Miyazaki Hayao, một tượng đài

Bác Miyazaki thân mến:
Cháu là một nữ sinh trung học. Cháu thích phim của bác lắm. Cháu nghĩ phim “Conan” rất tuyệt. Cháu thật sự thích xem nó trên truyền hình. Nhưng có một thứ cháu cứ băn khoăn mãi. Những nhân vật nữ trông không thật chút nào và dường như trông lạ lẫm đối với cháu và các bạn cháu cùng độ tuổi cháu. Cháu không thể tin là những cô gái như thế thật sự có tồn tại.

– Murase Hiromi, Pop Culture Critique

Tôi không cố tạo ra một mẫu hình đặc thù nào của cõi nhân gian này… thế giới của tôi là một phần của một thế giới lớn hơn.

Miyazaki Hayao trong một bài phỏng vấn của Yamaguchi Izumi,
 – Eureka, Số đặc biệt về Miyazaki

[Phim My Neighbor Totoro] không phải là một hoài niệm; nó là một lời khẩn cầu để biết được ta đã đánh mất những gì.

– Eureka, Số đặc biệt về Miyazaki

Miyazaki Hayao, sinh ngày 5/1/1941 tại Tokyo, Nhật-bản, được xem là một trong những bậc thầy về phim hoạt hình với tên tuổi gắn liền với hãng phim hoạt hình Studio Ghibli do chính ông và Takahata Isao lập ra giữa thập niên 1980. 

Cha của Miyazakia là giám đốc hãng máy bay Miyazaki, một tập đoàn chuyên sản xuất các bộ phận của những chiếc chiến đấu cơ Zero nổi tiếng của Không lực Hoàng gia Nhật-bản. Điều này giải thích lí do vì sao cảnh bay lượn xuất hiện rất nhiều trong phim của Miyazaki, thậm chí ông còn đưa tàu bè lên bay lượn trên không trung. Sau khi hoàn thành chương trình học ở trường Đại học Gakushuin, Tokyo vào năm 1963 ở lĩnh vực kinh tế, Miyazaki xoay sang làm phim hoạt hình tại xưởng phim hoạt hình lớn nhất châu Á lúc bấy giờ là Toei Doga. Trong quá trình làm việc ở Toei Doga thì Miyazaki gặp Takahata Isao và Ota Akemi, đây là những người luôn gắn bó với Miyazaki kể từ dạo đó. Takahata vừa là bạn, vừa là đồng nghiệp với Miyazaki, và đã cùng với Miyazaki lập ra Studio Ghibli vào năm 1985. Còn Ota sau này trở thành vợ của Miyazaki.

Phong cách làm phim của Miyazaki

Nếu như cấu trúc kinh điển kẻ xấu-người tốt là một cấu trúc tiêu biểu cho phong cách phim của phương Tây với Walt Disney là ví dụ điển hình, thì phong cách làm phim của Ghibli và Miyazaki không thật sự thể hiện rõ cái cấu trúc đó, luôn có tính hai mặt trong mỗi nhân vật của Miyazaki. Chẳng hạn như trong phim Sen to Chihiro kamikakushi (Spirited Away, 2001), nhân vật Yubaba xuất hiện lúc ban đầu như một mụ già độc ác chuyên tìm cách ăn cắp tên của người khác và rồi kiểm soát họ, nhưng rồi cũng có những cảnh phim đã cho thấy phần tốt và yếu đuối của nhân vật Yubaba này. Cũng như nhân vật Vô diện (No Face) mới đầu xuất hiện như một con quái vật chuyên nuốt người ta vào bụng, nhưng sau đó lại ngoan ngoãn và rất mực hiền từ khi cùng Chihiro đến nhà Zeniba, chị em song sinh với Yubaba, và còn giúp Zeniba quay sợi, đan len nữa. Ngay cả những sinh vật tưởng chừng vô tri vô giác như khu rừng chất độc trong phim Kaze no tani no Naushika (Nausicaa of the Valley of the Wind, 1986) xuất hiện đem lại cảm giác cho người xem đây là nơi làm ô nhiễm không khí và môi trường, nhưng càng xem thì ta càng nhận ra những cái cây trong khu rừng chất độc đó chính là thứ làm cho Trái đất trở nên trong sạch, vì chúng hấp thụ và trung hoà toàn bộ độc tố trong đất để các độc tố đó không lan sang được vùng sa mạc bên cạnh và những vùng lân cận có người ở. Điều đó cho thấy rằng những vẻ ban đầu mà ta thấy không hẳn là cái chính yếu của sinh vật đó, mọi sinh vật của Miyazaki, từ con người đến khu rừng đều có xu hướng phát triển và chuyển hoá chính mình khi câu chuyện tiếp diễn.

Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nữ quyền, và trẻ thơ chính là những chủ đề chính diễn ra xuyên suốt những phim của Miyazaki. Vấn đề môi trường và thiên nhiên là một vấn đề cấp thiết của xã hội hiện đại, nhất là ở một xã hội phát triển rất nhanh như Nhật-bản. Con người dần dần xa lánh thiên nhiên và tự nhốt mình giữa mê lộ của những công nghệ và kĩ thuật, để rồi lạc lối trong dòng chảy cuồn cuộn của cái gọi là nền văn minh tiên tiến, giống như các nhân vật trong phim Playtime (1967) của Jacques Tati vậy. Bảo vệ môi trường, gìn giữ tự nhiên là thông điệp rõ ràng và hiển hiện nhất trong những phim của Miyazaki, từ Kaze no tani no Naushika (Nausicaa of the Valley of the Wind, 1986) với khu rừng chất độc, đến Tonari no Totoro (My Neighbor Totoro, 1988) gợi lên hình ảnh một thời đã xa của nước Nhật, về một vùng quê chan hoà giữa thiên nhiên, trong trẻo và yên bình, hay như trong Sen to Chihiro kamikakushi (Spirited Away, 2001) có cảnh các vị thần lui tới khu nhà tắm công cộng để gột rửa những thứ vấy bẩn trên người mình, do ô nhiễm mà ra. Người Nhật từ xưa đã có truyền thống gắn bó với thiên nhiên, thể hiện rõ nét qua Thần-đạo (Shinto), một tín ngưỡng cổ xưa của người Nhật. Thần-đạo có đặc điểm đa thần giáo chứ không phải độc thần giáo như các tôn giáo khác. Đặc tính trung tâm trong Thần-đạo chính là kami, nghĩa là thần linh, và kami ở đây chủ yếu thuộc về tự nhiên như sông, núi, cây cối, núi non, thú vật, v.v.; theo như nhà phục sinh Thần-đạo Motoori Norinaga (1730-1801) thì

“Từ kami theo nghĩa tổng quát nhất chính là toàn bộ những tồn thể thiêng liêng của trời và đất xuất hiện trong các kinh điển. Cụ thể hơn, kami chính là những vị thần cư ngụ và được thờ phụng trong các miếu thờ. Về nguyên tắc thì con người, chim chóc, muôn thú, cây cối, núi non, biển sông – hết thảy đều có thể là kami. Theo cách dùng cổ xưa, bất kể những gì trông có vẻ ấn tượng nổi bật, sở hữu một đặc tính ưu việt, hay gợi lên một cảm giác kính sợ, thì đều được gọi là kami.”

Những đặc điểm Thần-đạo xuất hiện trong phim của Miyazaki khá nhiều. Totoro trong Tonari no Totoro (My Neighbor Totoro) chính là biểu tượng của một kami, và kami ở đây là một vị thần rừng. Trong Sen to Chihiro kamikakushi (Spirited Away), ở đầu phim có cảnh Chihiro cùng gia đình băng ngang qua những torii, những miếu thờ nhỏ ở địa phương, một vật điển hình của Thần-đạo, một dấu hiệu cho biết nhân vật chính của chúng ta sắp sửa bước vào thế giới của các vị thần.

Trong phim của Miyazaki, câu chuyện thường xoay quanh một nhân vật nữ, và nhân vật nữ đó thường là một cô bé hoặc một thiếu nữ. Theo Miyazaki, thì “tâm hồn trẻ con chính là những thứ kế thừa lại kí ức lịch sử của những thế hệ trước; đó là khi chúng lớn lên và trải nghiệm cái thế giới hàng ngày mà kí ức đã nhấn chìm nó mỗi lúc một sâu hơn; tôi cảm thấy là mình cần làm một bộ phim có thể vươn tới tầng mức đó. Nếu tôi có thể làm thế, thì tôi sẽ chết thanh thản.” Có thể hình tượng trẻ thơ ở đây biểu trưng cho những gì người ta đã đánh mất, những gì thuộc về một thời đã xa. Theo Tiến sĩ Susan Napier, “những gì đã mất” là một thế giới trong đó loài người chưa hoàn toàn thống trị và kiểm soát thiên nhiên, và thiên nhiên lúc ấy hãy còn tồn tại như một thế lực đầy quyền năng; và những gì đã mất không chỉ giới hạn trong việc tìm về tự nhiên, trong mấy phim của ông như Kurenai no buta (Porco Roso, 1992) hay Majo no takkyûbin (Kiki’s Delivery Service, 1989), Miyazaki còn gợi lên một thế giới trong đó vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp kiến trúc thanh bình hoà chung cùng với đời sống thành thị, văn minh, đó là một “châu Âu chưa từng xảy ra chiến tranh” như tờ Eureka nhận định. Ngoài việc nêu ra “những gì đã mất”, cũng theo Tiến sĩ Susan Napier, thì Miyazaki còn nêu ra “những gì có thể tồn tại” khi ông đưa ra chủ đề về những thế giới khả dĩ xảy ra của niềm hi vọng và sự đổi mới như trong cảnh cuối của phim Kaze no tani no Naushika (Nausicaa of the Valley of the Wind, 1986), hay chỉ đơn giản là sức mạnh của tình yêu như cảnh Sheeta và Pazu sẵn lòng chết cùng nhau vì thế giới này trong phim Tenkû no shiro Rapyuta (Castle in the Sky, 1986).

Các nhân vật nữ trong phim Miyazaki thường có xu hướng độc lập và tự chủ, sẵn sàng đương đầu với mọi trở ngại, những đặc điểm nam tính điển hình. Có rất nhiều đặc điểm trong những nhân vật nữ của Miyazaki cho thấy nét phi nữ tính, như nhân vật chính trong Mononoke-hime (Princess Mononoke, 1997) trông rất tàn bạo khi luôn tấn công và tiêu diệt càng nhiều người thuộc loài người càng tốt; hay như cô bé Kiki 13 tuổi trong Majo no takkyûbin (Kiki’s Delivery Service, 1989) rời nhà sống tự lập ở một nơi xa lạ. Một đặc điểm nổi bật nữa ở các nhân vật nữ của Miyazaki chính là họ luôn ở trong tình trạng chỉ có một mình; hoặc là mồ côi cha mẹ như San trong phim Mononoke-hime (Princess Mononoke, 1997) và Sheeta trong Tenkû no shiro Rapyuta (Castle in the Sky, 1986); hoặc thiếu vắng hình bóng người mẹ như Nausicaa trong Kaze no tani no Naushika (Nausicaa of the Valley of the Wind, 1986), hay hai chị em Satsuki và Mei trong Tonari no Totoro (My Neighbor Totoro, 1988); hoặc sống tách rời cha mẹ như Kiki trong Majo no takkyûbin (Kiki’s Delivery Service, 1989), hay Fio trong Kurenai no buta (Porco Roso, 1992). Có lẽ vì các nhân vật nữ của Miyazaki luôn trong tình trạng một mình như thế nên họ buộc phải độc lập, tự chủ để tồn tại. Cũng có thể coi Miyazaki là một nhà nữ quyền, khi trong phim của ông, phụ nữ hiện diện rất nhiều và ông cho họ đóng những vai trò rất quan trọng, từ nhân vật chính đến những nhân vật phụ. Như trong phim Mononoke-hime (Princess Mononoke, 1997), toàn bộ những công nhân làm việc ở mỏ sắt đều là phụ nữ, hay trong Kurenai no buta (Porco Roso, 1992) thì phụ nữ chính là những người làm công việc lắp ráp lại máy bay cho Porco khi chiếc máy bay này bị phá huỷ. Ông Toshio Suzuki, nhà sản xuất phim của Studio Ghibli, đã nhận xét “Miyazaki thật sự là một nhà nữ quyền; ông ta tin rằng để thành công được thì các công ti cần phải làm cho các nhân viên nữ của mình thành công.”

Ngoài ra, các cô gái của Miyazaki cũng bị lôi vào sở thích bay lượn của ông. Cảnh bay lượn xuất hiện rất thường xuyên trong phim của Miyazaki, ngoại trừ hai phim Mononoke-hime (Princess Mononoke, 1997) và Gake no ue no Ponyo (Ponyo, 2008). Sinh trưởng trong một gia đình chế tạo máy bay nên Miyazaki yêu thích máy bay và cả việc bay lượn, nhưng cái cách bay lượn mà ông lồng vào phim không chỉ đơn thuần thoả mãn cho sở thích của mình, mà còn mang những ý nghĩa tượng trưng nhất định nào đó. Theo Từ điển biểu tượng của J. E. Cirlot, bay lượn về mặt tâm lí học chính là biểu tượng của tư duy và đặc biệt là trí tưởng tượng, yếu tố then chốt trong phim Miyazaki; ngoài ra bay lượn còn là một quan niệm về sự thăng tiến vượt ra ngoài quá trình phát triển thông thường, hay nói theo như Tiến sĩ Susan Napier thì tầm nhìn của Miyazaki đã chạm tới những đỉnh huyền ảo nhất, gợi ra triển vọng về sự tự do, sự thay đổi và sự cứu rỗi.

Miyazaki Hayao & Joe Hisaishi, một cặp trời sinh

Nhắc đến phim Miyazki người ta không thể nào không nhắc đến Joe Hisaishi, nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc cho phim của Miyazaki. Nếu tài kể chuyện của Miyazaki cuốn hút người xem vào cõi riêng của chính ông, thì âm nhạc của Hisaishi làm lòng người hoàn toàn chìm đắm trong cõi đó với bao mê say. Như trong phim Tonari no Totoro (My Neighbor Totoro, 1988), có cảnh con Totoro bự và hai con Totoro nhỏ với hai chị em nhân vật chính cùng nhau thực hiện một điệu múa nghi lễ để làm những hạt giống nảy mầm và vươn lên thành một cây đại thụ, lồng vào đó là tiếng nhạc của bài Kaze to toori michi (Path of the wind) khiến cho người xem như có gì đó rạo rực trong lòng. Sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên, bên dưới ngay gốc cây là hai con người bé nhỏ, hai con người biểu trưng cho một thời ấu thơ, một thời đã xa, cùng với vị thần rừng Totoro, tất cả hoà quyện vào tiếng nhạc của Hisaishi tạo thành một khúc ca vĩ đại của thiên nhiên. Cảnh kéo dài chưa đầy một phút, nhưng theo tôi đó có lẽ là cảnh đắt giá nhất trong phim Tonari no Totoro, cũng như là một trong những cảnh đắt giá nhất của Miyazaki, dưới tiếng nhạc của Joe Hisaishi.

Hoặc một cảnh khác, cũng trong phim Tonari no Totoro, cảnh cô chị đi tìm cô em Mei, bài Mai go (A lost child) nổi lên, một cảm giác mất mát, lạc lõng trỗi lên, cô chị đi tìm đứa em thất lạc hay đang đi tìm chính tuổi thơ bị thất lạc của mình.

Hay trong phim Sen to Chihiro kamikakushi (Spirited Away, 2001), ở cảnh cuối khi cô bé Chihiro thoát ra được xứ sở kì lạ, bài Ano natsu he (One Summer’s Day) nổi lên, cô bé gặp lại được bố mẹ mình, và trong một thoáng cô bé muốn quay lại nhìn nhưng đã quyết không nhìn lại phía sau mình, cứ như mọi chuyện vừa xảy ra chỉ là một giấc mộng, một giấc mộng trưa hè, một giấc mộng lạ lùng. Không chỉ xuất hiện trong phim, nhạc của Hisaishi còn nổi lên khi bộ phim kết thúc, đó là bài Itsudemo Nandemo ở cuối phim Sen to Chihiro kamikakushi, khiến người xem khó lòng mà tắt ngay được mà vẫn còn nán lại xem những  khung cảnh của xứ sở kì lạ mà cô bé Chihiro đã vô tình lạc vào, như để hồi tưởng lại và suy ngẫm thêm về những đoạn phim mình đã coi trong gần hai tiếng vừa rồi.

Với tài năng của mình, thì việc Miyazaki chỉ có một giải Oscar phim hoạt hình có lẽ là điều không tương xứng. Theo thiển ý của tôi, giả sử như Oscar có hạng mục phim hoạt hình từ sớm, thì chắc là Miyazaki sẽ có ít nhất bốn Oscar chứ không phải chỉ một mà thôi. Theo John Lasseter, nhà làm phim hoạt hình người Mĩ của hãng Pixar, thì Miyazaki là “nhà làm phim hoạt hình vĩ đại nhất hiện nay”. Thật vậy, càng tìm hiểu về Miyazaki, ta càng khâm phục ông, với biệt tài kể chuyện điêu luyện và khả năng sáng tạo ra những thế giới huyền ảo đầy lôi cuốn, đặc biệt ta sẽ càng kinh hoàng hơn nữa về sức sáng tạo của ông khi biết rằng toàn bộ phim của ông được làm ra mà không cần kịch bản hoàn chỉnh, như ông cho biết trong một lần phỏng vấn:

“Toàn bộ phim của ông được làm mà không cần kịch bản, liệu có thiệt vậy không?

Thiệt đó. Tôi chẳng có câu chuyện nào hoàn chỉnh và sẵn sàng khi bắt đầu làm phim. Tôi thường không có thời gian. Do đó câu chuyện cứ tiến triển khi tôi bắt đầu vẽ phác thảo. Việc sản xuất phim bắt đầu ngay sau đó, trong khi câu chuyện vẫn cứ tiến triển. Chúng tôi chẳng bao giờ biết được câu chuyện sẽ đi tới đâu nhưng vẫn cứ tiếp tục làm phim trong khi nó đang tiến triển. Thật nguy hiểm khi làm phim hoạt hình kiểu đó và tôi muốn phim của mình thật khác biệt, nhưng không may, đó là cách mà tôi làm việc và những người khác cũng bị buộc phải thích ứng với kiểu làm việc này.”

(Midnight Eye phỏng vấn Miyazaki Hayao: http://www.midnighteye.com/interviews/hayao_miyazaki.shtml)

Nếu như Nhật-bản trước đây có một Tezuka Osamu được mệnh danh là ông thánh manga, thì giờ đây Miyazaki Hayao hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu ông thánh anime.

Duy Đoàn
Sài-gòn, 20120401

Tài liệu tham khảo:

“Miyazaki Hayao.” Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite.  Chicago: Encyclopædia Britannica, 2011.

Brooks, Xan. “A god among animators.” The Guardian, 2005:  http://www.guardian.co.uk/film/2005/sep/14/japan.awardsandprizes

Cirlot, J. E. “Flight.” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Damsleth, Wilhelm A. S. “The themes of Hayao Miyazaki.”

Napier, Susan J. Anime from Akira to Howl’s Moving Castle. New York: Palgrave MacMillan, 2001.

Shields, James Mark. “Hayao Miyazaki.” Encyclopedia of Religion and Film. Ed. Eric Michael Mazur. Oxford: ABC-CLIO, 2011.

Varley, Paul. Japanese Culture. 4th ed. Honolulu: University of Hawaii Press, 2000.

Wright, Lucy. “Forest Spirits, Giant Insects and World Trees: The Nature Vision of Hayao Miyazaki.” Journal of Religion and Popular Culture, Vol. 10 (2005).


Advertisements

One comment on “Miyazaki Hayao, một tượng đài

  1. Theo ý kiến chủ quan, thì những phim của Miyazaki xếp theo thứ tự từ hay nhứt đến ít hay hơn (ít hay hơn chứ không dở, Miyazaki không có phim dở) là thế này:

    1. Sen to Chihiro kamikakushi (Spirited Away, 2001)
    2. Tonari no Totoro (My Neighbor Totoro, 1988)
    3. Mononoke-hime (Princess Mononoke, 1997)
    4. Kaze no tani no Naushika (Nausicaa of the Valley of the Wind, 1986)
    5. Hauru no ugoku shiro (Howl’s Moving Castle, 2004)
    6. Tenkû no shiro Rapyuta (Castle in the Sky, 1986)
    7. Majo no takkyûbin (Kiki’s Delivery Service, 1989)
    8. Kurenai no buta (Porco Roso, 1992)
    9. Rupan sansei: Kariosutoro no shiro (Lupin the Third: The Castle of Cagliostro, 1979)
    10. Gake no ue no Ponyo (Ponyo, 2008)

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s