Tawada Yoko – Kí tự với vai trò chuyển tải tính chính trị và thi ca trong văn chương

Tawada Yoko

Kí tự với vai trò chuyển tải tính chính trị và thi ca trong văn chương

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Susan Bernofsky

1

Tháng mười một năm 2006, xuất hiện bản dịch mới tác phẩm “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevsky và sớm bán hết 500,000 bản. Tôi có biết người dịch giả đó, Kameyama Ikuo, cũng là tác giả của một cuốn sách thú vị về Stalin và những hoạ sĩ thời đó.

Cũng như các quốc gia khác, người dân Nhật-bản đã than vãn suốt từ thập niên 1980 trở về đây (nếu không phải lâu hơn) rằng người ta không còn đọc các tác phẩm kinh điển của văn chương thế giới nữa. Đầu tiên, nền văn hoá manga và truyền hình được xem như là thủ phạm; sau đó là Internet,  trò chơi điện tử trên máy tính và việc suốt ngày nhắn tin qua điện thoại. Số lượng sách bán ra hàng năm thật sự đang tăng lên, bởi vì manga, tiểu sử của các ngôi sao truyền hình, văn chương mạng và thậm chí văn chương trong các tin nhắn điện thoại đã xuất hiện dưới dạng sách – nhưng dù vậy người ta vẫn cứ than phiền rằng các kinh điển xưa cũ của văn chương thế giới không còn được trọng dụng nghiêm túc nữa. Và do đó cú tăng đột biến của bản Karamazov mới này quả là một ngạc nhiên đầy thích thú. Nhưng tôi đã hỏi làm thế nào mà bản dịch mới của cuốn tiểu thuyết đó có thể quá khác biệt đến mức đột nhiên hàng trăm ngàn độc giả Nhật-bản mua nó vội vã và đọc nó với sự hào hứng như vậy. Thậm chí trong thời đại mà văn chương được cho là có nhiều độc giả như hiện nay, thì Dostoevsky cũng chưa bao giờ thuộc dạng bán chạy nhất. 

“Anh em nhà Karamazov”, bản dịch mới bằng tiếng Nhật

Khi còn đi học trung học thì tôi đã đọc “Anh em nhà Karamazov” theo bản dịch của Masao Yonekawa. Tôi cũng có mua bản tiếng Nga khi đang là sinh viên năm nhất, nhưng nó quá khó đối với tôi, và do vậy tôi tiếp tục dựa vào bản dịch tiếng Nhật. Điều này không làm tôi buồn, tôi thưởng thức những thành ngữ và từ ngữ tiếng Nhật và tôi trước đó không hề biết. Bản dịch này thực hiện từ năm 1927 về mặt ngôn ngữ thì quá xa lạ đối với tôi so với truyện của Kawabata Yasunari cũng vào thời điểm đó. Đối với tôi dường như người dịch giả đã góp nhặt các từ tiếng Nhật từ nhiều khu vực, tầng lớp, thời điểm và nơi chốn và tập hợp chúng một cách kì tài để dịch một nền văn hóa ngoại quốc. Do vậy bản dịch này làm cho tiếng Nhật xuất hiện ở một phạm vị rộng hơn so với văn chương Nhật đương thời. Nhưng tính chất này của bản dich cũng yêu cầu sự kiên trì, điềm tĩnh và khả năng duy trì mà một độc giả cần thực hiện. Tôi cố trích ra một quan niệm văn hóa xa lạ đối với tôi từ một kết hợp lạ thường của hai tính từ. Những quan niệm kiểu đó sẽ xuất hiện ở những nơi và trong những niềm sung sướng không ai mong đợi. Tôi học rất nhiều về bản chất không nhượng bộ của một dịch giả giỏi. Đọc một cuốn thuộc hàng bán chạy, mặt khác, tôi chưa bao giờ có được cảm giác rằng có một thứ gì đó mà tôi không thể hiểu ngay được. Tôi chối từ một cách phẫn nộ cái bí mật rằng những cuốn bán chạy thỉnh thoảng cũng đưa ra sự vực dậy đối với những độc giả đã mệt mỏi rã rời. Tôi thích thú với những chất kích thích mới lạ hơn và tìm chúng trong bản dịch của Dostoevsky, vốn là thứ rất khó tiêu hoá.

Liệu cuốn tiểu thuyết “Anh em nhà  Karamazov” có được dịch theo cái cách mà nó mang lại cảm giác đọc mượt mà và trôi chảy như một cuốn sách bán chạy nhất? Tôi đã mua bản dịch mới, đọc một trăm trang đầu, và kết luận rằng mỗi cụm từ được dung trong bản dịch có vẻ dễ tiếp cận và có nhịp điệu ổn. Trong cuốn sách này, người ta đã dập tắt cái hương vị và bụi bậm từ một xã hội ngoại quốc. Các nhân vật được nhận diện nhanh chóng từ một nhân vật khác mặc cho sự không nhất quán của các nhân vật. Bất kể người ta có đánh giá cao những thuộc tính này của bản dịch mới này hay không, thì sự khác biệt những hai bản dịch mới và cũ đối với tôi dường như chưa đủ để giải thích cho sự tăng đột biến và bùng nổ này.

Vài tháng sau đó, tôi tình cờ có cơ hội trò chuyện với một biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản Nhật bàn về bản dịch mới này. Anh ta nói rằng độc giải ngày nay đã phát triển một lối nhìn theo kiểu manga hoặc theo kiểu tin nhắn điện thoại, tức là đôi mắt họ chộp lấy nguyên một phần văn bản và xem nó như một hình ảnh rồi chuyển qua phần tiếp. Vì lí do này, các phần không thể nào quá dài: lí tưởng nhất, không được dài quá khung màn hình của điện thoại di động hoặc quá một khung hình manga.

Ai cũng biết rằng thế hệ những người tiền chiến luôn gặp khó khăn khi đọc manga ngày nay, chúng giống như một thứ ngoại ngữ đối với những độc giả này. Một con mắt manga đầy kinh nghiệm thì ngược lại, có thể di chuyển mau lẹ từ hình ảnh này sang hình ảnh kia, những cũng cùng mắt đó có thể sẽ gặp khó khăn khi đọc một đoạn văn dài mà không chia thành từng đoạn nhỏ hơn.

Anh chàng biên tập đó bảo tôi rằng theo ý kiến anh thì bí mật của bản dịch mới này là người ta thêm vào một lượng lớn các ngắt đoạn. Những độc giả manga có thể đọc quyển tiểu thuyết bằng cách đi từ đoạn này sang đoạn khác như thể từ một khung hình manga này sang một khung hình khác. Họ không kém thông minh hơn ông bà mình, nhưng họ có một cơ quan thị giác khác, hoặc một loại cáp khác kết nối võng mạc của mình đến bộ não.

Một dịch giả tiếng Nhật mà tôi nói chuyện cách đây mấy tuần sau đó đã xác nhận lí thuyết của anh chàng biên tập kia. Cô ta vừa mới dịch một cuốn sách nằm trong loạt văn chương thế giới mà trong đó quyển mới của tác phẩm “Anh em nhà Karamazov” cũng vừa xuất hiện, và người biên tập của cô cứ lặp lại cùng một câu: Hãy cho tôi thêm nhiều đoạn văn nhỏ nữa!

Bạn có thể đọc manga Nhật nhanh hơn hầu hết các truyện tranh Bỉ hay Pháp bởi vì hội thoại của manga luôn được giữ ở mức tối thiểu và các khung hình không chứa đựng quá nhiều thông tin. Tôi thỉnh thoảng có cảm tưởng rằng một khung hình manga có thể được đọc như một loại chữ tượng hình. Có lẽ điều này là lí do tại sao người ta không cảm thấy đặc biệt ưa thích lắm khi in manga bằng hình màu. Những hình ảnh phải được in trắng đen để mắt người có thể tự động đọc chúng như dạng chữ viết.

Manga thích thú hơn khi bạn vội vàng chuyển từ phần này sang phần khác, hơn là lúc bạn học từng hình ảnh một như một bức tranh ở viện bảo tang. Điều này hiển nhiên không áp dụng vào loạt trang của Hokusai (1760-1849) mà người ta hay biết đến với tên gọi manga Hokusai. Không may là tôi phải loại bỏ chúng ra khỏi phần giải trình ở đây, bởi vì chúng không chứa đựng đủ lối kể chuyện cần duy trì liên tục và do vậy không phù hợp với việc giải thích hiện tượng Karamazov. Tôi đang nghĩ thêm về một thể loại của kibyoshi (những cái bìa vàng) vốn được giới thiệu ra với mọi người là một phiên bàn đầu của lối nhìn manga. Một loại văn chương giải trí được viết trong khoảng 1775 đến 1806 được gọi là kibyoshi để phân biệt nó với tiền nhân, là những cuốn sách hình akabon (sách đỏ), kurobon (sách đen) và aobon (sách xanh dương). Văn chương kibyoshi còn hơn là cuốn sách hình đơn thuần, nhưng cái ý niệm về một cuốn tiểu thuyết có tranh minh hoạ thì vẫn chưa đủ để mô tả kibyoshi, theo như tôi quan tâm, bởi vì nó rõ rang là những bức hình xuất hiện đầu tiên – rồi người ta mới viết chữ vào bất kì chỗ nào còn khoảng trống. Việc viết chữ trở nên quanh co vặn vẹo và mỏng manh ở chỗ mà khoảng trống rất khít khao, và hình ảnh thì không cần cân nhắc đến văn bản thế nào. Người ta không viết chữ trên bề mặt vật thể được mô tả, và do vậy nó không phải là phụ thuộc các qui luật vật lí của thế giới ba chiều. Thay vào đó, mọi bề mặt dùng được trong bức hình được dùng như là một không gian hai chiều để viết chữ.

Kibyoshi được cho là để giải trí, nhưng tiền giả định rằng độc giả có kiến thức về Khổng giáo và văn chương truyền thống. Giống như hoạ sĩ manga Tezuka Osamu (1928-1989) giới thiệu Faust của Goethe trong tác phẩm Neo Faust của ông, tác giả kibyoshi Koikawa Harumachi (1744-1989) kể câu chuyện, ví dụ, về cuộc đời một người đàn ông sử dụng một mô hình truyện Trung-quốc nổi tiếng vốn trước đó đã được tích hợp vào văn chương yokyoku của Nhật. Để hiểu tính giễu nhại trong các trích dẫn của Khổng tử thường được tìm thấy trong truyện kibyoshi, bạn cần phải biết những câu nói của Khổng tử. Và do vậy chúng ta có thể cho rằng độc giả kibyoshi đã biết Khổng tử, giống như độc giả manga của Tezuka ít nhất cũng có khái niệm nào đó về Goethe hoặc chính họ là những độc giả tiềm năng của Goethe. Nếu độc giả manga không thích đọc văn chương cổ điển thế giới, đó là vì họ thích văn bản ở dạng hình ảnh hơn là nội dung của câu chuyện.

Lần đầu tiên tôi đọc truyện kibyoshi, tôi trải nghiệm được một nỗi khó khăn tương tự như việc thế hệ tiền chiến cố gắng đọc loại manga mới. Tôi thấy những câu trích dẫn trực tiếp nổi lơ lửng bên cạnh hay bên trên bức hình người nói. Giọng kể chuyện trôi lửng lờ trong không trung. Tôi phải bắt đầu đọc từ 9duâ, và từ đó đến đâu nữa?

Tôi không biết rằng liệu chính tôi có mắt nhìn kiểu manga hay không. Thỉnh thoảng tại một quán cà-phê manga ở Tokyo, tôi thấy mấy cậu thanh niên giở lướt qua hết trang này đến trang kia trong cuốn manga, giở trang nhanh đến mức khó tin. Tôi chưa bao giờ có thể đọc nhanh đến thế. Ở nhà tôi đã bí mật đo đếm thời gian đọc một trang manga của Tezuka. Mười giây mỗi trang. Rồi tôi đo xem đọc phiên bản mới của cuốn Karamazov mất bao lâu: hai mươi giây mỗi trang. Khác biệt giữa manga và bản Karamazov mới này nhỏ hơn nhiều so với khác biệt giữa bản mới với bản cũ cuốn “Anh em nhà Karamozov” này.

Những độc giả tốc độ nắm đoạn văn thành từng cụm mỗi lần đọc. Kĩ năng này chắc chắn không được phát triển với Dostoevsky trong tâm trí. Cũng thật vô ích nếu đọc Kafka mà đọc nhanh. Cùng một loạt những cuốn sách mới, mà trong đó có bản Karamazov mới được trình làng, cũng đã xuất bản cuốn Metamorphosis [của Kafka] mới, người biên tập bảo tôi thế, và nó cũng bán được lắm.

Vào thập niên 1980, tôi tới Đức và bắt đầu đọc lại Kafka. Tôi đọc ông đó chậm còn hơn trước, không chỉ vì tôi đọc nó ở dạng tiếng nước ngoài, mà còn vì tôi đã đọc lớn thành tiếng. Cái con người tôi lúc đọc phân ra thành hai người: một cái tôi đọc đoạn văn lớn thành tiếng cho tôi nghe, và một cái tôi lắng nghe giọng đọc đó và hiểu những gì nó nói.

Metamorphosis của Kafka

Tôi cố gắng giảm thiểu chức năng của cơ quan thị giác xuống mức độ chỉ còn là lối vào cho thính giác. Để hiểu đoạn văn, tôi phải bỏ đi chữ cái ra khỏi màn hình võng mạc của mình. Thỉnh thoảng điều này làm cho các kí tự trở nên sôi sục, và rồi chúng sẽ trở lại như những bóng ma và phiền nhiễu tôi lúc đang đọc.

Tôi đặt hàng bản dịch mới cuốn The Metamorphosis và đối chiếu nó với mấy bản Đức ngữ tôi có ở nhà. Dịch giả Ikeuchi Osamu không thêm vào bất kì chỗ ngắt đoạn nào mới, nhưng ông ta có bắt đầu mỗi dòng hội thoại bằng một dòng chính nó.

Nhịp điệu của việc đọc manga được tạo ra một phần bởi tình huống các hình ảnh xuất hiện xen kẽ một cách khôn khéo theo sau hội thoại. Tôi chợt có ý nghĩ rằng theo nghĩa này tôi có thể dễ dàng hình dung bản dịch mới ở dạng manga. Bức hình đầu tiên đưa ra câu hỏi: “Cái gì xảy ra với tôi?” Một người nào đó thức dậy và nhận ra là anh ta có một cơ thể khác trước: một khung cảnh manga điển hình, tương tự trong “Astro Boy” hay “Black Jack”. Bức hình thứ ba được vẽ phác hoạ cảnh quan trong phòng: tường, bàn, mấy tấm vải dệt. Toàn bộ mấy bức hình được in trắng đen. Bức hình thức tư là một bức hình trong một bức hình, mà bạn thường thấy trong manga. Gregor cắt bức chân dung một người phụ nữ ra khỏi tờ tạp chí và đóng khung nó.

Astro Boy của Tezuka

Bằng cách đối chiếu, tôi lấy ra bản dịch của Takahashi Yoshikita từ năm 1952. Có những dòng hội thoại thậm chí không được đóng khung bởi dấu ngoặc kép, số dòng bắt đầu bằng những dòng của chính nó thì ít hơn nhiều. Những trang sách được in không có khoảng trống, bao bọc bởi bộ chữ nhỏ và mỏng manh, tạo ra một ấn tượng bị giới hạn và cùng lúc đó là ấn tượng bất khả xâm nhập. Chữ katakana, một trong hai dạng chữ tượng thanh của Nhật, thường được dùng cho những từ ngoại quốc và do vậy hiếm khi xuất hiện. Và do vậy đoạn văn bản chủ yếu bao gồm chữ hiragana, một loại chữ tượng thahn khác, và chữ tượng hình. Mặt khác, bản dịch mới dùng chữ katakana rõ ràng là thường xuyên hơn dành cho những biểu đạt tượng thanh. Điều này khiến cho ấn tượng thị giác đoạn văn bản mang lại trở nên bao phủ hơn và đa dạng hơn, đem lại sự dễ chịu và quen thuộc hơn đối với những con mắt manga.

Khi mấy cái chân của con bọ dễ sợ kia di chuyển loạn xạ, ví dụ vậy, thì bản dịch cũ dùng từ quen thuộc “mozomozo”, viết gọn gàng theo chữ hiragana, trong khi bản dịch mới là “wayawaya” theo chữ katakana – đây là từ lạ lẫm hơn vốn không được dùng rộng rãi theo nghĩa này, nhưng nó có tác dụng tốt ở đây nhờ vào bối cảnh. Nhìn chung, manga sáng tạo ra lối biểu đạt tượng thanh tự do hơn nhiều so với văn chương. Từ “wayawaya” có một cái cảm manga đối với nó, không chỉ vì nó là từ mới mà còn vì nó được viết theo dạng chữ katakana và do vậy trông như thể nó tự giải thoát chính nó ra khỏi cái khuôn khổ về cách dùng trạng từ.

Có nhiều bức hình trong manga mà theo sau chỉ có một câu biểu đạt tượng thanh như “wayawaya”. Có lẽ manga không còn cần đến các danh từ nữa. Một con bọ, một cái bàn hay một người phụ nữ đều được biểu trưng bằng hình ảnh. Dĩ nhiên, tôi không muốn một manga nói cho tôi biết con bọ của Kafka trông giống thứ gì. Tự do tạo dựng hình ảnh của chính mình cho mọi ý niệm bao giờ cũng được đảm bảo nhờ vào các nguyên lí của dân chủ. Tự do là ở đó. Nhưng ai có thể sử dụng nó?

Tôi luôn yêu thích những hình ảnh không tập trung vào một tiêu điểm nào, và chưa hoàn tất, nổi lên từ một đoạn văn chương như hơi nước và rồi lại biến mất. Chúng không thể bị buộc chặt lại được. Nhưng tôi phát hiện rằng giữ cho màn ảnh trong đầu mình tự do tạo không gian cho những hình ảnh như thế thậm chí còn khó khăn hơn. Sự thật là cái màn ảnh này không hoàn toàn tự do, nhưng bây giờ thì nó gần như bị tiêu huỷ. Hai ba năm trước, tôi tình cờ xem được một bộ phim khoa học viễn tưởng trên máy bay, trong phim có mấy con bọ cánh cứng bằng kim loại chói mắt đang tấn công loài người. Tôi không thích phim đó, nhưng không thể đẩy hình ảnh mấy con bọ đó ra khỏi đầu mình. Cứ như thể nó đã thực hiện một mối liên hệ điện tử với bộ não của tôi bằng một kĩ thuật nào đó tôi không biết. Tôi không có cơ hội nói không. Hình ảnh này ghi vào bộ não của tôi. Kể từ đó, tôi không thể không nghĩ đến hình ảnh này mỗi khi nghe từ “bọ cánh cứng”. Tôi nên làm gì. Có lẽ tôi nên biến thành một con bọ dễ sợ và bò ngang qua văn bản của Kafka để đọc nó với hai cái râu và mấy cái chân mỏng manh. Tôi có thể thụ đắc được khả năng vấp phải mọi vết rách nhỏ bé, để đập đầu xuống đất và do đó có thể làm cho đầu mình loé sáng lên.

2

Những kí tự nằm đó tựa như những chiếc xương cá mỏng manh, nguy hiểm sau khi độc giả đã tiêu thụ và tiêu hoá nội dung văn bản được một hồi lâu. Những chiếc xương vô dụng có thể bị vứt đi, nhưng bằng cách nào đó chúng lại có ý nghĩa. Tôi nhìn chằm chằm vào một kí tự trong tờ giấy vừa mới đọc và tự hỏi: những con chữ kì lạ này ở đây trước mắt mình, chúng là gì? Chúng là những bóng đêm hay các dấu chân? Chúng nhìn ngược lại tôi, vô ngôn, như thể chúng muốn tôi nhớ đến một điều gì đó. Không còn phụ thuộc vào ý nghĩa đoạn văn nữa. Thay vào đó, câu hỏi là làm thế nào đáp trả lại sự hiện diện đáng lo ngại của phần thân thể của các kí tự này. Có lẽ chúng là những thanh song của một cái chuồng. Ai ở phía bên kia của những thanh song này? Tôi là một tù nhân, hay người khác? Và con người này là ai ở phía bên kia?

Khái niệm cho rằng ngôn ngữ viết công khai hậu thuẫn nền chính trị của một quốc gia trong khi ngôn ngữ nói thay đổi cùng với văn hoá – một quan điểm có vẻ như không còn hiển nhiên nữa – khái niệm đó là một thứ gì đó tôi nghe được lúc đầu khi còn là đứa bé. Nó phản ánh cái cách mà bản đồ thế giới nhìn lại vào lúc ấy. Ở nước Cộng hoà Mông-cổ với ảnh hưởng của Soviet, ví dụ vậy, thì người ta dùng bảng chữ cái Cyrillic, trong khi đó cùng một ngôn ngữ ấy, ở khu vực Mông-cổ phần thuộc nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa người ta dùng chữ Mông-cổ vốn bắt nguồn từ bảng chữ cái Uyghur. Sau Perestroika, chữ Mông-cổ cũng đã trở thành chuẩn mực cho nước Cộng hoà Mông-cổ. Cái cách một ngôn ngữ được viết ra có phải đơn thuần chỉ là một sự đồng bộ vốn có thể bị thay đổi dễ dàng khi một chính phủ mới nắm quyền lực?

Hệ thống chữ viết ở Nhật được cải cách sau chiến tranh thế giới thứ hai. Luận điểm về việc đơn giản hoá các chữ tượng hình cho rằng chúng là gánh nặng và làm trì trệ sự phát triển công nghệ của đất nước. Có một số người trí thức đã phê bình sự cải cách và chối bỏ nó, nhưng hầu hết người dân chấp nhận nó mà không phàn nàn gì cả. Chúng ta thường hay liên hệ những thay đổi đột ngột trong ngôn ngữ nước nhà với sự thực dân hoá hay thế lực của chính quyền, nhưng thực tế là cải cách lối viết chính tả và những cách viết mới là điều khá bình thường trong một xã hội dân chủ. Không ai nghĩ về việc dùng pháp chế để chỉnh sửa những lỗ hổng về mặt luận lí trong hệ thống ngữ pháp, cũng như về việc đưa ra các qui luật tốt hơn, nhưng nhiều người tin rằng có một cách hợp lí hơn về việc dùng các kí tự để biểu đạt âm thanh của một từ.

Những chữ tượng hình của nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa cũng đã được đơn giản hoá. Cải cách này diễn ra vào năm 1955, được thực hiện triệt để hơn nhiều so với của nước Nhật, với hệ quả là “lối viết ngắn gọn” mới mẻ đó được sử dụng ở Trung-quốc nhưng không người Đài-loan hay Nhật-bản nào có thể đọc nó được nữa nếu không nghiên cứu kĩ lưỡng. Người dân Nhật cảm thông với Chế độ cộng sản Trung-quốc đã sử dụng lối viết ngắn gọn này, và do vậy tôi có thể nhận diện những tấm biểu ngữ chính trị được viết tay của họ thậm chí ở khoảng cách xa. Tôi đã quên từ lâu rồi những gì được ghi trên mấy tấm biểu ngữ đó, nhưng cái ấn tượng mà chữ viết lạ kì này tạo ra đã ở trong kí ức của tôi kể từ đó.

Chuyến du lịch nước ngoài đầu tiên của tôi năm 1979 bao gồm cả việc tới thăm đất nước Ba-lan. Là một sinh viên nghiên cứu ngôn ngữ Slavic, tôi phát hiện rằng Cyrillic có tính thực tế hơn bộ chữ Latin để viết toàn bộ những ngôn ngữ hệ Slavic, bao gồm cả tiếng Ba-lan.Tôi gặp khó khăn với những phụ âm kết hợp vốn thường xuyên xuất hiện trong tiếng Ba-lan, như RZ, SZ hay DS, và những dấu thanh, dấu chéo và những dấu móc nhỏ được thêm vào các kí tự. Nếu bạn dùng Cyrillic, nhìn chung bạn chỉ cần một kí tự đơn lẻ cho một trong những âm xuýt này. Thậm chí có những từ tiếng Đức tôi thích viết bằng kí tự Cyrillic hơn là dùng chữ Latin. Món canh bắp cải với củ cải sẽ nguội lạnh đi ngay khi bạn vừa phát âm xong từ “Borschtsch.”

Dù vậy, bảng chữ cái Latin dùng trong tiếng Ba-lan thì thích hợp để tôi viết bài hơn là bảng chữ cái Cyrillic, mà tôi vẫn còn lưu giữ những kí ức đầu tiên của mình về đất nước này. Tôi không thấy một biểu tượng nào của Chính thống giáo Nga ở đó; thay vào đó tôi thấy nhiều người sử dụng các dịch vụ của nhà thờ Công giáo vào những ngày chủ nhật. Ở đâu đó tôi thấy được phần bên trong và phần mặt tiền làm cho tôi tràn ngập cảm giác ham muốn xứ sở Paris.

Đó là một số phận vui tươi khi có một đất nước làm hàng xóm, một đất nước có nền văn hoá chữ viết được phát triển từ rất sớm. Phía tây Nhật-bản là nước Trnung-quốc, phía đông là vùng Thái bình dương không dùng bảng chữ cái. Nếu nước Nhật không nằm ở phía đông Trung-quốc mà lại nằm phía tây thì sẽ không có nền văn hoá nào hiện giờ như chúng ta thường gọi là văn hoá Nhật-bản, nhưng Nhật sẽ không phát triển một hệ thống chữ viết phức tạp quá mức cần thiết. Nhật có thể sẽ dùng bảng chữ cái Latin hoặc dùng chữ Ả-rập. Người Trung-quốc chưa bao giờ ép buộc dân Nhật chấp nhận dạng chữ viết của họ, và thật sự không mấy thuận lợi khi viết tiếng Nhật bằng chữ Trung-quốc, nhưng không còn lựa chọn nào khác.

Trong tập thơ cổ Nhật-bản Man’yōshu (thế kỉ 8), những chữ tượng hình được dùng với vai trò chính là dạng chữ phiên âm. Điều này có nghĩa là đọc phần âm thanh của kí hiệu và bỏ qua phần nghĩa. Sau đó ít lâu, chữ phiên âm Nhật được phát triển, nhưng tiếng Nhật vẫn chưa hoàn toàn chuyển sang dạng chữ viết phiên âm cụ thể. Thay vào đó họ tiếp tục viết những quan niệm Trung-hoa bằng chữ tượng hình theo nguyên gốc và kết hợp chúng với chữ viết phiên âm.

Về lí thuyết một người có thể viết bất kì ngôn ngữ nào, thậm chí cả tiếng Đức, bằng cách dùng chữ tượng hình Trung-quốc: Ví dụ bạn viết một chữ tượng hình mang nghĩa “hòn núi” và rồi đơn giản phát âm từ đó là “Berg.” Chữ tượng hình không cho ta biết cách phát âm. Nhưng làm thế nào ta đánh dấu được sự khác nhau giữa “hòn núi” khi nó được dùng như chủ ngữ và như bổ ngữ, hay khác nhau giữa “ngủ” và “đã ngủ”? Những vấn đề tương tự thế trỗi dậy khi bạn viết tiếng Nhật bằng chữ tượng hình. Do vậy toàn bộ những kết nối và những điểm đánh dấu về ngữ pháp trong hệ thống ngữ pháp Trung-quốc phải được viết bằng chữ phiên âm Nhật và thêm vào.

Và do vậy không có ích gì khi buộc tội các ngôn ngữ học Nhật-bản quá thiên về châu Âu nếu những người đó tuyên bố rằng sẽ tốt hơn nếu viết tiếng Nhật theo bảng chữ cái Latin. Giờ đây người ta đã hiểu, thậm chí tại Nhật-bản, rằng văn hoá Trung-hoa không là nền văn hoá tiên tiến duy nhất trên thế giới, nhưng đã quá muộn màng: Suốt hơn một ngàn năm trong quá khứ, tiếng Nhật đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình nhập khẩu chữ tượng hình đến nỗi việc tách biệt tiếng Nhật ra khỏi nguyên gốc của chữ viết ngoại quốc là điều không tưởng. Sự tách biệt cứ như thể bạn đột ngột di dời đi một nửa số cây cối khỏi môi trường sinh cảnh chỉ vì chúng được thêm vào một ngàn năm sau đó. Trong diễn trình lịch sử, có nhiều nỗ lực thanh lọc chữ quốc ngữ. Tiếng Thổ-nhĩ-kì từng nỗ lực tháo bỏ toàn bộ những từ Ả-rập ra khỏi phần thân. Tiếng Pháp và đặc biệt tiếng Na-uy kiểm soát vùng biên giới cẩn thận để ngăn chặn sự di dời xâm nhập của nhiều từ ngoại quốc.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cái dụng của những từ dựa trên Anh ngữ bị cấm tại Nhật. Nỗi tự ti của người Nhật so với nền văn hoá Trung-hoa rõ ràng đã bị loại bỏ và quên lãng đi nhờ vào sự bùng nổ của lực lượng quân đội chống lại Trung-quốc. Không người Nhật nào nghĩ về việc bỏ đi chữ tượng hình, và những từ Hán-Nhật dính chặt vào đó, ra khỏi chữ quốc ngữ Nhật-bản, kokugo. Điều này không khả dĩ, cho dù những người theo chủ nghĩa dân tộc đã ước ao thực hiện được biện pháp như thế, bởi vì những quan niệm như “nhà nước”, “quốc gia”, “quân đội”, “quần chúng” và thậm chí “Tennō” (Nhật hoàng) luôn được viết theo dạng tượng hình thay vì chữ phiên âm Nhật. Nếu những từ này trước kia được viết theo lối phiên âm, chúng sẽ đánh mất đi uy quyền. Bởi vì trước thời trung cổ, khi chữ viết phiên âm Nhật được để dành cho phụ nữ, thì dạng chữ viết này được xem là mang tính nữ và sự riêng tư. Các tác giả nữ vào thế kỉ mười một như cung nữ Murasaki và Sei Shōnagon đã dùng chữ viết này, vì chữ viết kiểu này giúp họ có thể mô tả cảm xúc và suy nghĩ của họ riêng tư và cụ thể hơn. Những đồng nghiệp nam giới của họ, mặt khác, buộc phải dùng chữ viết Trung-hoa vốn vẫn chưa được tích hợp đầy đủ vào tiếng Nhật. Do đó tác phẩm của họ vẫn còn là sự bắt chước vô nghĩa nền văn chương Trung-hoa và sớm bị quên lãng đi. Những tác giả nữ thời trung cổ chính thức tách rời khỏi sự dạy dỗ của các tác phẩm văn chương cổ điển Trung-hoa. Nhưng chúng ta biết rằng thỉnh thoảng các tác giả nữ thế chỗ tạm thời những người anh em của họ trong lớp và do vậy họ học được các tác phẩm cổ điển lẫn chữ viết trong những tác phẩm đó. Một số học tập tốt hơn những người anh em của họ, và thế là họ viết chữ phiên âm theo hiểu biết về chữ tượng hình.

Giống như Nhật, người Triều-tiên cũng dùng hệ chữ tượng hình Trung-hoa trộn lẫn với chữ viết phiên âm của chính họ cho đến khi người Nhật đến chiếm đất nước. Trong suốt quá trình chiếm đóng, người Hàn-quốc buộc phải dùng riêng tiếng Nhật. Sau khi giải phóng đất nước, họ quay trở về ngôn ngữ của mình và chữ Hàn-quốc được tuyên bố là dạng chữ viết chính thức duy nhất của đất nước này. Dù sao thì chữ tượng hình không còn được chuộng nhiều nữa, vì chúng tượng trưng cho đặc điểm mà tiếng Nhật cũng đang dùng. Tình cảm yêu nước càng lúc càng cần loại bỏ chữ tượng hình để thoát ra khỏi ảnh hưởng bấy lâu nay của Trung-quốc. Tại Bắc Triều-tiên, người ta đã loại bỏ hẳn chữ tượng hình năm 1948 khi đất nước này được thành lập. Lúc đầu người Bắc Triều-tiên có vẻ cấp tiến và kiên định hơn Nam Triều-tiên vốn chuộng sự chuyển đổi từ từ hơn. Nhưng vào năm 1968, Bắc Triều-tiên khôi phục lại môn học chữ tượng hình như một môn bắt buộc ở trường. Người dân Nam Triều-tiên bắt đầu cho rằng chữ tượng hình nên được đưa ra giới thiệu lại. Năm 1998, tờ tạp chí hàng tháng đã mô tả một cuộc tranh luận bất tận xoay quanh chữ tượng hình như là “Cuộc chiến về chữ viết kéo dài năm mươi năm”. Ví dụ về Triều Tiên cho ta thấy rằng việc chuyển dời từ mặt chữ tương hình sang phiên âm không phải là một quá trình phát triển tự nhiên, và do vậy người ta có thể đảo ngược quá trình đó lại.

Nếu bạn nghĩ đến tất cả những cuộc tranh luận như thế này xoay quanh việc chọn lựa chữ viết ở dải đất rộng nằm giữa Đông Á và Thổ-nhĩ-kì, thì khá ngạc nhiên là những người dùng bảng chữ cái Latin dường như không bao giờ thắc mắc về sự lựa chọn chữ viết của mình. Tôi chắc chắn là một trong số ít các tác giả tại châu Âu thường hay tự hỏi mình liệu các ngôn ngữ ở châu Âu có phải là không thể viết theo dạng chữ viết khác. Viết bằng chữ tượng hình châu Âu sẽ là một dự án nghệ thuật mà tôi chưa làm, nhưng điều đó đã có ảnh hưởng lên lối viết của tôi.

Năm 2003, tôi nghe được một bài giảng tại Sofia tranh luận về dạng chữ viết dùng tại đất nước Bulgaria. Sau thời kì áp dụng chính sách Perestroika, người ta băn khoăn thậm chí ngay tại nơi sinh ra bảng chữ cái Cyrillic rằng liệu họ có phải là không nên chuyển sang hệ chữ Latin. Diễn giả đã cung cấp hai lí do cho điều này. Lí do đầu tiên làm tôi ấn tượng bằng một trong những luận cứ hoài nghi sử dụng công nghệ hiện đại như một cái cớ che lấp đi công việc chính trị hoặc kế hoạch làm ăn. Luận cứ này cho rằng trong thời đại Internet thật bất lợi khi dùng bất kì dạng chữ viết nào khác chữ Latin. Tôi không thấy luận cứ này thuyết phục, bởi vì đã từ lâu người ta có thể gửi email và tin nhắn bằng tiếng Nhật. Tôi không biết làm thế nào mà vài ngàn kí tự lại có thể chen chúc nhau trong một cái điện thoại di động nhỏ bé, nhưng chắc chắn là có đủ chỗ cho bảng chữ cái Cyrillic.

Việc đưa máy tính vào Nhật-bản đã làm trỗi dậy thời kì phát triển chữ tượng hình mới. Chữ tượng hình lịch sử vốn trước đó đã chìm vào lãng quên giờ bắt đầu được dùng thường xuyên hơn, bởi vì một cái máy tính giờ đây có thể ngay tức thì tải về thậm chí những chữ hiếm dùng nhất, phức tạp nhất, những chữ trước đó người ta phải nhọc công tra cứu trong cuốn từ điển dày cộm và bụi bặm. Ở trường, bạn học được khoảng hai ngàn chữ; một số người học được nhiều hơn thế. Thật dễ dàng quên đi những chữ không được dùng thường xuyên – nhưng máy tính thì không bao giờ quên bất kì một chữ nào. Cho đến khi công dụng của máy tính trở nên phổ biến ở Nhật, thì vẫn có xu hướng dùng chữ tượng hình càng lúc càng ít đi. Nhưng máy tính trợ giúp cho trí nhớ của người già và tăng cường niềm vui thú của người trẻ nói riêng khi tiếp nhận những chữ này theo khía cạnh hình ảnh.

Trở lại Bulgaria. Lí do thứ nhì để đổi sang chữ Latin, theo như diễn giả đưa ra, là chữ Cyrillic có thể gợi cho các đối tác kinh doanh quốc tế của đất nước này nhớ lại mối liên hệ của họ với Chủ nghĩa cộng sản.

Thật sự đúng là dạng chữ ngoại quốc có thể kích hoạt một dạng kí ức tổng hợp nào đó trong ta và tác động đến cảm xúc của ta trước khi ta có thể suy nghĩ mọi sự thấu đáo. Thật khó để né tránh những ảnh hưởng từ chữ viết ngoại quốc. Nó tương tự cách mà chúng ta có thể phản ứng trước trang phục của người khác. Những mối liên hệ nhất định về địa lí, lịch sử hay một tầng lớp cụ thể nào đó hình thành trong đầu người quan sát có thể khiến anh ta đưa ra một đánh giá vội vã về một người. Vấn đề không phải là tiếp nhận lấy hình ảnh nhanh chậm ra sao, hơn thế nữa, nó có liên quan đến độ phức tạp của hình ảnh. Khi bảng chữ cái tự nó được nêu bật lên, thì đoạn văn bản sẽ trở thành một dạng hình ảnh.

Vài năm về trước, một nhà báo Nhật-bản bảo tôi rằng độc giả báo chí ở Nhật không thể đọc được những bài viết dài được nữa. Những bài báo đang trở nên ngắn hơn bao giờ hết, trong khi chữ được in càng lúc càng lớn và những bức hình màu càng lúc càng chiếm nhiều không gian. Người ta cho rằng đối với các độc giả, không chỉ các bức hình mà cả đoạn văn bản chính nó cũng là một dạng hình ảnh, đặc biệt là những dòng tiêu đề. Phông chữ dùng cho tiêu đề giờ đây có được sự khác biệt tinh tế đến mức chúng có thể ảnh hưởng đến thái độ độc giả đối với bài báo thậm chí trước khi người đó đọc câu đầu tiên. Một phông chữ nào đó có thể được độc giả tức thì nhận ra là có liên quan đến những trận động đất, phông thứ nhì gợi nên sự đói nghèo ở một nơi được gọi là Thế giới thứ ba, và phông thứ ba làm thức dậy sự tò mò của độc giả bởi vì nó được dùng để thuật lại những câu chuyện nho nhỏ nào đó, ví dụ về một nữ sinh cứu bầy vịt ở một kênh đào khu công nghiệp. Ngay từ lúc bắt đầu, độc giả phần nào đó buộc phải trở thành một khán thính giả hợp nhất, do một tâm trạng đặc biệt gây nên: chứng kiến một thảm hoạ thiên nhiên hay một sự kiện chính trị nào đó. Hầu hết độc giả phát hiện thấy điều này không phải do bị ép buộc mà họ thấy như thế là hữu ích. Thông tin được trình bày theo dạng hình hoạ và do vậy tạo nên một ấn tượng cô lập. Tôi cố tìm ra điểm yếu ở bảng chứa bộ chữ in mà từ đó tôi có thể chèn vào câu đầu tiên trong đoạn văn của mình, nhưng không có một điểm yếu nào.

Thậm chí sách giáo khoa ở Nhật qua mỗi năm đang trở nên có nhiều màu và ít chữ hơn. Họ đưa dạng hình ảnh vào tài liệu dạy học, nhằm thích ứng với nền văn hoá manga, anime và Nintendo. Lúc đầu nhìn thì các trang sách trông cuốn hút và dễ đọc đối với trẻ con, nhưng tôi phát hiện ra rằng thật khó để thật sự đọc một đoạn văn một khi mắt tôi đã quen với kiểu manga.

Trở lại thập niên 1980, người Đức hay hỏi tôi tại sao người Nhật vẫn chưa loại bỏ đi chữ tượng hình. Một số người xem hệ chữ viết nào không dựa trên chữ Latin như là một chứng bệnh nào đó. Họ nghĩ, nếu một đất nước đó không chấp nhận chữ viết Latin, thì đất nước đó phải là cổ xưa, theo trào lưu chính thống hoặc theo Chủ nghĩa cộng sản. Một số thì đơn giản bị thuyết phục rằng chữ Latin thì thực tế và trẻ con dễ đọc hơn là chữ tượng hình. Một lập luận phản bác lại được nói đến nhiều nhất ở Nhật trong thập niên 1980 là việc trẻ con phải học quá nhiều chữ tượng hình nên từ ban đầu phải quen với việc bỏ ra cả tiếng đồng hồ mỗi ngày ngồi học. Điều này khiến trẻ  con học tốt hơn ở tất cả các môn. Người ta lập luận rằng, bên cạnh đó, Nhật-bản có tỉ lệ mù chữ thấp hơn bất kì nơi đâu trên thế giới. Niềm tin này vẫn còn thịnh hành chừng nào mà nền kinh tế dường như vẫn còn thịnh vượng. Nhưng thậm chí lúc đó, nhà ngôn ngữ học Tanaka Katsuhiko cho rằng Nhật-bản nên bỏ chữ tượng hình đi. Tanaka, học giả chuyên về tiếng Đức, người từng học Ngôn ngữ học và Triết học tại Bonn và là người khám phá ra tiếng Mông-cổ trong khối Xô-viết, ông thấy là thật đáng tiếc khi hầu hết sinh viên ngoại quốc vẫn không khi tiếp cận được tiếng Nhật bởi vì tiếng Nhật được bao bọc bằng những chữ tượng hình. Ông viết rằng những người dùng tiếng Mông-cổ đã gặp may khi họ nhanh chóng chấm dứt mọi nỗ lực kết hợp chữ tượng hình Trung-hoa vào hệ chữ viết của họ. Chữ Uyghur được dùng thay vào đó làm tiếng Mông-cổ để san sẻ cùng một nền tảng văn hoá, tiếng Mông-cổ do đó khôi phục được khả năng đưa từ mới vào thời kì hiện đại. Và thế là từ mới được tạo ra dựa trên gốc nông nghiệp hay tôn giáo, để biểu thị “Chủ nghĩa xã hội”, “tư bản” và “kinh doanh”. Mặt khác, ở Nhật, những từ như thế được ráp lại từ những chữ tượng hình Trung-hoa, chứ không dùng từ vựng cổ của Nhật. Kết quả là người ta vẫn còn cảm giác những khái niệm mới sau này là những yếu tố ngoại quốc nằm trong phần thân tiếng mẹ đẻ của tôi.

Đã mười năm kể từ khi có một người châu Âu hỏi tôi rằng tại sao người Nhật vẫn còn chưa bỏ chữ tượng hình. Thay vào đó, tôi nhận ra là có một niềm hứng thú về chữ tượng hình đang sinh sôi. Trẻ con ở các trường học tại Đức nơi tôi đưa ra các bài đọc đã cho thấy sự hứng thú về chữ Trung-hoa nhiều hơn là những đoạn văn bản của tôi đưa. Có lẽ điều này có liên quan đến các đoạn văn bản. Thậm chí khi tôi viết tiếng Đức, những chữ dựa vào hình ảnh theo nghĩa rộng vẫn còn hiện diện trong văn bản của tôi. Tôi không biết liệu sự hứng thú đang sinh sôi kia về chữ tượng hình có thể giải thích bằng sự hứng thú về manga hay sự phát triển kinh tế của Trung-quốc. Bất kì ai tôi liên lạc – nhân viên cửa hàng máy tính, các giảng viên, những người làm việc ở những tổ chức nghệ thuật hay bản thân các nghệ sĩ – mọi người đều muốn biết thêm về chữ tượng hình. Có lẽ đây là một phần của quá trình toàn cầu hoá trong đó tư duy bằng hình ảnh đang chiếm giữ vai trò chủ chốt hơn.

Khi tôi viết, tôi thường thấy bản thân mình có nguồn cảm hứng từ những từ ngữ tiếng Đức như “Stern-kunde” (môn khoa học các vì sao, hoặc là môn thiên văn học), “Schrift-stellerr” (người đặt câu chữ, hay là nhà văn) hoặc “Fern-seher” (người xem từ xa, truyền hình). Đối với tôi dường như lúc nào hai chữ tượng hình Đức cổ cũng được kết hợp với nhau để tạo ra từ mới. Ngôn ngữ Romanic chắc chắn có âm thanh nhiều giai điệu hơn và đủ sắc màu hơn tiếng Đức. Tiếng Anh có sự tao nhã dư dả và hiện đại mà tiếng Đức thỉnh thoảng không có, và tình yêu của tôi dành cho ngôn ngữ Slavic chưa bao giờ tan biến. Nhưng với tôi, những từ ngữ tiếng Đức được tạo dựng nên từ những bộ từ lại có đặc điểm tượng hình vốn là điều cực kì quan trọng cho lối viết của tôi.

Khi tôi viết tiếng Nhật, tôi cảm thấy phiền muộn khi phải xem làm thế nào những từ gốc Anh-quốc và những từ Hán-Nhật lại chui vào được tiếng Nhật, nhưng điều này không có nghĩa là tôi muốn tiếng Nhật hoàn toàn thuần Nhật. Mà là ngược lại. Tiếng Nhật được nói ngày nay đối với tôi dường như là một cái thùng rác của lịch sử ngôn ngữ học, và đây là một lí do tại sao tôi rất thích tiếng Nhật. Một cái thùng rác là nguồn suối quan trọng cho cảm hứng, bởi vì thường thì chúng tôi vứt đi những gì quan trọng nhất. Không làm quen với tiếng Đức, tôi sẽ chẳng bao giờ chú ý rằng tôi đang sở hữu một cái thùng rác có thể là cả một kho báu đối với tôi. 

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20120318

 

(Bài viết này là một bài giảng nằm trong loạt bài giảng của trường Cornell University được trình bày trong chương trình Mĩ học đương đại, được tổ chức bởi Viện nghiên cứu văn hoá Đức)

Nguồn:

Tawada Yoko. “The Letter as Literature’s Political and Poetic Body.” Trans. Susan Bernofsky. Cornel Lecture on Contemporary Aesthetics. 2009. http://www.japanfocus.org/-Yoko-Tawada/3208

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s