Nửa đêm ở hội hè miên man


Đọc cuốn A Moveable Feast (Hội hè miên man) của Ernest Hemingway và xem phim Midnight in Paris (2011) của Woody Allen

Một Paris của Hemingway

Ernest Hemingway (1899-1961), đoạt giải Nobel Văn chương năm 1954, là một trong những nhà văn vĩ đại của văn chương Mĩ nói riêng và văn chương thế giới nói chung. Ông có một cuộc đời trai trẻ sôi động, từng tham gia cả hai cuộc chiến tranh thế giới và cả nội chiến Tây-ban-nha, và phiêu bạc đây đó ở châu Âu những năm 1920. Tuổi trẻ của Hemingway rất phong phú và hào sảng, trong đó đặc biệt nhất là khoảng thời gian ông sống tại Paris cùng với người vợ đầu của mình, Hadley. Cuốn sách A Moveable Feast của Hemingway chính là hồi ức của ông về những năm tháng tận hưởng cái không khí và phong thái của kinh đô nước Pháp, một cuốn sách mà mãi đến sau này khi Hemingway qua đời thì người ta mới phát hiện ra. Toàn bộ cuốn sách như những nét phác thảo sơ lược chứ không phải là một biên niên kí, nên độc giả sẽ không biết được toàn bộ đời sống của ông tại Paris thời điểm đó. Có hai mươi phần nhỏ trong cuốn sách, hầu hết các phần độc lập với nhau, mỗi phần là một trải nghiệm ngắn ngủi, một cái nhìn lướt qua về một khía cạnh nào đó, và tất cả đều góp phần tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về cuộc sống thời trẻ của Hemingway ở Paris. 

“Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân, thì cho dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man.
ERNEST HEMINGWAY, thư cho một người bạn, 1950.”

Hemingway tới Paris cùng với Hadley vào tháng 12/1921, và nhờ vào những lá thư giới thiệu của Sherwood Anderson [1] mà Hemingway sớm quen biết được với những nhân vật lừng lẫy của văn chương Mĩ thời bấy giờ như Gertrude Stein, Ezra Pound và Sylvia Beach (người chủ một tiệm sách nhỏ ở Paris mang tên Shakespeare and Company, nơi lui tới của nhiều văn sĩ trong đó có cả James Joyce, và đó cũng là nơi đỡ đầu xuất bản kiệt tác của James Joyce, cuốn Ulysses). Sau đó ông còn gặp được những văn sĩ thiên tài khác như James Joyce, T.S. Eliot, Scott Fitzgerald,  v.v.. Qua những mảng hồi ức của Hemingway, có thể thấy một Paris sinh động, dập dìu những văn nhân, nghệ sĩ trong những cuộc vui, những cuộc trò chuyện về cuộc sống, về văn chương, nghệ thuật. Dường như Paris đóng một vai trò vô cùng thiết yếu trong nền học vấn của Hemingway, khi tại đây ông học hỏi được rất nhiều từ hai người bạn, cũng là hai bậc tiền bối của mình: Gertrude Stein và Ezra Pound. Họ là những người đưa ra những phê bình hữu ích, chỉ dẫn Hemingway nhiều thứ trong cuộc sống viết lách. Rồi cũng tại Paris, ông có thể đọc sách thoải mái nhờ mượn sách từ tiệm Shakespeare and Company của Sylvia Beach, để từ đó hấp thu được ngôn ngữ của nền văn chương hiện đại. Thuở đó Hemingway say mê văn chương Nga với những Turgenev, Gogol, Tolstoy, Dostoyevsky, Chekhov:

“…Hồi còn ở Toronto, trước khi chúng tôi đi Paris, người ta bảo Katherine Mansfield là người viết truyện ngắn giỏi, thậm chí là một nhà văn viết truyện ngắn vĩ đại, nhưng sau khi đã đọc Chekhov thì cố gắng đọc truyện của bà chẳng khác nào ngồi nghe bà vú già kể một câu chuyện sượng sạo có lớp lang sau khi nghe chuyện do một ông bác sĩ thông thái khúc chiết kiêm một nhà văn giản dị tài ba kể. Mansfield là một thứ gì đó gần như là bia. Mà thế thì thà uống nước lọc còn hơn. Trong khi Chekhov không phải là nước, ngoại trừ sự trong trẻo. Có một vài truyện như thể loại báo chí. Nhưng có những truyện thật quá tuyệt vời.
      Ở Dostoyevsky có những thứ tin được và không tin được, nhưng có những thứ quá thật đến nỗi khi đọc chúng con người ta thay đổi; ở đó có sự mong manh và điên rồ, sự đồi bại và thánh thiện cùng những cơn say bạc điên loạn, cũng như với Turgenev là phong cảnh và những con đường, hay với Tolstoi là những cuộc chuyển quân, địa thế địa hình, sĩ quan lính lác và những cuộc chiến. Tolstoi khiến những trang viết của Stephen Crane về Nội chiến chỉ là trò tưởng tượng phong phú của một đứa trẻ ốm yếu chỉ biết đến chiến tranh qua sách vở hay qua những tấm ảnh chụp của Brady mà tôi từng thấy trong nhà ông bà tôi ngày trước…”
(“Hội hè miên man” của Hemingway – Phan Triều Hải dịch)

Thập niên 1920 là thời kì mà người Pháp gọi là les années folles (những năm tháng điên rồ). Thời đó Paris như là thủ phủ của chủ nghĩa hiện đại, nhiều dòng chảy từ nghệ thuật, âm nhạc đến văn chương đều tập trung và nảy nở tại kinh thành ánh sáng này – từ Picasso, Duchamp, đến Stravinsky, Poulenc và Satie, từ Breton, Proust, Stein đến Joyce [2]. Sống trong những năm tháng buông thả và tràn đầy nhiệt huyết, giữa sách vở và nghệ thuật, thật sự là một sự may mắn, là một kho báu vô giá. Như Hemingway cũng đã thừa nhận như vậy trong cuốn A Moveable Feast này: “Việc ta được hoà mình vào một thế giới văn chương hoàn toàn mới lạ và có thời gian đọc sách trong một thành phố như Paris, nơi có thể sống và làm việc thoải mái bất kể giàu nghèo thế nào, chẳng khác gì được ban cho kho báu tuyệt vời.”

Đọc A Moveable Feast, ta thấy một Gertrude Stein có sức ảnh hưởng đến Hemingway thế nào, nhưng cũng chính Stein đã góp phần khiến ông “không bao giờ tìm lại được một tình bạn đúng nghĩa nữa, kể cả trong tim lẫn trong đầu”. Rồi qua những mảnh hồi ức của Hemingway, ta thấy được một người bạn, đồng thời là một nhà văn mà Hemingway rất nể phục: Ezra Pound. “Ezra Pound bao giờ cũng là một người bạn tốt và luôn giúp đỡ người khác.” Chính Pound và tổ chức Bel Esprit của mình đã đứng ra quyên tiền để giải cứu T. S. Eliot khỏi ngân hàng để ông này có thể tiếp tục trên con đường thi ca. Nhưng có một nhân vật đặc biệt, mà Hemingway đã dành ra ba phần trong tổng số hai mươi phần để viết về người này, đó là Scott Fitzgerald:

“Tài năng của ông tự nhiên như hoa văn bụi phấn trên cánh bướm. Đã có lúc ông cũng như bướm, không biết lúc nào hoa phấn sẽ bay đi hay tàn tạ. Sau này, ông ý thức hơn về đôi cánh bị tổn thương của mình và cấu trúc của chúng, ông biết suy nghĩ hơn, nhưng bao giờ được nữa vì niềm say mê bay lượn đã cạn, và ông chỉ còn biết nhớ về một thuở khi mọi thứ đến cứ nhẹ nhàng như không.”

Phần gặp gỡ với Scott Fitzgerald tại Paris năm ấy có lẽ là phần hài hước và thú vị nhất trong cả cuốn sách, đặc biệt là chuyến du lịch nho nhỏ đến Lyon của hai nhà văn lớn này. Từ việc Hemingway bị Scott Fitzgerald bị cho “leo cây” nên đành phải ngủ trong một khách sạng tương đối sang trọng cùng với sách của Turgenev trong đêm đầu tiên đến Lyon, cho đến chuyến về Paris bằng xe hơi của Fitzgerald, đến cảnh hai người nghỉ chân tại một khách sạn dọc đường và Fitzgerald lúc đó nằm dưỡng sức vì cho rằng mình đang bệnh, rồi càm ràm, vòi vĩnh Hemingway này kia. Từ những dòng hồi ức của Hemingway, có thể thấy được một sự cảm thông đối với Scott Fitzgerald, vì theo Hemingway, Scott Fitzgerald bị bà vợ của mình, Zelda, hành hạ quá mức, đến nỗi lúc nào cũng bị lôi vào những cuộc vui chè chén say khướt không thể làm gì được. Và dù bị Scott Fitzgerald phiền nhiễu rất nhiều, nhưng đối với Hemingway, thì Scott Fitzgerald vẫn là người bạn rất thân thiết, như ông đã viết: “…trong từng ấy năm tôi không có người bạn nào thân thiết hơn Scott mỗi khi anh tỉnh táo.”

Một Paris với những buổi gặp gỡ bạn bè, những buổi ngồi viết lách tại quán nước, những lần đi mượn sách tại Shakespeare and Company, những lần đem cái bụng đói meo của mình đến thưởng thức tranh tại bảo tàng Luxembourg, v.v.. Tất cả hiện ra chớp nhoáng và gần như rời rạc, bởi vì đây không phải là hồi kí mà chỉ là những hồi tưởng của một Hemingway, lúc ấy đã trở thành một ông già, nhìn lại quãng đời trai trẻ của mình khoảng 35 năm về trước, quãng thời gian có lẽ là đẹp nhất của đời ông, đó là một Paris “của thuở ban đầu, khi chúng tôi còn rất nghèo và hạnh phúc.”

Và một Paris của Woody Allen

Lấy cảm hứng từ cuốn A Moveable Feast, năm 2011, Woody Allen cho ra bộ phim Midnight in Paris. Bộ phim nội dung nói về một anh chàng nhà văn trẻ, trong một chuyến du lịch tới Paris đã vô tình bước vào cái thế giới huyền ảo của Paris những năm 1920. Tại đây anh chàng gặp gỡ nhiều nhân vật đình đám của giới văn nghệ sĩ thời đó như Hemingway, Scott và Zelda Fitzgerald, Gertrude Stein, Pablo Picasso, T. S. Eliot, bộ ba siêu thực Luis Buñuel-Salvador Dalí-Man Ray, Cole Porter, v.v..

Phim bày tỏ một sự mơ mộng của những người theo nghiệp văn chương. Nhân vật chính trong phim, và đó cũng là nhân vật đại diện cho Woody Allen, có một khao khát viết một cuốn tiểu thuyết thật ra trò để có thể đứng vào hàng ngũ những nhà văn Mĩ xuất sắc cùng với Hemingway hay Fitzgerald. Và chính những bước rong ruổi do lạc đường trên con đường khuya vắng lặng ở chốn đô thành mà Gil lạc vào thế giới mơ ước cùng với các văn nhân lừng lẫy sau khi chuông đồng hổ điểm đúng nửa đêm. Tiếng chuông, vốn là biểu tượng của năng lực sáng tạo [3], đã mở lối vào thế giới của những con người cống hiến cả đời cho sự sáng tạo, cho nghệ thuật.

Khả năng tái dựng lại không khí của Paris những năm 1920 cùng với việc khắc hoạ các nhân vật huyền thoại của giới văn nghệ sĩ thời ấy được thực hiện trong phim rất ấn tượng. Vì phim nói về giới văn nghệ sĩ thời kì đầu thế kỉ 20, nên người xem cần phải có một lượng kiến thức nhất định khi xem phim, ít nhất đủ để nhận diện các nhân vật tiếng tăm trong giới văn nghệ sĩ, để có thể cảm nhận được sự kết nối với bộ phim và thưởng thức được nó. Chẳng hạn, bạn sẽ không thể nào cảm nhận được sự thú vị được trong cảnh Gil gặp Salvador Dalí nếu như không biết Dalí là ai. Salvador Dalí trong phim do Adrien Brody thủ vai, và là một trong những vai ấn tượng nhất trong phim, dù cảnh Dalí xuất hiện rất ngắn ngủi. Brody diễn quá tốt và hài hước, lột tả được một Salvador Dalí với vẻ lập dị không thể lẫn vào đâu được, dù có phần hơi cường điệu.

Hình 1. Cảnh gặp gỡ giữa Gil với bộ ba siêu thực: Luis Buñuel-Man Ray- Salvador Dalí

Man Ray: A man in love with a woman from a different era. I see a photograph!
Luis Buñuel: I see a film!
Gil: I see insurmountable problem!
Salvador Dalí: I see a rhinoceros! 

Tuy nhiên, đoạn thú vị nhất là đoạn Gil gợi ý cho Luis Buñuel làm một phim với nội dung nói về một buổi tiệc mà sau khi ăn xong thì các thực khách sẽ không tài nào rời khỏi phòng ăn được. Nếu bạn không biết Luis Buñuel là ai thì có lẽ sẽ thấy đoạn này rất vô nghĩa, và chẳng thể nào bật cười hay cảm thấy thích thú trước đoạn đối thoại ngắn này giữa Gil và Buñuel, mà trong đó Woody Allen đã tinh tế lồng vào cách diễn giải ngắn gọn về bộ phim El ángel exterminador (1962):

Gil: I had a nice idea for you
Luis Buñuel: Yes?
Gil: Yeah. A group of people attend a very formal dinner. At the end of dinner, when they try to leave the room, they can’t.
Luis Buñuel: Why not?
Gil: They just can’t seem to exit the door.
Luis Buñuel: But why?
Gil: Well, momento, when they’re forced to stay together, the veneer of civilization quickly fades away, and what you’re left with is who they really are: animals.
Luis Buñuel: But I don’t get it. Why don’t they just walk out of the room?
Gil: All I’m saying is just think about it. Who knows? Maybe when you’re shaving one day, it’ll tickle your fancy
Luis Buñuel: I don’t understand. What’s holding them in the room?

Đó thật sự là một cảnh rất thú vị trong phim, đặc biệt với những ai đã từng xem phim của Luis Buñuel nói chung và phim El ángel exterminador (1962) nói riêng.

Hình 2. Cảnh xuất hiện hai vợ chồng nhà Fitzgerald – Scott và Zelda Fitzgerald.

Văn sĩ lừng lẫy đầu tiên mà Gil gặp được chính là Scott Fitzgerald. Sự xuất hiện của Scott Fitzgerald trong phim dễ làm người ta nhớ đến những gì Hemingway mô tả trong cuốn A Moveable Feast:

“Vào lúc ấy Scott đã là một người đàn ông nhưng trông như trai tơ với khuôn mặt phảng phất giữa đẹp trai và xinh xẻo. Anh có mớ tóc gợn sóng rất sáng màu, cái trán cao, đôi mắt phấn khích và thân thiện, còn cái miệng Ailen môi dài mềm mượt ấy cô gái nào có được thì phải gọi là mỹ nhân. Cái cằm anh chỉn chu, hai tai xinh xắn và chiếc mũi khiêm nhường đẹp đến mức thanh tú.”
(Trích “Hội hè miên man” của Hemingway – Phan Triều Hải dịch)

Hình 3. Cảnh xuất hiện Gertrude Stein khi bà đang ngồi ghế, ngay bên dưới bức hoạ của chính mình do Picasso vẽ

Những nhân vật khác cũng được khắc hoạ rất chuẩn xác, từ hình dáng đến tính cách, nhưng ấn tượng nhất có lẽ thuộc về Gertrude Stein, do Kathy Bates thủ vai. Trong phim, Gertrude Stein xuất hiện lần đầu khi đang tranh cãi không khoan nhượng với Pablo Picasso về một bức tranh của Picasso, một sự xuất hiện ấn tượng, rất nam tính và mạnh mẽ, cũng giống hệt như Hemingway đã viết trong A Moveable Feast:

“Miss Stein bề thế nhưng không cao, vóc dáng nặng nề như một nông dân. Bà có đôi mắt đẹp và khuôn mặt mạnh mẽ của người Do Thái gốc Đức, nhưng cũng có thể là của người Friuli, trang phục của bà gợi cho tôi nhớ đến hình ảnh một bà nông dân Ý, cùng khuôn mặt linh hoạt và mái tóc dày yêu kiều sống động của dân di cư mà bà vẫn vấn cao như thuở còn đi học. Bà nói huyên thuyên và trước tiên là nói về người này người nọ và nơi này nơi kia.”
(Trích “Hội hè miên man” của Hemingway – Phan Triều Hải dịch)

Có thể nói, toàn bộ các vai diễn trong phim đều quá xuất sắc, duy chỉ có mỗi vai chính là còn hơi gượng gạo một chút, và Woody Allen trong một bài phỏng vấn cho biết ông đã sửa lại kịch bản đôi chỗ để vai diễn hợp với Owen Wilson hơn. [4]

Hoài niệm về một thời đẹp đẽ đã trôi qua là tinh thần xuyên suốt Midnight in Paris, và đó cũng là điều mà bất kì ai cũng đều gặp phải trong cuộc đời mình. Chủ đề của phim được đề cập ngay từ ban đầu thông qua lời của nhân vật Paul: “Hoài niệm là một sự phủ nhận – phủ nhận về một thực tại đau buồn. Tên gọi dành cho sự phủ nhận này là lối suy nghĩ về một thời hoàng kim – một ý niệm sai lệch cho rằng giai đoạn kia tốt hơn cái đang sống ở hiện tại – nó là một điều lầm lạc trong trí tưởng tượng lãng mạn của những người cảm thấy khó khăn trong việc đương đầu với thực tại.” (Nostalgia is denial – denial of the painful present… the name for this denial is golden age thinking – the erroneous notion that a different time period is better than the one ones living in – its a flaw in the romantic imagination of those people who find it difficult to cope with present). Gil viết một cuốn tiểu thuyết mang tên Out of the Past, một cuốn tiểu thuyết cũng với chủ đề hoài niệm về quá khứ, và Gil đã được quay trở về quá khứ để sống trong không khí sôi động của Paris những năm 1920, một thời đã xa mà anh chàng Gil này luôn hoài vọng và hướng đến. Cũng như cô nàng Adriana trong phim, cô nàng sống ở những năm 1920, hoài niệm về thời kì La belle époque của Paris (giai đoạn cuối thế kỉ 19 đến hết thế chiến thứ nhất), và rồi cô nàng cùng với Gil quay về lại được thời đó, gặp được những hoạ sĩ danh tiếng như Henri de Toulouse-Lautrec, Paul Gaugin, Edgar Degas. Rồi tới phiên các vị thời La belle époque cũng không bằng lòng với hiện tại, và hoài niệm về thời Phục-hưng. Cứ thế, đối với những người ở một thực tại này thì thời hoàng kim luôn ở trong cái quá khứ đã xa, vì, theo như lời của Gil, hay đúng hơn là lời của Woody Allen, thì luôn có một chút gì đó không thoả mãn ở thực tại. Nhưng đó là cuộc sống và cuộc sống là vậy. Cuối cùng thì anh chàng Gil này cũng trở về thực tại, và những khoảnh khắc ngắn ngủi sống trong quá khứ chỉ là những trải nghiệm, để anh làm cho chất liệu sáng tác của mình phong phú thêm

Có thể cho rằng Woody Allen đã không khai thác triệt để ý tưởng, không đi sâu vào thêm nữa, nhưng để làm gì khi đây đâu phải một bộ phim lịch sử hay tiểu sử, mà chỉ là phim đề cập đến những hoài niệm, cứ để nó vụn vặt, cứ để nó thành những mảnh rời rạc như hai mươi mảnh hồi ức của Hemingway trong A Moveable Feast, những mảnh tốt đẹp của thời quá khứ. Những gì anh chàng Gil muốn là gặp những con người huyền thoại kia, đích thân trải nghiệm qua những buổi trò chuyện với họ, rồi thôi. Ta nhớ về những điều tốt đẹp của quá khứ không phải để bám vào nó mà để giữ nó lại, phát triển trong hiện tại, để rồi lại biến hiện tại thành một nỗi hoài niệm khác trong tương lai. Nửa đêm ở Paris với những văn nghệ sĩ huyền thoại, đó là một mơ ước của bất kì người nào yêu thích văn chương-nghệ thuật, nhưng hãy giữ nó trong đêm mà thôi.

Duy Đoàn
Sài-gòn
20120130

Chú thích:

[1] Evans, Robert C. “Ernest Hemingway.” Student’s Encyclopedia of Great American Writers. Ed. Andrea Tinnemeyer. New York: Facts on File, 2010.

[2] Kennedy, Gerald J. “Hemingway, Hadley, and Paris: The Persistence of Desire.” The Cambridge Companion to Ernest Hemingway. Ed. Scott Donaldson. New York: Cambridge University Press, 1996.

[3] Cirlot, J. E. “Bell.” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971.

[4] CANNES Q&A: Woody Allen: I Rewrote ‘Midnight’ in Paris for Owen Wilson. http://www.hollywoodreporter.com/news/cannes-qa-woody-allen-i-187102

Advertisements

One comment on “Nửa đêm ở hội hè miên man

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s