho rằng mọt sách thì không có khả năng hoà nhập cộng đồng.

Một điều rõ ràng – mặc dù nghiên cứu về các câu chuyện chỉ vừa bắt đầu, nhưng nó đã cho thấy sự phong phú thông tin về cái gốc rễ xã hội trong tâm thức con người – và, trong khoa học, đó là một kết cục có hậu.


Phụ lục: Câu chuyện trong bộ não

Những nghiên cứu chụp ảnh cắt lớp đã phát hiện ra hoạt động liên hệ với câu chuyện ở bán cầu não phải. Những mẫu hình đối với việc xử lí câu chuyện khác với những mẫu hình liên quan đến các tác vụ tinh thần, ví dụ như việc tập trung hay nối kết lại những câu chữ để lĩnh hội được ngôn ngữ.

Raymond A. Mar, hiện đang làm việc ở trường York University ở Toronto, đánh giá cuộc nghiên cứu chụp ảnh cắt lớp như thế trong một bài viết năm 2004. Những khu vực có vẻ thiết yếu cho việc tạo ra hoặc thông hiểu câu chuyện bao gồm vùng vỏ não trán trước (prefrontal cortex) ở giữa (màu hồng), và ở bên (màu xanh lá), nơi cư ngụ để hoạt động trí nhớ, giúp cho việc sắp các thông tin thành chuỗi và biểu trưng cho các sự kiện trong truyện. Vùng vỏ não vành đai (cingulate cortex) (màu cam) có thể liên quan đến việc thêm vào hình ảnh thị giác không gian và kết nối trải nghiệm cá nhân với câu chuyện để thêm vào sự thông hiểu.

Những vùng trong não bộ như vỏ não trán trước ở giữa, nơi tiếp giáp giữa thuỳ đỉnh và thuỳ thái dương (temporoparietal junction) (màu đỏ) và hai cực thái duơng (màu tím) cũng có thể cùng nhau hoạt động để trợ giúp việc nhận diện trạng thái tinh thần của các nhân vật. Khả năng đọc được động cơ thúc đẩy và ý định của người khác khiến chúng ta không chỉ hiểu về câu chuyện mà, còn thiết yếu hơn, khiến chúng ta thông hiểu được những tình huống xã hội ở đời thực – một lợi thế tiến hoá không thể chối cãi được đối với các cá nhân cũng như với các nhóm người.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
20111202.

Nguồn:

Hsu, Jeremy. “The Secrets of Storytelling.” Scientific American Mind, August/September, 2008: 46-51.

Advertisements

2 comments on “Jeremy Hsu – Những bí mật của việc kể chuyện

  1. Pingback: Keith Oatley – Trong tâm trí kẻ khác « Chiếc nón

  2. Pingback: Keith Oatley – Trong tâm trí kẻ khác « Chiếc nón

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s