Đọc tập tuỳ bút “Quê hương tôi” của Tràng Thiên (Võ Phiến)

Tràng Thiên còn có một bút danh khác nổi tiếng hơn, được nhiều người biết đến nhất, là Võ Phiến. Những bài tuỳ bút trong tập “Quê hương tôi” trước đây cũng được xuất bản dưới bút danh Võ Phiến, do vậy tôi mạn phép dùng tên Võ Phiến khi đề cập đến tác giả và tập tuỳ bút này, chứ không dùng cái tên Tràng Thiên xa lạ kia.

Trong tập tuỳ bút này, Võ Phiến bàn về đủ chuyện của nước Việt: từ chiếc áo dài, cho đến những món ăn, rồi những tập tục, tiếng nói, ngôn ngữ, v.v.. Dù là bàn luận về chuyện gì, thì trong đó luôn hàm chứa một nỗi niềm trăn trở, khắc khoải của tác giả. Như khi nói về chiếc áo dài, Võ Phiến cũng mô tả nó thướt tha chỗ nào, hợp với vóc dáng người phụ nữ Việt ra làm sao, nhưng chỉ có vài dòng đại khái thôi, bởi cái chính mà ông muốn nói ở đây không phải là áo dài, mà là cái “tâm hồn mặc áo dài”. Ông cũng nói về bộ kimono truyền thống của Nhật, như để đối chiếu so sánh với chiếc áo dài truyền thống của Việt-nam: 

“Công trình xếp đặt kỹ quá, khéo quá, che lấp hẳn thân người: rốt cuộc không còn đâu là thân người nữa. Đường nét tự nhiên bị xoá mất cả. Thân người chỉ còn như là cái cớ cho sự xây dựng một công trình mỹ thuật.” (trang 20)

Rồi từ chuyện quần áo, Võ Phiến dẫn đến chuyện văn chương, thi ca của Nhật:

“Một bài đơn ca (tanka) 31 chữ phải ngắt làm từng câu 5-7-5-7-7 chữ, một bài hài cú (haiku) 17 chữ phải chi là 5-7-5 chữ: sao mà gò bó quá vậy!”

Từ đó so sánh với thơ Việt:

“Trong khi ấy, lục bát của ta co dãn từ những bài hai câu cho đến những bài mấy vạn câu, gieo vần ở chữ thứ sáu tốt nhất, mà ở chữ thứ tư cũng xong. Ngắt nhịp có vô vàn cách khác nhau, luật bình trắc cũng có thể linh động… Mọi chuyện đều đại khái, dễ dãi.”

Rồi ông chốt lại: “Cũng có thể nói đến một cảm tưởng tương tự khi đối chiếu chiếc kimono Nhật với chiếc áo dài Việt Nam.” Tuy nhiên, nếu người đọc háo hức tìm những dòng tiếp theo với hi vọng Võ Phiến sẽ diễn giải kĩ hơn về sự liên hệ giữa áo dài với tâm hồn dân tộc thì ắt sẽ phải thất vọng. Bởi tiếp sau đó ông không đá động gì đến hồn dân tộc nữa, mà ông chuyển sang trăn trở về vận mệnh áo dài khi bàn về sự cải biến:

“Chiếc áo dài của đàn bà con gái không phải đang được sửa đổi để cho thích hợp với cái gì hết. Nó không được sửa đổi, nó dường như bị chọc ghẹo, gây gổ, bị phá phách tơi bời…”

Đó dường như là phong cách của Võ Phiến xuyên suốt tập tuỳ bút này. Ông nêu một đề tài nào đó, lướt qua sơ về nó, rồi bày tỏ niềm băn khoăn, “sao vậy”, sau đó nói tình tang chuyện nọ chuyện kia cốt tìm ra diễn giải hợp lí, cuối cùng chốt lại vẫn là những nỗi niềm trăn trở về một thứ đẹp đẽ dường như đã trôi qua và dần dần trôi xa.

Trong tập tuỳ bút, Võ Phiến đề cập khá nhiều đến món ăn và sự ăn uống của người Việt. Như trong bài “Ăn… mùi”, ông đề cập đến một khía cạnh nổi bật của người mình trong chuyện ăn uống:  ngoài cái vị ra thì còn đặt nặng vấn đề mùi, người Việt ăn không chỉ bằng miệng mà cả bằng mũi.

“Đối với nhiều dân tộc khác rau chỉ là rau. Đối với chúng ta có cả một thứ rau gọi là ‘rau thơm’. Mớ rau thông thường của thiên hạ đi vội vàng vào bao tử, bất quá chỉ cần đáp ứng một vài đòi hỏi của vị giác, công dụng chính của nó là công dụng bồi bổ sinh lý, là nhằm một ích lợi thực tiễn. Rau thơm không phải là thứ rau cho bao tử, mà là cho lỗ mũi, cho cái khứu giác tinh vi của một dân tộc không phàm phu, một dân tộc nhằm ‘hưởng’ hơn là ăn. Rau thơm không làm ai nọ ruột thêm chút nào, nó chỉ có công dụng nghệ thuật mà thôi.” (trang 85-86)

Bàn về sự ăn, rồi ông bàn đến món ăn. Như trong bài “Theo chân một món ăn”, Võ Phiến có bàn đến món bún bò Huế, nhưng không bàn đến đặc điểm của bún bò mà ông nhân chuyện bún bò để nói đến cả một diễn trình lịch sử thông qua con đường đi đến bao tử của bà con khắp chốn. Ông băn khoăn:

“Cái gì đã giới thiệu rộng rãi món bún bò Huế với thực khách Sài Gòn, đã khiến cho nó thành món hấp dẫn, được mến mộ?” (trang 91)

Rồi để dẫn tiếp theo, ông hóm hỉnh:

“Ai đi cắt nghĩa được tình yêu? Kể cả yêu bún bò. Tuy nhiên, cũng có thể đưa ra một vài phỏng đoán.” (trang 91)

Thật là một câu dẫn hết sức dễ thương khiến người ta phải bật cười. Rồi sau bún bò, khi bắt gặp cọng giá sống đang ở miền Cao Nguyên đất thượng du, ông lại thốt lên ngạc nhiên: “Trời đất! Sao mà qua lại có thể gặp chú em ở chốn này?” (trang 93) Ông cứ ngạc nhiên trước sự hiện diện của một món vốn được cho là đặc sản của một vùng kia, nay lại vi vu lên tận chốn khác xa vời vợi; ngạc nhiên rồi tìm cách lí giải, sau đó ông tâm sự bộc bạch mấy lời: “Thành thử, một cọng giá nó cũng tỉ tê thóc mách được đôi điều về hoạt động quân sự trong một giai đoạn của đất nước, về một khía cạnh sinh hoạt của một thời loạn lạc.”(trang 94) Từ đó ông nảy ra cái ý “tìm về lịch sử dân tộc bằng đầu lưỡi”. Với những băn khoăn trước một hiện tượng lạ, cụ thể ở đây là sự di dời của một món ăn từ chốn này sang chốn khác, để rồi từ đó ông suy tư đến những vấn đề khác, về dân tộc, về lịch sử; ông hẳn là có cái nhìn rất tinh tế bằng một giác độ mới mẻ mà không kém phần thú vị.

Bằng cách lắng nghe những lời “tỉ tê thóc mách” của món ăn, ông tìm đến món bánh tráng, rồi bàn đến lối ăn bánh tráng đặc biệt của người Bình-định:

“Nhưng cái đặc biệt ở Bình Định là lối ăn bánh tráng cuốn mà không cuốn thứ gì cả, không có nội dung! Tức bánh tráng thuần tuý.” (trang 173)

Nhưng chuyện không chỉ đơn giản là thế. Võ Phiến nêu ra cái đặc biệt ấy cốt không phải để ca ngợi, mà để dẫn đến một giả thiết về lịch sử, cụ thể là về vua Quang Trung:

“…lối ăn ấy dính líu đến vua Quang Trung. Nó bắt nguồn từ một sáng kiến trong quân đội Tây Sơn chăng? Nó là thứ lương khô, là món đồ hộp của thế kỷ trước, trong một quân đội nổi tiếng di hành cấp tốc chăng?” (trang 174-175)

Ông diễn giải thêm cho cái giả thiết này:

“Binh sĩ hàng vạn mã nấu cơm nấu đồ ăn cho xong một bữa thì dình dàng khá lâu. Đàng này, gặp lúc cần kíp, chỉ cần nhúng bánh tráng vào nước, cuốn lại, là rồi.” (trang 175)

Các nhan đề trong tập tuỳ bút này phần lớn sẽ cho người ta biết trước đề tài mà tác giả tính bàn đến, nhưng khi đọc vào thì người đọc mới vỡ lẽ ông không có ý phân tích sâu về đề tài ấy, mà chỉ muốn nhân đó bày tỏ tâm sự bản thân về quê hương, đất nước, cùng những lí giải hết sức tinh tế thông qua chiếc áo dài, món bún bò, cái bánh tráng, món mắm, lời ăn tiếng nói v.v.. Bàng bạc trong những bài tuỳ bút là những nỗi niềm băn khoăn chợt thốt lên khi bắt gặp một sự lạ:

“Có chuyện gì vậy? Nguyên nhân nào xui khiến những cải biến táo bạo , cực đoan, triệt để và dồn dập như vậy?” (trang 25, bài “Lại chiếc áo dài”)

“Cái tục là cái xấu. Chúng ta nghĩ thế nhưng chúng ta không tránh cái tục bằng tránh cái cười. Tại sao lạ vậy?” (trang 119, bài “Chửi tục”)

“Chỗ này hò ngắn chỗ kia hò dài và hay hơn, tại sao vậy?” (trang 206, bài “Giọng Huế”)

“Hội An còn tên là Faifoo, và Đà Nẵng còn tên là Tourane, sao vậy? […] Tên tuổi cả hai chắc chắn là đã có từ trước; làm sao đến nỗi người Tây còn chen vào đặt tên?” (trang 228-229, bài “Hội An”)

“Vì sao đi không được như ăn, cây không được như lá, trời không được như đất?” (trang 347, bài “Người không mặt”)

Ông hỏi rồi tìm cách tự trả lời. Võ Phiến cứ thế mà chuyện này xọ chuyện kia, móc theo chuyện nọ, cứ tình tang lan man làm người đọc sốt cả ruột không biết ông này muốn dẫn chuyện tới tận đâu, sao cứ nói lòng vòng vậy cà, để rồi thấy lòng chợt se lại khi ông buông ra một câu chất chứa đầy tâm sự, đầy nỗi khắc khoải:

“Năm ba mươi năm sau, nói đến sự thích thú trước một bát nước chè đầy bọt thì còn hiểu thế quái nào được? Thì các bậc học giả dám ngẩn tò te lắm chứ. […] Bởi thế, trước khi bọt chè tan vỡ tiêu tùng hết, nên có đôi lời ghi chép về chút chuyện bọt bèo.” (trang 190, bài “Hạt bọt trà”)

“Hạt bọt trà” có lẽ là bài tuỳ bút chan chứa nhiều tình cảm và cảm động nhất trong tập này. Ông bàn về chè Huế, trong đó phần bọt nổi bên trên được xem là cả một công phu: từ khâu nấu chè, cho đến khâu rót, bưng bê, tất cả phải thật tỉ mỉ và đầy kiên nhẫn. Thế rồi, trước sự đổi thay của thời đại, cái om đất dùng nấu chè Huế “đã chết không kèn không trống, không một lời báo trước”; và ông cho rằng sự mất tích của cái om đất này có thể dẫn đến hệ quả không hay, ông lo ngại sẽ lại có thêm một truyền thống của dân tộc rơi vào quên lãng, ông sợ “bọt chè tan vỡ tiêu tùng hết”.

Khắc khoải trước những giá trị truyền thống lần lượt bị xoá nhoà, ông cứ lan man trong dòng cảm xúc khi đề cập đến một vấn đề gì đó. Nói về áo dài mà ông cứ nói đi đâu chuyện văn thơ; nói về bánh tráng thì đâu như chỉ có một hai trang đại khái về bánh tráng, còn lại nói chuyện lịch sử với vua Quang Trung; nói về mắm nhưng ông lại quay sang nói về con người miền Nam với tính chu đáo cẩn thận, v.v.. Nhất là bài nói về Hội-an thì ông lê thê đủ thứ chuyện: từ chuyện cái cây mỗi vùng đất ra sao, như cây dầu ở Sài-gòn, anh đào ở Đà-lạt, bàng ở Vũng-tàu, phượng ở Đà-nẵng; rồi bàn đến chuyện con người xứ Quảng-nam, trông hiền mà đụng chuyện lại dữ dội thế kia, sao xứ này sản sinh nhiều người tài thế kia; xong lại bàn đến món cao lầu chỉ có ở Hội-an. Ông cứ tự tình miên man như thế, cốt là sao vậy cà? Có lẽ tất cả những chuyện được coi là lan man đó sẽ giúp người đọc cảm nhận được cảm xúc của tác giả, để ông giãi bày nỗi trăn trở trong lòng mình:

Do một sự tình rắc rối như vậy mà cách nhau trong gang tấc Đà Nẵng với Hội An mỗi bên là một thời đại: bên này là tương lai, bên kia là quá khứ, bên này suốt ngày đêm tàu thuỷ ngược xuôi trên sông, phi cơ lao vùn vụt trên trời, bên bờ sông trực thăng cât lên đáp xuống phành phạch, bên kia thì đường hẹp sông vắng; bên này thì hộp đêm nằm san sát dày khít mang tên ngoại ngữ, bên kia đầy những chùa chiền xưa cũ; bên này tràn trề đồ hộp Mỹ với la-ve nước ngọt Mỹ uống xong vứt lon lăn lóc khắp các lề đường, bên kia thì… cao lầu!” (trang 248)

Thế đấy, ông trăn trở về một Hội-an vốn từng chứa đựng nhiều giá trị truyền thống ngày xưa, nay chỉ còn là quá khứ xa vời. Không trăn trở sao được khi chính đất Hội-an này ngày xưa đã cho giới thức giả vùng ấy tiếp xúc được với sách vở của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, mở lối cho những phong trào canh tân thời đầu thế kỉ 20. Không trăn trở sao được khi mà trước đó nữa chính nơi đây “đã mở cho thức giả đất Quảng những chân trời mới lạ: khi Lai Viễn kiều được dựng lên ở Hội an thì các nho sĩ ở Sông Cầu, ở Nha Trang đã biết gì về nước Nhật cùng văn hoá Nhật?” (trang 245)

Với lối viết tuỳ bút như vậy, ắt sẽ có người bảo ông viết lan man, chỉ toàn nói bề mặt, chẳng chịu đào sâu gì cả, v.v.. Nhưng Võ Phiến nào có tham vọng tìm đến câu trả lời tối hậu cho những vấn đề ấy đâu, vả lại đây đâu phải một công trình khảo cứu văn hoá, chỉ là tuỳ bút mà thôi. Võ Phiến chỉ muốn nêu lên những tâm sự của mình về quê hương đất nước Việt-nam, về những giá trị truyền thống xưa kia, cùng một nỗi khắc khoải, trăn trở khôn nguôi. Đọc tập tuỳ bút này của Võ Phiến để ta suy ngẫm thêm về cuộc đời, về dân tộc, về hồn người Việt-nam. Ở thời đại thông tin tràn ngập cơ khí, máy móc với nhịp sống hối hả mọi bề, liệu còn mấy ai thử dừng lại đôi chút, nhìn ngắm xung quanh, để tâm đến những điều vụn vặt hàng ngày để biết mình là ai, sống ở đâu trên cõi đời này, hay là nói như Italo Calvino, để ta khám phá “nỗi khát khao trong tim mình, và cả những nỗi muộn phiền đến từ sự hiện hữu của bản thân” (1).  Võ Phiến nêu vấn đề không phải cốt để tìm câu giải đáp, mà đó như là lời nhắc nhở, lời cảnh tỉnh cho chúng ta hãy chú tâm hơn nữa về cuộc sống xung quanh mình, để từ đó có cái nhìn bao dung, đúng đắn hơn về dân tộc và con người Việt-nam, nhất là trong thời đại thế kỉ 21 ngày nay. Bởi lẽ, ta cần tiến lên, nhưng trước tiên cần phải biết mình tiến lên từ đâu.

Duy Đoàn
Sài-gòn, 20120923

[1] Trích từ truyện “Mushroom in the City” của Italo Calvino, nằm trong tập truyện Marcovaldo, thông qua bản dịch Anh ngữ của William Weaver.

Advertisements

One comment on “Đọc tập tuỳ bút “Quê hương tôi” của Tràng Thiên (Võ Phiến)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s