J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của cánh tay và bàn tay

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của cánh tay và bàn tay

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage


Cánh tay

Trong chữ tượng hình Ai-cập, kí hiệu cánh tay tượng trưng cho hoạt động nói chung. Những kí hiệu khác bắt nguồn từ kí hiệu chính này tượng trưng cho những dạng hoạt động đặc biệt, như làm việc, cúng kiến, bảo vệ, tặng tiền bạc, v.v.. Chữ tượng hình mô tả hai cánh tay giơ lên là biểu tượng của việc cầu khẩn và tự vệ (19), là nghĩa mà được mọi người công nhận khắp nơi. Chủ đề thường trực trong các món đồ có gắn gia huy và huy hiệu là chủ đề về vũ khí được một cánh tay nắm giữ trỗi dậy từ đám mây, hoặc từ vùng xung quanh bức hình. Đó là cánh tay trừng phạt của Đức Jehovah Vạn quân [Lord of Hosts], hoặc là lời kêu gọi trả thù từ cõi thiên đàng (39).

Bàn tay

Trong tiếng nói người Ai-cập, cụm từ dùng nói về bàn tay có liên hệ với cụm từ mô tả tảng đá lớn (hoặc sự hậu thuẫn, hoặc sức mạnh) và liên hệ với lòng bàn tay (4). Trong các học thuyết bí truyền, vị trí bàn tay đối với với cơ thể, và sự sắp đặt các ngón tay, chứa đựng những ý niệm biểu tượng chuẩn xác (48). Theo hệ thống chữ tượng hình Ai-cập, bàn tay biểu thị cho sự biểu lộ, cho hành động, cho việc tặng vật phẩm và cho công việc đồng ruộng. Con mắt theo mối liên hệ với bàn tay – như ví dụ trong một số sinh vật thần thoại – biểu trưng cho ‘hành động nhãn thông’ (19). Schneider thừa nhận vai trò chính yếu thuộc về bàn tay ‘bởi vì nó là sự biểu lộ thể chất của trạng thái nội tại của con người’ và bởi vì ‘nó thể hiện thái độ của tâm thức theo những vấn đề khác hơn là về âm thanh’ – hoặc, nói cách khác, là về cử chỉ. Theo đó, bàn tay giơ lên là biểu tượng của tiếng nói và của bản nhạc; bàn tay đặt trên ngực cho biết thái độ của nhà hiền triết; đặt trên cổ hàm ý sự hi sinh; hai bàn tay hoà nhập vào nhau biểu thị cuộc hôn nhân huyền bí – là quá trình cá thể hoá của Jung [individuation]; bàn tay bao lấy đôi mắt tượng trưng cho sự nhãn thông vào thời khắc trước cái chết (50). Một điều tối quan trọng là việc bàn tay có năm ngón, trước nhất, bởi vì tính tương tự ở mức rộng đối với hình người (bao gồm bốn bộ phận ở cực điểm cộng với cái đầu), và, thứ nhì, theo lí do của tính biểu tượng con số năm (chỉ tình yêu, sức khoẻ và tính nhân văn) (40). Trong chữ tượng hình Ai-cập, bàn tay mở ra biểu thị bất kì nhiệm vụ đặc biệt nào của con người cũng như biểu thị lực từ (19) – một ý tưởng mang đặc tính của vùng châu Mĩ thời kì tiền Columbus. Và có một niềm tin tương tự y vậy nằm phía sau tính hiệu dụng phổ biến trong vai trò là một tấm bùa hộ mạng trong văn hoá Hồi-giáo.

Theo tư tưởng của Berber, bàn tay biểu thị sự che chở, uy quyền, quyền năng và sức mạnh; cái manus [tiếng Latin, nghĩa là bàn tay] có cùng một nghĩa đối với người La-mã, biểu trưng đặc biệt cho uy quyền của pater familias [vị gia trưởng, tiếng Latin] và của hoàng đế, và thỉnh thoảng được xem như là signum [kí hiệu, tiếng Latin] hàng đầu của đội quân La-mã, nằm trên vị trí của con chim ưng hoàng gia. Trong những lá bùa hộ mạng của Hồi-giáo được nói bên trên, hình thù bàn tay đã trải qua nhiều sự hiệu chỉnh hoặc xuất hiện theo mối liên hệ với những biểu tượng khác, ví dụ như ngôi sao, chim bồ câu, loài chim, cái quạt, hình zigzag và hình tròn, tạo thành những tấm huy hiệu có thể đối chiếu với huy hiệu của phương Tây thời Thiên-chúa-giáo (12). Một huy hiệu tương tự vậy về “những bàn tay nắm lấy nhau” là biểu hiện cho tinh thần bằng hữu đầy nhiệt huyết, hoặc cho sự đoàn kết khi đối mặt với hiểm nguy (49). Theo quan điểm của Jung, bàn tay có tính chất tạo nghĩa phát sinh (31). Người ta thường bỏ qua sự khác biệt giữa bàn tay phải và trái, nhưng khi sự khác nhau này định hình, nó xuất hiện chỉ để phục vụ cho mục đích làm phong phú thêm sự tạo nghĩa cơ bản với một số hàm ý thêm vào về tính biểu tượng không gian, mặt phải tương ứng với lí tính, với ý thức, luận lí học và với tinh thần nhiệt huyết; bên trái tượng trưng cho điều ngược lại (33). Có những hình ảnh về luyện đan tượng trưng một vị vua nắm chặt bàn tay trái của hoàng hậu bằng chính tay trái của mình. Jung cho rằng đều này có thể có liên hệ với đặc điểm vô thức của sự hợp nhất đó nhưng nó cũng có thể cho biết về sự yêu mến hoặc về sự nghi ngờ (33).

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20120115



Nguyên chú của tác giả:

(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951).

(12) COLA, J. Tatuajes y amuletos marroquíes, Madrid, 1949.

(19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932.

(31) JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956.

(33)  JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954.

(39) MARQUÈS RIVIÈRE, J. Amulettes, talismas et pantacles. Paris, 1950.

(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939.

(48) PIOBB, P. V. Clef universelle des sciences secrètes. Paris, 1950.

(49) SAUNIER, Marc. La légende des symboles, philosophiques religieux et maçonniques. 2nd edn. Paris, 1911.

(50) SCHNEIDER, Marius. El origen muscial de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946.


Nguồn:

Cirlot, J. E. “Arm” & “Hand.”  A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s