Đọc “Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá” của Vĩnh Sính

Ngày nay Nhật-bản là một cường quốc, và cũng là nơi tập trung nhiều tinh hoa, nghệ thuật thuộc hàng bậc nhất của thế giới. Thế thì tại sao Nhật-bản lại phát triển mạnh mẽ như vậy? Những bài tiểu luận trong cuốn sách “Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá” của Giáo sư Vĩnh Sính đã trả lời được phần nào câu hỏi đó. 

Để hiểu rõ tại sao Nhật-bản phát triển được như ngày nay, trước hết ta phải quay về một thế kỉ rưỡi trước xem họ đã canh tân thế nào. Vào thời Minh-trị (bắt đầu từ năm 1868), Nhật-bản đã bắt đầu công cuộc canh tân đất nước mạnh mẽ bằng cách tích cực học hỏi và tiếp thu văn minh Tây phương. Họ cử người sang các nước tiên tiến học hỏi với phương châm rất thiết thực là “nước nào giỏi cái gì, ta học cái ấy”. Vì theo quan niệm của họ, cách bảo vệ chủ quyền hữu hiệu nhất là tiếp thu văn hoá Tây phương, theo dạng “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, để có thể cùng đua tranh với các cường quốc.

Người đứng đầu trong công cuộc canh tân này là Fukuzawa Yukichi (1835-1901), ông đã đi bôn ba khắp châu Âu và Hoa-kì để tận mắt học hỏi những điều hay của văn minh Tây phương, để rồi về nước góp sức mình vào việc thức tỉnh dân chúng Nhật-bản hòng có thể bắt kịp các cường quốc Tây phương. Fukuzawa đã từng phát biểu rằng: “Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ra ngoài văn minh. Hiện nay nước Nhật đang tiến lên đài văn minh cũng chính vì để bảo vệ độc lập quốc gia. Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh của quốc dân là phương tiện để đạt mục tiêu đó”.

Nhằm tiếp thu văn hoá Tây phương, Nhật-bản vào thời Minh-trị đã cho dịch rất nhiều bộ sách giá trị của những học giả nổi tiếng Tây phương lúc bấy giờ. Có thể nói nửa đầu thời Minh-trị (1868-1889), phong trào dịch thuật ở Nhật-bản để giới thiệu tư tưởng Tây phương đã phát triển cực kì mạnh mẽ, với số lượng sách dịch rất đáng nể. Đây là một số sách tiêu biểu đã được Nhật-bản cho dịch vào thời đó:

– Self-Help (Tự trợ luận) của Samuel Smiles (1812-1904);
– The Theory of Legislation (Lí luận về lập pháp), Principle of the Civil Code (Nguyên lí dân luận), v.v. của Jeremy Bentham (1748-1832);
– On Liberty (Tự do luận), Representative Government (Chính thể đại nghị), v.v. của J. S. Mill (1806-1873);
– Social Statics (Tĩnh học xã hội), Education (Giáo dục), v.v. của Herbert Spencer (1820-1903);
– De l’esprit des lois (Tinh thần luật pháp) của Montesquieu (1689-1755);
– Du contrat social (Xã hội khế ước luận) của J. J. Rousseau (1712-1778).

Đó chỉ mới là những tác phẩm, những tác gia, nhà tư tưởng tiêu biểu; ngoài ra người Nhật còn cho dịch vô số các sách thuộc khoa học xã hội cũng như văn học của những quốc gia như Đức, Ý, Áo, Bỉ, Hà-lan, Nga, v.v..

Chính nhờ phong trào dịch thuật này, mà người Nhật đã cho ra đời những từ, những thuật ngữ mới để giới thiệu những khái niệm mới mẻ bên Tây phương. Những từ Hán-Việt mà Việt-nam ta dùng ngày nay có nhiều từ xuất phát từ Nhật-bản, ví dụ như “triết học”, “diễn thuyết”, “không gian”, “thời gian”, “lập trường”, “thủ tục”, v.v..

Nhờ canh tân mạnh mẽ, Nhật nhanh chóng trở thành cường quốc của châu Á, mở đầu bằng việc đánh bại người láng giềng khổng lồ Trung-quốc trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật 1895, rồi thắng luôn cả Nga trong cuộc chiến Nga-Nhật 1905. Hai trận thắng liên tiếp này đã làm rúng động cả phương Đông, đặc biệt là Việt-nam. Phong trào Đông Du ở Việt-nam do các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng chính là vì thấy được thành quả của Nhật đạt được, và muốn đi theo họ nhằm tìm lại chủ quyền cho nước nhà.

Tuy Nhật-bản và Việt Nam cùng tiếp thu nền văn hoá Hán học của bên Trung Hoa, nhưng cách tiếp thu mỗi bên khác nhau. Cả hai cùng coi Trung Hoa là thầy; nhưng trong khi Việt-nam coi đó là một người thầy mẫu mực, là một khuôn thước trong đời sống tư tưởng, thì Nhật-bản lại học người thầy đó để có thể tránh xa những cái tiêu cực, những điều không hay, lỗi thời của Hán học. Một trong những điểm đáng chú ý nhất mà Vĩnh Sính đã nêu ra khi phân tích cái ảnh hưởng của Hán học đối với hai đất nước Việt-nam và Nhật-bản chính là cái thái độ sử dụng ngôn ngữ của hai dân tộc này trước ảnh hưởng của chữ Hán. Việt-nam từ xưa chấp nhận những khuôn mẫu văn hoá từ Trung-quốc, nên khi sau này lúc đặt ra chữ Nôm nhằm phân biệt với Trung-quốc thì cũng không thoát khỏi cái khuôn mẫu đó, vì theo Vĩnh Sính chữ Nôm được đặt ra “dựa chính trên cách đặt chữ Hán, và điều nghịch lí hơn nữa là muốn viết và đọc được chữ Nôm thì trước hết phải thông chữ Hán”. Còn ở Nhật-bản, từ xưa người ta không biết vô tình hay cố ý đã có thái độ dùng chữ Hán rất độc đáo, như Vĩnh Sính đã dựa theo sách Kojiki (Cổ-sự-kỉ) để bàn về cách đọc kundoku và chữ viết kana: kundoku là “cách đọc chữ Hán theo âm Nhật, bất chấp âm chữ Hán”; và chữ viết kana là “cách viết chỉ mượn âm của chữ Hán nhưng bất chấp nghĩa của chữ Hán”. Nhờ vậy mà chữ Hán trong tiếng Nhật không còn giống chữ Hán trong tiếng Trung-quốc nữa, một cách hoá giải điệu nghệ của người Nhật ngay từ buổi ban đầu.

Có thể vì hai thái độ tiếp thu chữ Hán của Nhật-bản và Việt-nam khác nhau, nên sau này dẫn đến hai hướng đi cũng khác nhau, một bên vẫn bám theo văn hoá Trung-hoa, một bên chủ động tách biệt với nền Hán học Trung-hoa. Ngôn ngữ có một phần tác động không nhỏ lên tư duy của con người, nhưng cũng phải xét chiều ngược lại, chính tư duy của con người là cái phóng chiếu ra bên ngoài để từ đó hình thành những thái độ tiếp nhận ngôn ngữ khác nhau. Như Việt-nam ở liền sông liền núi với Trung-quốc, nên theo Vĩnh Sính, dân tộc Việt-nam đã hình thành một cơ chế tự vệ là bám theo khuôn mẫu văn hoá Trung-hoa, để chứng tỏ “bất tốn Trung-quốc, bất dị Trung-quốc” (không thua Trung-quốc, không khác Trung-quốc), và chính nhờ sự mô phỏng và chấp nhận văn hoá Trung-hoa trên tinh thần người Việt mà Việt-nam đã bảo vệ được chủ quyền dân tộc suốt hàng mấy trăm năm kể từ thời Ngô Quyền vào thế kỉ 10. Còn người Nhật do vị trí địa lí thuận lợi, cách Trung-quốc “một eo biển vừa đủ gần để Nhật có thể tiếp thu văn hoá Trung Hoa trước thời cận đại nhưng cũng vừa đủ xa để khỏi bị Trung Quốc xâm lấn”, do vậy họ không bị ảnh hưởng của văn hoá Trung-hoa đè nặng như ở Việt-nam, nên có thể hình thành một lối tư duy khác, từ đó tạo nên thái độ tiếp nhận chữ Hán khác với Việt-nam.

Ngoài ra, ở trong truyền thống người Nhật trước đó đã có sẵn những điều kiện để giúp họ sẵn sàng tiếp thu những cái mới mẻ sau này. Hãy thử so sánh với Trung-hoa: ở Trung-hoa, hoàng đế là người chiếm địa vị độc tôn, không ai có thể sánh ngang, là người vừa được nể trọng, vừa có uy quyền nhất. Trong khi đó ở Nhật, từ thời Kamakura (1185), Nhật đã có thêm tầng lớp võ sĩ (samurai), do vậy Thiên hoàng tuy là người được nể trọng nhất, là một đấng chí tôn, nhưng lại không có uy quyền bằng Shogun (Tướng quân) – một đấng chí cường; và ngược lại, Shogun có quyền thế, nhưng lại không được dân chúng kính trọng bằng Thiên hoàng. Từ xưa, trong tâm trí người Nhật luôn có sự hiện diện cùng lúc của hai khái niệm. Đó chính là cái điều kiện sẵn có để sau này đến thời Minh-trị, người Nhật có thể tiếp thu một cách dễ dàng những tư tưởng phương Tây, vì khi anh đã chấp nhận hai khái niệm thì đương nhiên anh sẽ chấp nhận được khái niệm thứ ba, thứ tư, v.v., tinh thần đa nguyên nảy nở, do vậy tinh thần tự do sẽ được nảy sinh, con người ta sẽ dễ dàng tiếp thu cái mới để mà phát triển.

Nếu như ở Nhật có một Fukuzawa Yukichi là nhà canh tân tiêu biểu thì ở Việt-nam có hai vị Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đặc biệt là Phan Bội Châu vì ông có những hoạt động chính trị vô cùng sôi nổi vào đầu thế kỉ 20. Cả hai người, Fukuzawa Yukichi và Phan Bội Châu, đều muốn canh tân nước nhà hòng tạo được thế độc lập cho dân tộc, từ đó đưa đất nước đi lên. Nhưng tại sao Fukuzawa lại thành công với nước Nhật, còn những nỗ lực của Phan Bội Châu cuối cùng đã “trở thành bèo bọt”? Qua một bài tiểu luận sâu sắc, Vĩnh Sính phân tích quan điểm của hai nhân vật Fukuzawa Yukichi và Phan Bội Châu về cái gọi là độc lập quốc gia để nhằm lí giải một phần cho lí do thành công ở Nhật và thất bại tại Việt-nam. Theo Vĩnh Sính, “Fukuzawa cho rằng căn bản độc lập quốc gia là tinh thần độc lập của mỗi người trong nước”, trong khi đó Phan Bội Châu “nhấn mạnh về sự hợp quần và coi đó là nền tảng của độc lập quốc gia”, hai ý này không hẳn là mâu thuẫn nhau, “chỉ có điều là khi phân tích về độc lập cá nhân, Phan chỉ phân tích khái niệm này theo nghĩa tiêu cực là ‘ích kỷ’, chứ không nhận thức được mối liên hệ năng động giữa độc lập cá nhân và độc lập quốc gia như Fukuzawa”. Ngoài ra Phan Bội Châu còn chủ trương bạo động để giành độc lập, và lại có tư tưởng Liên Á, “đối với Phan, nền độc lập của Việt Nam không thể phục hồi được nếu không có sự giúp đỡ của các nước Á châu khác, đặc biệt là Trung Hoa và Nhật Bản”, có thể nói Phan Bội Châu đã quá lí tưởng hoá mọi sự và quá trông cậy vào người khác thay vì tự trông cậy vào chính bản thân.  Ở Việt-nam có Phan Châu Trinh chủ trương nâng cao dân trí giống Fukuzawa Yukichi, nhưng có lẽ vì bị cái khuôn khổ của Nho học đè nặng lên quá nên Việt-nam vẫn không thể tự bứt mình ra mà tiếp nhận nền Tây học như Nhật được, do vậy mà phong trào duy tân theo quan điểm của Phan Bội Châu có phần trội hơn, và kết cục là thất bại. Hai đường lối, hai quan điểm khác biệt nhau của hai người dẫn đầu phong trào duy tân ở hai dân tộc dẫn đến hai vận mệnh khác nhau. Tuy thế, đó cũng chỉ là một phần nguyên do, sở dĩ người Nhật đi theo Fukuzawa  Yukichi mà thành công được là còn ở chính nội tại dân tộc Nhật đã chuẩn bị tư thế sẵn sàng cho một cuộc đổi mới. Còn ở trường hợp Phan Bội Châu, thiết nghĩ cho dù Phan Bội Châu có cùng chí hướng với Phan Châu Trinh là làm cuộc cách mạng về dân trí trước nhất, thì cũng chưa chắc người Việt sẽ đi theo một con đường giống người Nhật, một khi cái gông cùm của Nho học vẫn còn xiềng xích tư duy của người Việt, và việc tháo bỏ cái gông cùm đã đeo vào dân tộc Việt suốt hàng mấy trăm nay rõ ràng không phải là việc một sớm một chiều được.

Ngoài ra, trong cuốn sách còn giới thiệu hai bản khảo dịch công phu của Giáo sư Vĩnh Sính, một hồi kí của Chu Thuấn-Thuỷ, và một tác phẩm của Matsuo Bashô. Qua những bài tiểu luận xuất sắc và phần khảo dịch công phu của Vĩnh Sính, người đọc có thể hiểu được đôi nét về nền văn hoá Nhật-bản, cũng như có cái nhìn đối chiếu ngược lại với văn hoá Việt-nam, để hiểu thêm về hoàn cảnh nước nhà, từ đó tự biết cố gắng và phấn đấu hơn nữa. Ta đã bước sang thế kỉ 21 hơn chục năm, mà những lời của Phan Châu Trinh hồi đầu thế kỉ 20, “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”, vẫn còn vang vọng lại đâu đây, vẫn còn là một vấn đề cực kì thời sự cho đến tận ngày hôm nay.

Duy Đoàn
Sài-gòn, 20120403

Advertisements

2 comments on “Đọc “Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá” của Vĩnh Sính

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s