Tổng quan về chứng tự kỉ (autism)

 

Tự kỉ là gì

Tự kỉ là một thuật ngữ chung dùng để chỉ một nhóm những rối loạn phức tạp về sự phát triển não bộ hay còn gọi là Rối loạn phát triển thần kinh diện rộng (Pervasive Developmental Disorders, PDD). Những rối loạn phát triển thần kinh diện rộng khác là Rối loạn phát triển thần kinh diện rộng chưa xác định (Pervasive Developmental Disorder – Not Otherwise Specified, PDD-NOS), hội chứng Asperger, hội chứng Rett và Rối loạn phân li tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder). Nhiều bậc phụ huynh và các chuyên gia qui cho nhóm này là Rối loạn phổ tự kỉ (Autism Spectrum Disorders). Bạn cũng có thể nghe thấy thuật ngữ Tự kỉ cổ điển hoặc Tự kỉ Kanner (đặt theo tên của nhà tâm thần học đầu tiên mô tả chứng tự kỉ) được dùng để diễn tả dạng nặng nhất của chứng rối loạn này.

Mặc dù tự kỉ là về sinh học, hiện tại không có xét nghiệm y học nào dành cho tự kỉ; người ta chẩn đoán dựa trên quan sát hành vi và những bài kiểm tra về giáo dục và tâm lí học. Cuốn Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder (Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về các chứng rối loạn tâm thần – thường được gọi tắt là DSM IV) của Viện Tâm thần Mĩ là nguồn tài liệu tham khảo chính về chẩn đoán được các chuyên gia tâm thần và các nhà cung cứng bảo hiểm ở Mĩ dùng đến.

Ngày nay, người ta ước tính có 1 trong mỗi 88 trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỉ tại Hoa Kì, khiến tự kỉ trở nên phổ biến hơn cả ung thư ở trẻ em, bệnh tiểu đường ở trẻ em và AIDS ở trẻ em cộng lại. Mức phổ biến này tăng 23% trong hai năm từ 2006-2008. Không có một lí giải chắc chắn nào cho sự gia tăng này, và người ta thường đưa ra hai nguyên do là việc cải thiện những phương pháp chẩn đoán giúp phát hiện thêm nhiều trường hợp tự kỉ, và thứ nhì là những ảnh hưởng từ môi trường. Các nghiên cứu cho thấy bé trai có nhiều khả năng phát triển chứng tự kỉ hơn so với bé gái và thường được chẩn đoán mắc phải tự kỉ nhiều hơn từ ba tới bốn lần. Theo ước tính hiện nay chỉ riêng tại Hoa Kì, cứ 54 bé trai thì sẽ có 1 bé được chẩn đoán mắc chứng tự kỉ. 

Các tiêu chuẩn cho việc chẩn đoán tự kỉ trong DSM IV

I. Có tất cả sáu điểm (hoặc hơn) bắt đầu từ (A), (B), và (C), với ít nhất hai điểm trong (A), và một trong (B) và (C):

(A) Tương tác xã hội kém, biểu hiện ít nhất ở hai trong số các điểm sau:

  • Có khiếm khuyết rõ ràng trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ phức tạp như nhìn trực tiếp vào mắt người khác, biểu cảm gương mặt, những tư thế, cử chỉ để kiểm soát việc giao lưu với người khác.
  • Không hình thành được những mối quan hệ bạn bè tương ứng với mức độ phát triển.
  • Thiếu những tò mò tự phát để san sẻ niềm vui, sự thích thú hoặc những thành quả đạt được với người khác (ví dụ như thiếu khả năng phô bày, đưa ra hoặc chỉ ra những gì mình thích cho người khác biết).
  • Thiếu khả năng giao tiếp xã hội hoặc trao đổi cảm xúc.

(B) Giao tiếp kém, biểu hiện ít nhất ở một điểm trong số các điểm sau:

  • Trì trệ hoặc thiếu hẳn khả năng phát triển ngôn ngữ nói (đồng thời không nỗ lực tìm cách khác để giao tiếp như dùng điệu bộ hoặc ra hiệu bằng tay).
  • Kém khả năng truyển đạt lời nói một cách đầy đủ, cũng như thiếu khả năng gợi chuyện và duy trì đối thoại với người khác.
  • Dùng ngôn từ rập khuôn và lặp đi lặp lại, hoặc dùng ngôn ngữ kì dị.
  • Thiếu tính đa dạng, thiếu khả năng chơi đùa tự phát hoặc chơi những trò bắt chước với người khác tương ứng với mức độ phát triển của lứa tuổi.

(C) Lặp đi lặp lại và rập khuôn theo một số sở thích, hoạt động và hành vi hạn chế, biểu hiện ít nhất ở hai trong số các điểm sau:

  • Chỉ chăm chăm thực hiện một hoặc vài hoạt động sở thích hạn chế, rập khuôn vốn bất thường cả về mật độ lẫn mức độ thực hiện.
  • Có biểu hiện bám chặt một cách cứng nhắc vào những thói quen không mục đích rõ ràng hoặc những nghi thức.
  • Có những kiểu vận động rập khuôn, lặp đi lặp lại (ví dụ như vỗ vỗ hoặc vặn vẹo bàn tay, hoặc có những cử động thân thể phức tạp).
  • Chú tâm dai dẳng vào một đặc điểm nào đó của đồ vật.

II. Hoạt động trì trệ hoặc bất thường trong ít nhất một trong số các lĩnh vực sau, khởi phát trước 3 tuổi:

  • Tương tác xã hội.
  • Ngôn ngữ giao tiếp xã hội.
  • Những trò chơi giàu tính tưởng tượng hoặc tính tượng trưng.

III. Sự xáo trộn này tốt hơn hết không dùng để giải thích về Rối loạn Rett (Rett’s Disorder) hoặc Rối loạn phân li tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder).

Nguyên nhân gây ra chứng tự kỉ

Vào thập niên 1940 thì Leo Kanner, nhà tâm thần học đầu tiên phân biệt tự kỉ là một trường hợp đặc biệt, đã nhấn mạnh vai trò của người mẹ ghẻ lạnh, cho rằng chính việc thiếu tình thương ấm áp từ người mẹ đã khiến cho con trẻ quay lưng lại với thế giới loài người và mắc phải chứng tự kỉ. Mặc dù sau đó Kanner đã lên tiếng bác bỏ quan niệm đó và quay trở lại xem xét các cơ chế trong não bộ, nhưng vào lúc đó thì Bruno Beltelheim, một tác giả nổi tiếng khác thời đó, lại ủng hộ và duy trì cách hiểu sai lệch về nguyên nhân gây nên tự kỉ. Đến những năm thập niên 1960 và 1970, bác sĩ Bernard Rimland, cha của một bé trai mắc chứng tự kỉ, người sau đó sáng lập nên Cộng đồng tự kỉ Hoa Kì (Autism Society of America) và Viện nghiên cứu chứng tự kỉ (Autism Research Institute), đã giúp cộng đồng y học vỡ lẽ ra rằng tự kỉ là một chứng rối loạn thuộc về sinh học, chứ không phải do sự ghẻ lạnh từ cha mẹ.

Cho đến nay thì người ta vẫn chưa rõ đâu là nguyên nhân thực sự gây nên tự kỉ. Các nhà khoa học phát hiện vùng nhiễm sắc thể số 15 ở một số trẻ tự kỉ bị mất đi hoặc bị nhân lên. Những khiếm khuyết ở vùng này cũng nằm trong những chứng rối loạn khác có liên quan đến sự phát triển sinh học thần kinh, bao gồm hội chứng Angelman, hội chứng Prader-Willi và chứng động kinh.

Có nghiên cứu khác cho rằng có mối liên kết giữa nguy cơ mắc chứng tự kỉ với độ tuổi bố mẹ ở thời điểm mang thai. Một nghiên cứu tiến hành trên 4.9 triệu đứa trẻ mới sinh diễn ra ở bang California tại Mĩ trong khoảng từ năm 1990 đến 1999 cho thấy trong số gần 12,160 trẻ sau này mắc chứng tự kỉ thì có 5 phần trăm thuộc về bà mẹ có tuổi đã lớn. Những bà mẹ từ 40 tuổi trở lên thì dễ có nguy cơ sinh đứa con mắc phải chứng tự kỉ. Ngược lại, người bố lớn tuổi trở thành nhân tố gây nguy cơ tự kỉ chỉ khi tuổi của người mẹ từ 30 trở xuống. Dù vậy, người ta vẫn không rõ đâu là lí do nằm bên dưới cho những liên hệ nói trên. [1]

Ngoài ra, gần đây nhất, hồi tháng 5/2012, có một nghiên cứu khác nữa của nhóm các nhà khoa học ở University of California Davis cho biết nếu người mẹ bị sốt lúc mang thai thì trẻ sinh ra có nguy cơ mắc phải chứng tự kỉ gấp đôi so với bình thường [2].

Nhìn chung, các chứng cớ khoa học tốt nhất hiện nay đều chỉ đưa ra những phỏng đoán về nguyên nhân gây ra chứng tự kỉ. Có thể là do gene tự chúng gây ra tự kỉ hoặc có thể khi kết hợp với việc tiếp xúc các yếu tố ngoài môi trường (mà đến nay vẫn chưa xác định được là yếu tố gì). Thời gian tiếp xúc trong suốt quá trình phát triển của trẻ (trước, trong lúc, và sau khi ra đời) có thể đóng vai trò nào đó khiến cho chứng rối loạn này phát triển hoặc bộc lộ ra cuối cùng.

Các triệu chứng chính của chứng tự kỉ

Các triệu chứng của chứng tự kỉ và mức độ nghiêm trọng của nó có thể khác nhau khá nhiều tuỳ theo từng người xét trên phổ tự kỉ. Bởi vì các triệu chứng là dấu hiệu cơ bản cho việc chẩn đoán tự kỉ, nên các vùng chức năng của giao tiếp, giao lưu xã hội và các hành vi lặp đi lặp lại được xem như là các triệu chứng “cốt lõi” của tự kỉ. Chứng tự kỉ ảnh hưởng lên cách trẻ con tiếp nhận thế giới, khiến cho việc giao tiếp và giao lưu xã hội trở nên khó khăn. Nó cũng dẫn đến những hành vi lặp đi lặp lại hay trông kì quặc hoặc tỏ vẻ thích thú quá mức. Điều quan trọng nên nhớ rằng các triệu chứng tự kỉ bắt nguồn từ các nguyên do thần kinh, và những triệu chứng này không biểu hiện cho những hành vi ương bướng của đứa trẻ.

Những đặc điểm của tự kỉ thường kéo dài suốt cả đời người, mặc dù chúng có thể thay đổi khá nhiều theo thời gian và bằng cách can thiệp. Một người mắc phải tự kỉ nhẹ thì có thể chỉ có tính cách lạ thường và vẫn có một cuộc sống bình thường. Một người mắc phải chứng tự kỉ nặng sẽ không thể nói chuyện hay tự chăm sóc bản thân. Việc can thiệp sớm và triệt để có thể tạo nên khác biệt phi thường đối với sự phát triển của trẻ và có được kết quả khả quan.

Các triệu chứng khi giao lưu với người khác ngoài xã hội

Ngay từ ban đầu, những đứa trẻ sơ sinh phát triển bình thường đã là những nhân tố xã hội. Từ thuở đầu đời ấy, chúng đã nhìn ngắm con người, hướng về giọng nói, bắt lấy ngón tay và còn cười nữa. Trái lại, hầu hết trẻ tự kỉ dường như gặp rất nhiều khó khăn trong việc học cách hoà nhập vào những mối tương tác cho-và-nhận hàng ngày giữa người với người. Thậm chí trong những tháng đầu đời, thì nhiều trẻ tự kỉ không giao lưu được với người khác và đặc biệt là tránh tiếp xúc bằng mắt, đây có lẽ là đặc điểm rõ ràng nhất để nhận biết chứng tự kỉ ở trẻ sơ sinh. Chúng dường như hờ hững với người khác, và dường như thích được ở một mình hơn. Chúng có thể không chú ý hoặc chấp nhận một cách thụ động những cái ôm và những cái vuốt ve. Sau đó, chúng hiếm khi tìm đến sự an ủi hoặc ít khi phản ứng theo cách bình thường với nỗi bày tỏ tức giậc hoặc bày tỏ tình yêu thương của bố mẹ. Nghiên cứu cho rằng mặc dù trẻ tự kỉ luôn gần gũi với bố mẹ nhưng biểu hiện gần gũi này lại bất thường và khó hiểu. Đối với các bậc phụ huynh, thì dường như con họ không gần gũi với họ chút nào. Những bậc phụ huynh hay tìm đến niềm vui từ những cái vuốt ve, từ việc dạy dỗ và chơi đùa cùng con họ sẽ cảm thấy tan nát bởi vì trẻ không có hành vi gần gũi bình thường theo như mong đợi của họ.

Trẻ tự kỉ còn chậm học cách diễn giải những điều người khác nghĩ và cảm nhận. Những biểu cảm xã hội tinh tế hơn như một nụ cười, một cái vẫy tay, hoặc một cái nhăn mặt có thể không mang nhiều ý nghĩa lắm với một đứa trẻ tự kỉ. Với một đứa trẻ khiếm khuyết những biểu cảm này, cho dù người nói có đang cười và dang rộng cánh tay chờ đón một cái ôm, hoặc đang nhăn nhó, đứng chống nạnh, thì câu nói “Lại đây” vẫn luôn mang cùng một ý nghĩa. Không có khả năng diễn giải các cử chỉ và nét mặt, nên xã hội bên ngoài dường như có vẻ khó hiểu đối với chúng. Vấn đề chung là những người bị tự kỉ rất khó nhìn thấy quan điểm của người khác. Khi lên 5 tuổi thì hầu hết mọi người đều hiểu là người khác thì sẽ có ý kiến khác, cảm giác khác và mục tiêu cũng khác. Một đứa trẻ bị tự kỉ có thể không hiểu những điều này. Do không có khả năng đó nên họ không thể đoán được hay hiểu được hành động của người khác.

Mặc dù không phải là ai cũng vậy nhưng thường là những người tự kỉ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc điều tiết cảm xúc của mình. Việc này có thể được gọi là những hành vi “chưa trưởng thành”, chẳng hạn như khóc trong lớp học hoặc bột phát những lời nói không phù hợp với hoàn cảnh xung quanh. Người mắc phải chứng tự kỉ cũng có thể gây phiền hà và đôi lúc còn muốn gây hấn đánh nhau với ai đó, và những điều đó làm cho việc giao lưu với người khác càng trở nên khó khăn hơn. Họ có xu hướng “mất kiểm soát” đặc biệt khi ở trong môi trường lạ lẫm và bị choáng ngộp, hoặc những lúc tức giận và chán nản. Thỉnh thoảng họ cũng làm đổ vỡ đồ đạc, đánh người khác, hay tự làm đau bản thân mình. Trong cơn suy sụp thì một số người tự đập đầu, tự bứt tóc hoặc là tự cắn tay mình.

Những khó khăn trong giao tiếp

Lúc 3 tuổi, hầu hết trẻ con đều đã trải qua những cột mốt quan trọng trên con đường tiếp thu ngôn ngữ, một trong những cột mốc sớm nhất là tiếng nói bập bẹ. Lúc tròn một tuổi, thì một đứa trẻ sơ sinh bình thường đã nói được những ngôn từ, biết quay lại khi nghe ai đó gọi tên mình, dùng tay chỉ khi muốn món đồ chơi nào đó, và khi ai đó cho trẻ cái gì trông gớm ghiếc thì trẻ có thể trả lời dứt khoát là “không”.

Một số trẻ tự kỉ vẫn cứ im lặng suốt đời mình. Một số trẻ sơ sinh, những đứa sau này có dấu hiệu tự kỉ, thì lại có thể bi bô, bập bẹ trong những tháng đầu đời nhưng rồi chúng nhanh chóng ngừng lại. Một số khác có thể bị trì trệ, chỉ phát triển ngôn ngữ khi đã được từ năm tới chín tuổi. Một số trẻ còn học cách dùng các phương thức giao tiếp như dùng hình ảnh hay ra dấu.

Nhiều đứa trẻ tự kỉ có thể nói nhưng thường dùng ngôn ngữ theo kiểu rất lạ thường. Chúng dường như không biết cách kết hợp từ ngữ lại thành những câu có ý nghĩa. Một số chỉ nói được những từ đơn lẻ, trong khi số khác thì cứ lặp đi lặp lại mỗi một cụm từ. Một số trẻ tự kỉ nhái lại những gì chúng nghe được, người ta gọi đây là lặp lại máy móc lời người khác (echolalia). Mặc dù nhiều trẻ bình thường cũng trải qua giai đoạn hay lặp lại những gì chúng nghe thấy, nhưng khi lên 3 tuổi thì chúng không còn thế nữa.

Những đứa trẻ chỉ mắc phải chứng tự kỉ nhẹ cũng cho thấy chúng chậm tiếp nhận ngôn ngữ, hay thậm chí biết nói sớm và có vốn từ nhiều đến mức bất thường, nhưng cũng gặp khó khăn rất nhiều khi phải tiếp tục trò chuyện với người khác. Cái việc “cho và nhận” trong những cuộc chuyện trò bình thường là điều chúng cảm thấy khó khăn, mặc dù chúng có thể độc thoại về một chủ đề ưa thích nào đó, và điều này khiến cho không ai có thể chen vào nói gì được. Khó khăn thường thấy khác là không có khả năng hiểu ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu, hay “kiểu nói lái”. Chúng có thể hiểu các câu hàm ý mỉa mai như “Ồ, tuyệt chưa kìa” theo nghĩa điều đó ĐÚNG LÀ rất tuyệt.

Thật khó để hiểu được những gì trẻ tự kỉ nói, thì cả cử chỉ cơ thể của chúng cũng khiến người ta khó hiểu. Nét mặt, vận động, cử chỉ hiếm khi trùng khớp với lời nói của chúng. Giọng điệu của chúng cũng không phản ánh được cảm xúc bên trong chúng. Những giọng cao vút, ngân nga, ngang phè hay giống kiểu robot là những giọng thường thấy. Một số trẻ có kĩ năng ngôn ngữ khá tốt thì nói năng như mấy ông bà cụ non, không có được “kiểu nói trẻ con” như tụi bạn đồng trang lứa của chúng.

Không có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ hay bằng cử chỉ để yêu cầu điều gì đó, nên những người mắc phải chứng tự kỉ thường lạc lõng và người ta không thể biết họ cần gì. Thế là dẫn đến chuyện họ chỉ đơn giản gào lên hoặc tóm lấy những thứ mình muốn. Trẻ tự kỉ vẫn cứ làm bất kì chuyện gì có thể làm để cho người khác hiểu mình cho đến khi được dạy làm thế nào để bày tỏ nhu cầu của mình cho đúng mực. Khi trẻ tự kỉ lớn lên, thì chúng càng lúc càng ý thức hơn về nỗi khó khăn của mình trong chuyện hiểu người khác và làm cho người khác hiểu mình. Kết quả là chúng trở nên âu lo hoặc bị trầm cảm.

Những hành vi lặp đi lặp lại

Dù trẻ tự kỉ có thể chất bình thường, song những hành động kì quặc lặp đi lặp lại của chúng có thể tách chúng ra khỏi những đứa trẻ khác. Những hành vi đó có thể nghiêm trọng, dễ thấy, hoặc chỉ là những hành vi nhỏ nhặt khó nhận ra. Một số trẻ và một số đứa lớn hơn thường vung vẫy tay nhiều lần liên tục hay cứ đi nhón chân. Một số đứa còn bất chợt đứng sững lại.

Trẻ tự kỉ có thể ngồi hàng ngờ xếp mấy chiếc xe theo một kiểu nào đó, thay vì dùng chúng để chơi mấy trò tưởng tượng. Nếu ai đó vô tình di chuyển một chiếc xe, thì chúng có thể tỏ ra rất khó chịu. Trẻ tự kỉ thường cần, và muốn có được một môi trường sống đều đều không có thứ gì lạ chen vào. Một thay đổi nhỏ chen vào nhịp sống hàng ngày – như lúc ăn uống, thay đồ, đi tắm, đi học vào một giờ nhất định theo cùng một con đường – có thể khiến trẻ tự kỉ trở nên buồn phiền. Có lẽ tính trật tự và đồng nhất đã truyền vào một chút ổn định cho cõi sống rối bời này.

Hành vi lặp đi lặp lại là biểu hiện của một nỗi ám ảnh dai dẳng, day dứt. Ví dụ đứa trẻ có thể ám ảnh khi phải biết mọi thứ về máy hút bụi, về lịch tàu hoả, về mấy ngọn hải đăng. Chúng thường thích đặc biệt về con số, biểu tượng hay những đề tài khoa học.

 
Những ngộ nhận thường gặp về chứng tự kỉ

Người mắc phải chứng tự kỉ thường không muốn kết bạn

Sự thật: Nếu một người bạn trong lớp mắc phải chứng tự kỉ, thì họ có thể sẽ phải vật lộn với các kĩ năng giao tiếp xã hội, chính điều này gây trở ngại cho việc giao lưu với các bạn đồng trang lứa. Họ có thể sẽ tỏ ra ngại ngùng hoặc thiếu thân thiện, nhưng đó là vì họ không có khả năng truyền đạt ý muốn kết bạn của mình giống như những người khác.

Người mắc phải chứng tự kỉ không thể cảm nhận hoặc bày tỏ cảm xúc vui buồn.

Sự thật: Chứng tự kỉ không khiến người ta mất đi khả năng cảm nhận cảm xúc, chỉ là người đó truyền đạt cảm xúc (và tiếp nhận biểu hiện của bạn) theo cách khác.

Người mắc phải chứng tự kỉ không thể hiểu cảm xúc của người khác.

Sự thật: Tự kỉ thường ảnh hưởng đến khả năng nhận biết thông điệp truyền đạt không lời giữa người với người, do vậy người mắc phải chứng tự kỉ không thể nhận diện được nỗi buồn dựa trên ngôn ngữ cơ thể hoặc từ giọng điệu mỉa mai của người khác. Nhưng nếu cảm xúc được truyền đạt trực tiếp thì người mắc phải chứng tự kỉ có thể thấu hiểu và tỏ lòng trắc ẩn được với người khác.

Người mắc phải chứng tự kỉ là người không có khả năng về trí tuệ

Sự thật: Thường thì tự kỉ mang lại nhiều khả năng đặc biệt không thua kém gì những hạn chế. Nhiều người tự kỉ có chỉ số thông minh từ trung bình đến cao, và một số người còn rất giỏi toán, âm nhạc hoặc một món nào khác.

Người mắc phải chứng tự kỉ sẽ trông giống như nhân vật mà Dustin Hoffman thủ vai trong bộ phim Rain Man.

Sự thật: Tự kỉ là một dạng rối loạn phổ, tức là đặc điểm của nó ở người này thì khác với người kia. Biết được một người tự kỉ chỉ đơn giản là biết một người mắc phải chứng tự kỉ. Năng lực và hạn chế của họ không phải là dấu hiệu chung cho năng lực và hạn chế của những người tự kỉ khác.

Những người phô bày ra các tính chất điển hình dành cho chứng tự kỉ thì chỉ đơn giản là kì quặc thôi và lớn lên sẽ hết.

Sự thật: Chứng tự kỉ bắt nguồn từ điều kiện sinh học gây tác động đến sự phát triển não bộ và đối với nhiều người thì tự kỉ có thể kéo dài cả đời.

Người mắc phải chứng tự kỉ sẽ mãi mãi tự kỉ.

Sự thật: Nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ tự kỉ nếu được can thiệp triệt để từ sớm thì có thể đạt được những cải thiện đủ để không bị chẩn đoán mắc phải chứng tự kỉ. Do đó rõ ràng điều quan trọng là cần xác định chứng tự kỉ khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên.

Duy Đoàn tổng hợp
Sài-gòn, 20120918

Chú thích:

[1] “Link between Advanced Maternal Age and Autism Confirmed.” Science Daily, 2/2010: http://www.sciencedaily.com/releases/2010/02/100208102411.htm
[2] “Fever During Pregnancy More Than Doubles the Risk of Autism or Developmental Delay.” Science Daily, 5/2012: http://www.sciencedaily.com/releases/2012/05/120523161941.htm

Nguồn:

Xem thêm bài  “Có mười điều mà đứa trẻ tự kỉ nào cũng muốn bạn hiểu” của Ellen Notbohm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s