Italo Calvino – Ẩn sĩ tại Paris

Italo Calvino

Ẩn sĩ tại Paris

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Martin McLaughlin

Trong mấy năm gần đây, tôi có một căn nhà ở Paris và mỗi năm tôi lại ở đó một khoảng thời gian, nhưng cho đến giờ thì thành phố này chưa từng xuất hiện trên những trang viết của tôi. Có lẽ để viết về Paris, tôi phải rời khỏi đây, tách biệt mình ra xa khỏi nó, nếu quả thật toàn bộ chuyện viết lách bắt đầu được là nhờ một nỗi thiếu vắng hay một nỗi trống trải nào đó. Còn không thì hãy thâm nhập vào sâu bên trong nó hơn nữa, nhưng để được vậy thì tôi cần phải sống ở đó từ lúc còn nhỏ, nếu quả thật chính những năm tháng đầu tiên ta hiện hữu trên cõi đời này, chứ không phải là nơi chốn ta trưởng thành lên, mới là thứ định hình nên cõi sống trong trí tưởng tượng của ta. Hay nói đúng hơn: một nơi chốn phải trở thành một cảnh quan trong cõi lòng ta, để cho trí tưởng tượng bắt đầu trú ngụ trong đó, và biến cảnh quan ấy thành một rạp hát của riêng mình. Lâu nay Paris vốn đã trở thành một quan cảnh trong cõi lòng biết bao người trong giới văn nghệ sĩ khắp chốn địa cầu này rồi, nó đã thành cảnh quan nằm trong vô số cuốn sách mà tất cả chúng ta đều đã đọc, và hiện diện trong những cuốn sách quan trọng của đời mình. Trước khi trở thành một thành phố của thế giới thực, Paris đối với tôi, cũng như đối với hàng triệu người khác ở những đất nước khác, là một thành phố mà tôi đã tưởng tượng ra thông qua sách vở, một thành phố mà bạn chiếm lấy làm của riêng mình mỗi khi đọc về nó. Bạn bắt đầu từ thuở ấu thơ, với Ba chàng ngự lâm pháo thủ, rồi tới Những người khốn khổ; cũng lúc đó, hay chỉ ngay sau đó thôi, thì Paris trở thành một thành phố của Lịch sử, của Cuộc cách mạng Pháp; sau đó, khi việc đọc sách sung mãn của bạn dần tiến lên, thì nó trở thành nơi chốn có Baudelaire, một nơi có nền thi ca tuyệt diệu của thời kì hơn trăm năm về trước, một thành phố của hội hoạ, của những nhóm người tuyệt vời chuyên về tiểu thuyết, Balzac, Zola, Proust… 

Hồi trước khi tôi thường tới Paris du lịch, thì nó vẫn là một Paris mà tôi từng ghé thăm, nó đã là một hình ảnh quen thuộc mà tôi có thể nhận ra, một hình ảnh mà tôi không thể nào thêm được gì vào đó. Giờ thì những biến cố của cuộc đời đã đưa đẩy tôi sang tới Paris, sống cùng với gia đình mình trong một căn nhà; nếu bạn thích thì tôi vẫn là một du khách đó thôi, bởi những sinh hoạt và công việc ưa thích của tôi vẫn còn nằm lại nước Ý, nhưng dĩ nhiên ở thành phố này thì tôi có cách sống khác, nó bao gồm hàng trăm vấn đề nhỏ nhặt đời thường trong cuộc sống gia đình tôi. Có lẽ nếu nó đồng cảm được với những nỗi thăng trầm riêng tư của tôi, với sự hiện hữu thường nhật của tôi, và đánh mất đi nét hào quang vốn là hình ảnh phản chiếu cho nền văn hoá và văn chương ở đó, thì Paris có thể lại trở thành một thành phố trong lòng người để tôi có thể viết về nó. Một thành phố mà mọi thứ về nó dều có người nói tới, giờ đây không còn như thế nữa rồi, mà chỉ còn là một thành phố mà tôi tình cờ sống ở đó, một thành phố không mang một tên gọi nào.

Thỉnh thoảng, tôi tự nhiên quyết định đặt những câu chuyện tưởng tượng tại New York, một thành phố mà tôi chỉ sống có vài tháng trong đời mình thôi: ai mà biết cớ sao lại vậy, có lẽ bởi vì New York là một thành phố giản dị, ít nhất đối với tôi thì thế, một mẫu điển hình cho một thành phố, một dạng thành phố nguyên mẫu, cũng như địa thế của nó, hình ảnh bên ngoài của nó, xã hội của nó, hết thảy đều làm người ta thích thú. Trong khi đó Paris là một hố sâu đồ sộ, quá nhiều thứ nằm đằng sau nó, có quá nhiều ý nghĩa. Có lẽ nó hơi doạ dẫm người ta một chút: ý tôi là hình ảnh về Paris, chứ không phải bản thân thành phố; ngược lại, nó là một thành phố mà ngay khi bạn đặt chân tới thì ngay tức khắc bạn sẽ thấy nó quen thuộc vô cùng.

Khi tôi nghĩ về nó, tôi chưa bao giờ tình cờ đặt bối cảnh câu chuyện của mình ở Rome, cơ mà tôi đã sống ở Rome lâu hơn khi ở New York, có lẽ còn lâu hơn cả khoảng thời gian ở Paris. Rome là một chốn đô thành khác mà tôi không thể nói tới được, một thành phố mà người đời đã viết quá nhiều về nó rồi. Tuy vậy, không có thứ gì được viết ra nói về Rome lại có thể được so sánh với những gì người ta viết về Paris: điểm chung duy nhất chính là điều này: cả Rome và Paris đều là những thành phố mà người ta sẽ phải khổ sở ít nhiều khi muốn nói về điều gì đó chưa ai từng đề cập đến; và thậm chí chúng có những đặc điểm mới đi nữa thì mọi thay đổi diễn ra ở đó ngay lập tức có một nhóm người khác đã sẵn sàng đề cập đến rồi.

Nhưng có lẽ tôi không có tài thiết lập nên mối quan hệ cá nhân với các nơi chốn, tôi luôn ở lưng chừng giữa các đám mây, với chỉ một chân đặt lên thành phố. Bàn làm việc của tôi từa tựa như một hòn đảo vậy: nó có thể ở đất nước khác cũng như ở ngay tại nơi đây. Và bên cạnh đó, các thành phố sẽ biến chuyển thành một thành phố duy nhất, một thành phố bất tận, nơi đó những khác biệt mà trước kia vốn là những điểm tạo nên tính cách từng thành phố nay dần tan biến. Ý tưởng này xuất hiện xuyên suốt tác phẩm Những thành phố vô hình của tôi, tôi nảy ra ý đó từ lối sống của đa số chúng ta: chúng ta liên tục di chuyển từ sân bay này sang sân bay nọ, để tận hưởng những cuộc sống như nhau bất kể bạn ở thành phố nào. Tôi thường nói, và cũng đã nói nhiều lần, rằng tôi lúc này bắt đầu hơi chán chuyện đó, rằng ở Paris tôi có được quê nhà của mình, tức là trong một chừng mực nào đó với tư cách là nhà văn tôi có thể tiến hành một phần sinh hoạt của mình trong cô độc, không quan trọng là ở đâu, trong căn nhà cô độc nằm giữa miền quê, hay trên một hòn đảo, và căn nhà miền quê này của tôi lại nằm ngay giữa Paris. Bằng cách này, trong khi một phần cuộc đời tôi gắn liền với công việc diễn ra hoàn toàn ở Ý, thì tôi đến đây khi có thể hoặc cần phải ở một mình, đây là điều mà tôi thấy dễ thực hiện hơn khi ở Paris.

Ý, hay ít nhất là Turin và Milan, cách nơi đây một giờ di chuyển; tôi sống ở một nơi có thể dễ dàng đi ra xa lộ để tới sân bay Orly. Tôi có thể nói rằng vào giờ cao điểm khi mọi con đường trong thành phố đều bị giao thông bịt kín hết, thì tôi có thể tới Ý nhanh hơn là tới Champs Elysées. Tôi hầu như có thể đi lại giữa hai nơi như thế; chúng ta giờ đây đang đến rất gần thời điểm mà lúc đó sống ở châu Âu như thể sống trong một thành phố vậy.

Đồng thời, chúng ta cũng đang tới gần thời điểm mà không thành phố nào được người ta xem như một thành phố nữa: bạn bỏ phí nhiều thời giờ cho những chuyến đi ngắn còn hơn lúc đi một chuyến hành trình dài. Khi tôi ở Paris, bạn có thể cho rằng tôi không bao giờ rời khỏi phòng làm việc này; cái này là một thói quen từ hồi lâu rồi, mỗi buổi sáng tôi đi xa nhất là lúc bắt tàu điện ngầm tới khu St Germain-des-Prés để mua mấy tờ báo Ý. Do đó tôi không hẳn là kẻ hay đi bát phố, tức là một gã hay đi lang thang dọc theo các con phố Paris, vốn là hình tượng truyền thống bất hủ do Baudelaire dựng lên. Vậy đó: những chuyến hành trình quốc tế cũng như mấy chuyến đi ngắn trong thành phố không còn mang tính khám phá một chuỗi những nơi chốn khác nhau nữa: chúng chỉ đơn thuần là việc di chuyển từ điểm này sang điểm nọ mà ở giữa là những khoảng không trống rỗng, một sự gián đoạn, một đoạn chuyển tiếp phía trên những đám mây nếu đó là chuyến bay, hay đoạn chuyển tiếp bên dưới mặt đấu nếu đó là chuyến hành trình trong thành phố.

Tôi lúc nào cũng thoải mái khi đi tàu điện ngầm, từ lần đầu tiên tới Paris khi còn là chàng thanh niên và khám phá ra được loại phương tiện giao thông này, rất dễ dùng, đưa cả thành phố này cho tôi muốn tới đâu thì tới. Và có lẽ có một niềm hứng thú nào đó với thế giới dưới lòng đất trong mối quan hệ giữa tôi với tàu điện ngầm: những tiểu thuyết Jules Verne tôi thích nhất là cuốn The Black IndiesJourney to the Center of the Eatth. Hay chính sự ẩn danh là thứ thu hút tôi: trong những đám đông này, tôi có thể quan sát từng người một và đồng thời bản thân tôi biến mất hoàn toàn.

Hôm qua ở trên tàu điện ngầm, có một gã đi chân trần: không phải là một tay du mục, cũng chẳng phải dân hippie, gã đeo kiếng như tôi và nhiều người khác, đang đọc báo, trông hao hao dân học thuật, một kiểu giáo sư đãng trí thường thấy vốn hay quên mang vớ và giày. Đó là một ngày mưa, ông ta đi quanh quẩn bằng chân trần, và không ai nhìn ông ấy, không một ai có vẻ lưu tâm đến. Mơ ước trở nên vô hình… Khi tôi thấy bản thân mình đang ở trong một hoàn cảnh mà ở đấy tôi có thể tận hưởng cái huyễn giác về việc trở nên vô hình, tôi thật sự thấy hài lòng.

Cảm giác khi nói chuyện trên truyền hình lại là một cảm giác hoàn toàn đối nghịch, và tôi cảm thấy được máy quay phim đang chĩa về phía tôi, ghim tôi lên ống kính để tôi hiện hình, xuất đầu lộ diện ra. Tôi tin rằng nhà văn sẽ mất mát đi nhiều thứ khi người ta thấy được họ rõ nét bằng xương bằng thịt. Hồi xưa thì những nhà văn thật sự nổi tiếng hoàn toàn ẩn danh, chỉ hiện tên trên bìa sách thôi, và như thế sẽ khiến họ trở nên huyền ảo lạ thường. Gaston Leroux, Maurice Leblanc (chỉ đề cập một vài người đã lan truyền chuyện thần thoại của Paris cho hàng ngàn người khác) là những nhà văn rất nổi tiếng mà không ai biết gì về họ cả; còn có nhiều tác giả nổi tiếng khác mà người ta thậm chí chỉ biết mỗi họ chứ không biết tên. Tôi tin rằng đây là hoàn cảnh tuyệt hảo dành cho một nhà văn, gần như là ẩn danh: đó là khi vị thế đỉnh cao của ông ta hình thành, khi nhà văn đó không sở hữu một gương mặt, không hiện diện ra, nhưng cái cõi sống mà ông đã mô tả thì chiếm trọn cả bức tranh. Như Shakespeare, không có bức hoạ chân dung nào của ông còn sót lại để chúng ta có thể biết được ông ta trông ra làm sao, cũng như không có thông tin nào trình bày bất kì thứ gì về đúng con người ông. Ngược lại ở ngày nay, hình ảnh nhà văn càng lan tràn ra bên ngoài thì cái cõi sống ông ta mô tả càng trở nên trống rỗng, rồi nhà văn đó tự mờ dần đi, và cái còn sót lại chỉ là phần rỗng tuếch ở mọi bề.

Nhà văn luôn có một điểm xuất phát vô hình, một bí ẩn nào đó để có thể viết ra câu chữ, và đó là lí do tại sao tôi thấy thật khó để định nghĩa mối quan hệ giữa nơi tôi ngồi viết với cảnh thành phố bao quanh vùng không gian đó. Tôi có thể viết rất tốt khi ngồi trong phòng khách sạn, trong cái khoảng không tịch mịch, trừu tượng của những căn phòng khách sạn, nơi đó tôi chợt thấy mình đối diện với tờ giấy trắng, không có gì khác để nhìn, và không có lối thoát. Hay có lẽ đây là một hoàn cảnh tuyệt hảo mà hầu như bao giờ cũng có tác dụng khi tôi hồi ấy trẻ hơn, và cõi sống thì ở kia ngay bên ngoài cánh cửa, đầy những bảng hiệu, cứ bám theo tôi đến bất kì nơi đâu; khung cảnh quá chật chội nên tôi phải tự tách mình ra khỏi đó, dù chỉ cách đó một bước chân ngắn thôi, để có thể viết về nó. Giờ đây thì có lẽ một số thứ đã thay đổi, tôi chỉ viết tốt khi ở trong vùng không gian của riêng mình, với sách vở trong tầm tay như thể tôi lúc nào cũng cần tra cứu thứ này thứ kia. Có lẽ đối với bản thân mấy cuốn sách thì vậy không có gì nhiều nhặn, nhưng đủ để chúng tạo nên một kiểu không gian riêng tư, như thể tôi tự coi mình là thư viện hoàn hảo nhất vậy.

Mà tôi chưa bao giờ quản lí được việc giữ cho thư viện của mình có thể tụ lại một chỗ: tôi lúc nào cũng có mấy cuốn ở đây, mấy cuốn ở kia: khi ở Paris tôi cần tra cứu một cuốn sách, thì đó luôn là cuốn tôi để ở Ý, và khi ổ Ý tôi cần phải tra cứu một cuốn sách nào thì đó luôn là cuốn sách nằm tại căn nhà ở Paris. Nhu cầu cần tra cứu sách vở khi viết lách là một thói quen tôi hình thành được khoảng độ mười năm trở lại đây thôi; trước kia thì không như thế: mọi thứ tôi viết đều lấy từ trí nhớ của mình, và một phần được hình thành từ những kinh nghiệm sống. Thậm chí toàn bộ những tham khảo của tôi về văn hoá đều phải được tôi mang theo trong bản thân mình, là một phần trong tôi, nếu không thì nó sẽ không tuân theo các qui luật, nó không phải là thứ gì tôi có thể đặt vào trang giấy. Nhưng giờ đây thì nó hoàn toàn ngược lại: thậm chí thế giới này cũng đã trở thành một thứ mà tôi rất thường tra cứu, thực tế thì việc từ kệ sách này nhảy ra thế giới bên ngoài không hẳn là tuyệt vời như mình cảm tưởng.

Tôi có thể nói Paris… à, đây là những điều tạo nên Paris: nó là một công trình tham khảo khổng lồ, một thành phố mà bạn có thể tra cứu giống như một quyển bách khoa thư: bất kì trang nào mở ra cũng cho bạn một danh sách hoàn chỉnh chứa đựng các thông tin còn phong phú hơn bất kì nguồn thông tin nào đến từ các thành phố khác. Hãy xem thử mấy cửa tiệm, đó là nơi thảo luận cởi mở để truyền đạt thông tin, và thành phố cũng dùng cách như thế để bày tỏ chính nó: chúng ta ai cũng đọc được thành phố, con đường, dải vỉa hè bằng cách đi theo một dãy các cửa tiệm. Có những cửa tiệm vốn là các chương của một bài khảo luận, có những cửa tiệm là những đề mục trong một cuốn bách khoa thư, những cửa tiệm là những trang báo. Ở Paris có những cửa hàng phó-mát, nơi đó có hàng trăm loại phó-mát khác nhau được trưng bày, mỗi loại có một nhãn tên riêng, phó-mát có lớp tần bì bên ngoài, phó-mát có lớp quả hồ đào bên ngoài: như là một viện bảo tàng hoặc là một Louvre của phó-mát. Đó là những đặc điểm của nền văn minh vốn cho phép tồn tại một lượng phong phú các dạng, các kiểu khác nhau ở một qui mô vừa đủ lớn để việc sản xuất chúng có thể tạo ra lợi nhuận, trong khi vẫn duy trì lẽ tồn tại của chúng bằng cách hàm ý rằng người ta có thể lựa chọn, tạo ra một hệ thống để chứa đựng chúng, một ngôn ngữ dành cho phó-mát. Nhưng trên hết là niềm hân hoan về mặt tinh thần khi tạo ra được sự phân loại và cách đặt danh pháp. Do vậy nếu ngày mai tôi bắt đầu viết về phó-mát, thì tôi có thể ra ngoài và tham khảo Paris giống như tra cứu một quyển bách khoa thư khổng lồ về phó-mát. Hoặc có thể hỏi ý kiến mấy người chủ tiệm tạp hoá để biết ở đâu thì bạn nhận ra được những thứ vẫn còn tính chất ngoại lai hồi thế kỉ mười chín, một tính chất ngoại lai trong chuyện buôn bán vốn là một phần của chủ nghĩa thực dân thuở ban đầu, là tinh thần gợi nguồn cảm hứng cho Hội chợ Toàn cầu.

Paris có một loại cửa tiệm mà khi vào đó người ta cảm thấy được đây là thành phố định hình nên một lối chiêm nghiệm cụ thể về nền văn hoá, đó là viện bảo tàng, và viện bảo tàng tới phiên nó lại mang hình dáng của mình phủ lên hầu hết các sinh hoạt thường nhật, để cho các phòng trưng bày ở Louvre và các cửa sổ trưng bày ở cửa tiệm tạo thành một thể liên tục. Chúng ta có thể nói rằng mọi thứ trên đường phố đã sẵn sàng bước vào viện bảo tàng, hoặc viện bảo tàng đã sẵn sàng hấp thu mọi thứ trên đường phố. Không phải ngẫu nhiên mà viện bảo tàng ưa thích của tôi là nơi dùng để cống hiến cho cuộc sống và lịch sử Paris, viện bảo tàng Carnavalet.

Ý tưởng cho thành phố là một nơi diễn giải ra mọi điều như một quyển bách khoa thư, là một kí ức tập thể, ý đó chính là một phần của cả một truyền thống: hãy nghĩ đến các nhà thờ Gothic mà mọi chi tiết kiến trúc và hoa văn, mọi khoảng không gian và từng yếu tố trong đó, có liên hệ với những quan niệm vốn là một phần của trí tuệ nhân loại, hết thảy đều là dấu hiệu có thể tìm thấy được tiếng vang vọng ở những bối cảnh khác. Cũng theo cách đó ta có thể “đọc” thành phố này như một công trình tham khảo, tựa như ta đọc Nhà thờ Đức bà (mặc dù ta đọc nó thông qua phần phục chế của Viollet-le-Duc), thủ đô này tới thủ đô kia, từ cơn ẩm ướt này đến cơn ẩm ướt nọ. Và đồng thời chúng ta có thể đọc thành phố, xem nó như là một cụm vô thức tập thể: vô thức tập thể là một bảng danh mục khổng lồ, một tập truyện ngụ ngôn to tướng; chúng ta có thể diễn giải Paris thành một cuốn sách nói về những giấc mơ, một quyển album lưu giữ vô thức của chúng ta, một tập danh mục những nỗi khiếp sợ. Do đó khi dạo bước như một người cha, đi theo sau là đứa con gái bé nhỏ của mình, Paris đã rất cởi mở để tôi có thể tham khảo những tập truyện ngụ ngôn của khu vườn Jardin des Plantes, những phần có mấy con thuồng luồng và bò sát trong đó mấy con giông mào và tắc kè hoa sống hạnh phúc cùng nhau: chúng là những loài vật của thời tiền sử, và đồng thời chúng là cái hang của loài rồng mà nền văn minh của chúng ta đã kéo lê thân mình theo sau nó.

Những con quái thú và hồn ma của vô thức hiển hiện rõ bên ngoài chúng ta là nét đặc biệt và xưa cũ của thành phố này, không phải tình cờ mà nơi đây trở thành thủ phủ của chủ nghĩa siêu thực. Bởi lẽ Paris, thậm chí trước khi Breton xuất hiện, đã chứa đựng tất cả những thứ mà sau này trở thành nguyên liệu thô sơ ban đầu cho tầm nhìn siêu thực; và chủ nghĩa siêu thực sau đó để lại những dấu hiệu, những vết tích, mà người ta có thể nhận ra xuyên suốt cả thành phố này, nếu không có cách đặc biệt nào khác để thưởng thức quyền năng của hình ảnh, như trong các tiệm sách siêu thực, hay những rạp chiếu phim nhỏ, chẳng hạn như rạp Le Styx chuyên chiếu những phim kinh dị.

Ở Paris thì rạp chiếu phim cũng là một viện bảo tàng, hay cũng là một quyển bách khoa thư cho ta tham khảo, không chỉ bởi vì lượng phim được chiếu ở Cinémathèque, mà còn vì cả một hệ thống rạp chiếu phim ở Khu phố Latin: những lối đi nhỏ đầy mùi hôi hám trong rạp, ở đó bạn có thể thấy được phim mới nhất của một đạo diễn Brazil hay Ba-lan nào đó, hoặc những bộ phim cũ kĩ thuộc giai đoạn phim câm hay ở giai đoạn thế chiến thứ nhì. Chỉ cần một chút nghiên cứu kĩ lưỡng và một chút may mắn thì mọi khán giả đều có thể tái dựng lại lịch sự điện ảnh theo từng mảng một: ví dụ như tôi có điểm yếu ở mảng phim thời thập niên 1930, bởi trong những năm tháng lúc đó, đối với tôi điện ảnh là cả một cõi sống, và trong lĩnh vực này tôi có thể thấy được một số điều thú vị thật sự, như là cảm giác tìm về một thời đã mất, xem được những phim từ thuở ấu thơ hay bắt gặp được những phim tôi đã bỏ lỡ khi còn nhỏ, mà tôi tưởng chừng là sẽ bỏ lỡ mãi mãi luôn rồi, còn ở Paris bạn lúc nào cũng có thể hi vọng tìm thấy được những thứ mà bạn tưởng như đã mất, tìm lại được quá khứ của chính mình hay của một ai đó. Do vậy có một cách nhìn khác đối với thành phố này: nó tựa như một văn phòng khổng lồ lưu trữ những món đồ đã thất lạc, hơi giống với mặt trăng trong tác phẩm Orlando Furioso, là nơi tụ họp mọi thứ đã bị thất lạc trên cõi đời này.

Thế là giờ đây chúng ta đang tiến vào chốn Paris bất tận được bao nhà sưu tập say đắm, thành phố này rủ rê bạn hãy tạo nên bộ sưu tập về tất cả mọi thứ, bởi nó tích trữ dần, phân loại ra rồi phân phối lại, nơi đó bạn có thể tìm kiếm như thể mình đang thực hiện một cuộc đào bới khảo cổ vậy. Trải nghiệm của nhà sưu tầm có thể vẫn còn là một chuyến phiêu lưu mang tính hiện sinh, một cuộc tìm kiếm bản ngã thông qua các món đồ, một cuộc khám phá cõi sống mà đồng thời cũng là quá trình nhận thức ra bản ngã mỗi người. Nhưng tôi không thể cho rằng mình có được cái bản năng đó của nhà sưu tầm, hay nói đúng hơn bản năng đó chỉ trỗi dậy trở lại đối với những thứ tinh tế như hình ảnh trong những bộ phim xưa cũ, một bộ sưu tập kí ức, hay hình ảnh về những bóng hình trắng-đen.

Tôi phải rút ra kết luận, đối với tôi thì Paris là một thành phố cho sự trưởng thành của bản thân: tức là tôi cảm thấy mình không còn xem nó với tinh thần khám phá cõi sống nữa, vốn là một cuộc phiêu lưu thuộc về thời trai trẻ. Mối liên hệ của tôi với cõi sống này đã chuyển từ giai đoạn khám phá sang giai đoạn tham vấn, nói cách khác cõi sống này là một bộ sưu tập các loại dữ liệu hiện hữu ở nơi đó, độc lập với tôi, một kho dữ liệu mà tôi có thể đối chiếu, kết hợp, truyền tải đi, thậm chí đôi lúc còn tận hưởng nó nữa, nhưng bao giờ cũng nằm một chút ở phía ngoài. Bên dưới căn nhà tôi ở đó là một đường tàu điện ngầm ngoại ô, Paris-Ceinture, và gần như bỏ không, nhưng một ngày có một chiếc tàu điện nhỏ vẫn cứ chạy qua đó hai lần và khi ấy tôi nhớ lại những dòng thơ của Laforgue như sau

Je n’aurai jamais d’aventures;
Qu’il est petit, dans la Nature,
Le chemin d’fer Paris-Ceinture!
(Tôi chưa từng có chuyến phiêu lưu nào;

Thật nhỏ bé làm sao, giữa chốn tự nhiên này,

Một đường tàu ngoại ô Paris-Ceinture!)

[Đoạn văn bản này được lấy từ buổi phỏng vấn với Valerio Riva cho chương trình truyền hình Thuỵ-sĩ Ý năm 1974. Cùng năm đó, nó được công bố ra bằng một ấn bản có hạn, ở Lugano, tác giả là Edizioni Pantarei với bốn bức vẽ của Giuseppe Ajmone (ghi chú của tác giả).]

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20120820

Nguồn:

Calvino, Italo. “Hermit in Paris.” Hermit in Paris: Autobiographical Writings. Trans. Martin McLaughlin. New York: Vintage, 2004.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s