Phỏng vấn David Bohm (F. David Peat và John Briggs)

David Bohm 1917-1992

Bài phỏng vấn David Bohm này, được F. David Peat và John Briggs thực hiện, đăng lần đầu tiên trên tạp chí Omni, tháng 1,  1987

Năm 1950 David Bohm đã viết cái mà nhiều nhà vật lí sau này xem là một quyển sách giáo khoa mẫu mực về cơ học lượng tử. Điều trớ trêu là ông chưa bao giờ chấp nhận lí thuyết vật lí ấy.Trong lịch sử khoa học ông là một người độc hành, một thành viên của nhóm nhỏ các nhà vật lí ấy – gồm có Albert Einstein, Eugene Wigner, Erwin Schrödinger, Alfred Lande, Paul Dirac, và John Wheeler – những người thể hiện sự hoài nghi sâu sắc rằng một lí thuyết đặt cơ sở trên vô-định luận (indeterminism) và tính ngẫu nhiên (chance) có thể cho ta một cái nhìn chân thật về vũ trụ chung quanh ta.

Thế hệ các nhà vật lí ngày nay, bị ấn tượng với những thành quả đáng kinh ngạc của vật lí lượng tử – từ vũ khí hạt nhân đến laser-đều đi theo một con đường khác. Họ bận rộn áp dụng cơ học lượng tử vào các lĩnh vực mà những tác giả nguyên thủy của nó không bao giờ tưởng tượng ra. Chẳng hạn, Stephen Hawking đã sử dụng lí thuyết ấy để mô tả sự hình thành của các hạt cơ bản từ các lỗ đen và lập luận rằng vũ trụ thành hình từ vụ nổ trong một sự kiện cơ học-lượng tử .

Trong hơn 30 năm phản đối xu hướng vật lí hiện đại này, Bohm còn hơn cả một con ruồi trâu trên lưng ngựa. Sự phản đối của ông đối với những nền tảng của cơ học lượng tử đã dần kết hợp lại thành một sự mở rộng cho lí thuyết ấy có tầm ảnh hưởng quan trọng đến nỗi nó tương đương một cách nhìn nhận mới mẻ về thực tại. Với niềm tin rằng bản chất của vật thể không thể quy giản về các mảnh (fragment) hay hạt (particle), ông biện minh cho cách nhìn toàn thể (holistic view) về vũ trụ.  Ông yêu cầu ta cần phải học cách nhìn nhận vật chất và cuộc sống như một toàn thể (whole), lĩnh vực nhất quán mà ông gọi là trật tự ẩn (implicate order).

Hầu hết các nhà vật lí khác đều từ khước logic của Bohm mà không bận tâm dò xét nó. Một phần rắc rối là trật tự ẩn của ông đầy rẫy những nghịch lí. Một vấn đề khác là phạm vi rộng lớn của những ý tưởng của ông, mà cho đến nay chúng bao trùm cả những chủ đề phi vật lí như ý thức, xã hội, chân lí, ngôn ngữ, và sự hình thành lí thuyết khoa học.

Bohm sinh ra ở Wilkes-Barre, Pennsylvania, năm 1917, là con của một nhà buôn đồ trang trí nội thất. Ông theo học vật lí ở Đại học California cùng với J. Robert Oppenheimer. Không bằng lòng làm nhân chứng buộc tội người thầy cũ và những người bạn khác của ông trong phiên tòa McCarthy, Bohm đã rời nước Mĩ và tới giảng dạy ở Đại học Săo Paulo, Brazil.Từ nơi đó ông đến Israel, rồi đến Anh, nơi cuối cùng ông trở thành giáo sư vật lí tại Đại học Birkbeck ở London.

Có lẽ Bohm được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm đầu tiên của ông về những tương tác của các electron trong các kim loại. Ông đã chứng minh rằng chuyển động hỗn loạn, đặc thù của electron ẩn chứa một ứng xử được tổ chức chặt chẽ và có tính hợp tác được gọi là rung động plasma (plasma oscillation). Sự gợi ý về một trật tự nằm bên dưới sự hỗn độn biểu kiến này là cốt yếu trong sự phát triển của Bohm.

Năm 1959 Bohm cùng với Yakir Ahronov đã chứng minh rằng một từ trường có thể biến đổi cách ứng xử của các electron mà không chạm đến chúng: nếu hai chùm electron di chuyển trên cả hai chiều của một không gian chứa từ trường, thì từ trường sẽ làm chậm lại các sóng của một chùm thậm chí nó không xuyên qua không gian và thực ra không chạm đến các electron. “Hiệu ứng AB” này được kiểm chứng một năm sau đó.

Suốt những năm năm mươi và sáu mươi Bohm mở rộng niềm tin của ông về sự hiện hữu của những biến số ẩn (hidden variables) điều khiển các sự kiện lượng tử có vẻ ngẫu nhiên, và từ đó về sau, những ý tưởng của ông càng ngày càng xa rời dòng chảy chính của vật lí hiện đại. Các cuốn sách của ông Causality and Chance in Modern Physics (Tính nhân-quả và tính ngẫu nhiên trong vật lí hiện đại)Wholeness and the Implicate Order (Tính toàn thể và trật tự ẩn), theo thứ tự được xuất bản năm 1957 và 1980, đã làm sáng tỏ lí thuyết mới của ông một cách chi tiết đáng kể. Trong những năm sáu mươi Bohm gặp triết gia Ấn độ Jiddu Krishnamurti, và các cuộc đối thoại liên tục của họ, được xuất bản dưới dạng một quyển sách có nhan đề The Ending of Time (Chấm dứt thời gian), đã giúp nhà vật lí này làm sáng rõ các ý tưởng của ông về tính toàn thể và trật tự.

Cách đây không lâu Bohm đã nghỉ hưu không dạy ở trường Đại học Birkbeck nữa, và ông hiện đang cố gắng phát triển một phiên bản toán học về giả thuyết trật tự-ẩn – một loại lí thuyết chính xác, có thể kiểm tra được mà các nhà vật lí khác sẽ xem xét nghiêm túc. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì vũ trụ của Bohm là một nơi lạ lùng, huyền bí trong đó quá khứ, hiện tại, và tương lai cùng hiện hữu. Các vật thể trong vũ trụ của ông, thậm chí các hạt hạ-nguyên tử (subatomic) là thứ yếu; cái nền tảng chính yếu là một quá trình vận động, sự ẩn giấu (enfolding) và khai triển (unfolding) liên tục từ một toàn thể liền mạch (seamless whole). Để kiểm tra lí thuyết tương đối, Einstein tiên đoán rằng trọng lực của mặt trời sẽ bẻ cong sóng ánh sáng phát ra từ các ngôi sao ở xa, và ông đã đúng. Cho tới nay Bohm vẫn không thể tìm thấy một khía cạnh thực nghiệm nào có thể ủng hộ các ý tưởng của ông theo cách tương tự.

Mặc dù mới hồi phục gần đây sau ca phẫu thuật tim nghiêm trọng, Bohm vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến đi thường xuyên khắp châu Âu và đến nước Mĩ, ở đó ông diễn thuyết, nói chuyện với các đồng nghiệp và khuyến khích sinh viên. Các ý tưởng của ông được đón nhận nồng nhiệt bởi các triết gia, các nhà khoa học thần kinh, các nhà thần học, và các văn-nghệ sĩ.

Bohm được John Briggs và F. David Peat, tác giả của cuốn Looking Glass Universe, phỏng vấn trong suốt hơn hai ngày ở một nơi gần Đại học Amherst ở Massachusetts, đó là nơi Bohm tham dự một loạt các buối thảo luận với Dalai Lama. Các phần trả lời bổ sung trích từ một buổi phỏng vấn trước đây ở Anh bởi tác giả Llee Herflin.

 

Omni: Ông có thể kể lại lần đầu tiên ông trải nghiệm cái cảm thức về tính toàn thể mà bây giờ ông diễn đạt như là trật tự ẩn không?

Bohm: Hồi tôi còn là một đứa trẻ mỗi lời kinh cầu nguyện nào đó mà chúng tôi tụng hàng ngày bằng tiếng Hebrew đều chứa đựng những lời yêu thương dành cho Chúa với tất cả trái tim tất cả linh hồn, và tất cả tâm trí. Sự nhận thức của tôi về những lời lẽ này, tức là, ý niệm về tính toàn thể này – không nhất định có liên hệ trực tiếp với Chúa mà tôi coi đó như là một đạo sống – có sức ảnh hưởng dữ dội đến tôi. Tôi cũng đã cảm nhận thiên nhiên như một toàn thể hồi rất sớm.Tôi cảm thấy liên hệ một cách nội tại với những cái cây, những ngọn núi, và những ngôi sao trong cái cách mà tôi không có được đối với tất cả sự hỗn độn của chốn thành thị.

Khi lần đầu tiên tôi học cơ học lượng tử tôi lại trải nghiệm cái cảm thức về mối liên hệ nội tại đó – nó mô tả một thứ mà tôi đang trực nghiệm chứ không phải chỉ nghĩ về nó.

Khái niệm spin đặc biệt lôi cuốn tôi: ý tưởng cho rằng khi cái gì đó đang quay tròn theo một hướng nào đó, nó cũng có thể quay theo hướng khác nhưng theo cách nào đó hai hướng này cùng quay theo một hướng thứ ba. Tôi cảm thấy là khái niệm ấy bằng cách nào đó đã mô tả được cái trải nghiệm cùng với những quá trình xử lí trong tâm thức. Trong khi suy nghĩ về spin tôi cảm nhận mình có liên hệ trực tiếp với tự nhiên. Trong cơ học lượng tử tôi đến gần hơn với trực quan của mình về tự nhiên.

Omni: Nhưng ông đã nói rằng cơ học lượng tử không cung cấp một bức tranh rõ ràng về tự nhiên. Ý ông muốn nói gì?

Bohm: Vấn đề chính yếu là cơ học lượng tử chỉ cho biết xác suất của một kết quả thí nghiệm. Cả sự phân rã hạt nhân nguyên tử lẫn việc hạt nhân nguyên tử phân rã ở thời đểm này mà không phải thời điểm khác đều không thể được mô tả thỏa đáng trong khuôn khổ lí thuyết ấy. Nó chỉ có thể cho phép bạn tiên đoán về mặt thống kê các kết quả của những thí nghiệm khác nhau mà thôi.

Vật lí đã thay đổi từ hình thức trước đây của nó, khi nó cố gắng giải thích sự vật và tạo dựng một bức tranh vật lí nào đó. Bây giờ bản chất được xem xét trên phương diện toán học. Người ta tin rằng chân lí nằm trong các công thức. Họ có thể đang tìm kiếm một thuật toán mà nhờ nó họ hi vọng có thể giải thích nhiều kết quả thí nghiệm hơn nữa, nhưng nó vẫn sẽ có mâu thuẫn. Họ hi vọng rằng cuối cùng thì họ có thể giải thích được tất cả các kết quả có thể nhận được, nhưng đó chỉ là hi vọng thôi.

Omni: Ban đầu những nhà sáng lập cơ học lượng (tử) đã đón nhận cuốn sách Quantum Theory (Lí thuyết Lượng tử) của ông như thế nào?

Bohm: Trong thập niên năm mươi, tôi có gửi nó đến nhiều nhà vật lí -gồm có [Niels] Bohr, Einstein, và [Wolfgang] Pauli – Bohr thì không trả lời, nhưng Pauli thích nó. Einstein có nhắn cho tôi nói rằng ông muốn nói chuyện với tôi. Khi chúng tôi gặp nhau ông ấy nói cuốn sách này cũng hay ho không kém những  nghiên cứu của anh về cơ học lượng tử. Nhưng ông vẫn không tin rằng nó là một lí thuyết thỏa đáng.

Sự phản đối của ông không phải đơn thuần vì nó có tính thống kê. Ông tin rằng nó là một loại lí thuyết trừu tượng; cơ học lượng tử nhận được những kết quả chính xác nhưng lại loại bỏ nhiều yếu tố có thể khiến nó khả niệm. Tôi đã đưa ra cách lí giải nhân-quả [rằng electron là một hạt, nhưng nó cũng có một trường xung quanh nó. Hạt thì không bao giờ tách biệt với trường, và trường ảnh hưởng đến sự chuyển động của hạt theo những cách nào đó]. Tuy thế, Einstein không thích điều này, vì cách lí giải ấy hàm chứa ý tưởng về tác động ở xa: Những sự vật ở cách xa nhau ảnh hưởng đến nhau rất lớn. Ông chỉ tin vào tác động cục bộ.

Mãi đến những năm sáu mươi tôi mới quay trở lại trật tự ẩn này, khi tôi có hứng thú với những ý tưởng về trật tự. Lúc ấy tôi nhận ra vấn đề là ở chỗ hệ tọa độ vẫn là trật tự cơ bản trong vật lí, trong khi đó mọi thứ khác đều thay đổi.

Omni: Khái niệm then chốt của ông là cái mà ông gọi là sự ẩn giấu (enfoldment). Ông có thể giải thích khái niệm này được không?

Bohm: Mỗi người đều đã thấy một hình ảnh của sự ẩn giấu: Bạn gấp một tờ giấy lại, làm thành một cái gói nhỏ, cắt lên nó, và rồi mở nó ra với những nét cắt. Những phần ở gần nhau trên đường cắt khi mở ra thì ở xa nhau. Điều này giống như những gì xảy ra trong một tấm ảnh ba chiều (hologram) (1). Sự ẩn giấu thật ra là một kinh nghiệm rất thông thường. Tất cả ánh sáng đi vào căn phòng này khiến toàn bộ căn phòng trên thực tế bị cuộn lại thành từng phần. Nếu mắt bạn nhìn, khi đó ánh sáng sẽ được mắt và não của bạn khai triển. Khi bạn nhìn qua kính viễn vọng hay qua camera, toàn bộ vũ trụ của không gian và thời gian được ẩn đi trong mỗi phần, và nó khai triển ra cho mắt của bạn. Với một cái truyền hình cũ không được điều chỉnh thích hợp, hình ảnh ẩn đi trong màn hình và sau đó có thể được khai triển bằng sự điều chỉnh.

Omni: Vừa rồi ông có nói về hệ tọa độ và trật tự. Chúng ràng buộc với sự ẩn giấu như thế nào? Có phải ông muốn nói hệ tọa độ giống như những đường kẻ ô trên khung lưới không?

Bohm: Vâng, nhưng không nhất định là những đường thẳng. Chúng là một cách để mô tả không gian và thời gian. Vì không-thời gian có thể cong, nên những đường kẻ cũng có thể cong. Rõ ràng là mỗi quan niệm tổng quát về thế giới chứa đựng trong nó một ý tưởng đặc thù về trật tự. Người Hi-lạp cổ đại đã có ý tưởng về sự toàn hảo từng bước (increasing perfection) từ hạ giới đến thiên đường. Các nhà vật lí hiện đại ôm giữ ý tưởng về những thứ bậc liên tục (successive positions) của những vật thể và những liên kết của các lực tác động lên những vật thể này. Thứ bậc của tính toàn hảo được khám phá bởi người Hi lạp cổ đại thì nay bị coi là không thỏa đáng.

Sự thay đổi triệt để trong khái niệm về trật tự kể từ Isaac Newton đã diễn ra với sự ra đời của cơ học lượng tử. Ý tưởng về trật tự của cơ học lượng tử mâu thuẫn với trật tự tọa độ bởi vì nguyên lí bất định của Heisenberg đã làm cho một trật tự chi tiết của không gian và thời gian trở thành điều bất khả. Khi bạn áp dụng thuyết lượng tử vào thuyết  tương đối tổng quát ở những khoảng cách rất gần cỡ mười mũ trừ ba mươi ba cm, thì khái niệm về trật tự của không gian và thời gian sẽ đổ vỡ.

Omni: Ông có thể thay thế điều đó bằng cách nhìn nhận nào khác về trật tự không?

Bohm:  Trước tiên bạn phải hỏi chúng ta hiểu trật tự là gì.  Mỗi người đều có trong đầu một ý niệm về nó, nhưng bản thân trật tự là không thể định nghĩa. Tuy nhiên nó có thể được minh họa.  Trong một tấm ảnh thông thường bất kì phần nào của vật thể cũng được phóng chiếu thành một điểm. Sự tương ứng điểm-với-điểm này (point-to-point correspondence) nhấn mạnh khái niệm về điểm là cảm quan nền tảng về trật tự. Máy ảnh ngày nay chụp được những vật rất lớn hay rất nhỏ, rất nhanh hay rất chậm đến nỗi không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Điều này củng cố niềm tin của ta rằng mọi thứ về cơ bản đều có thể được nhìn thấy bằng cách đó.

Omni: Liệu những mâu thuẫn ông vừa nói có gắn chặt vào chính cái tên cơ học lượng tử không?

Bohm: Có. Vật lí học giống như cơ quan học lượng tử (quantum organism) hơn là cơ học lượng tử. Tôi nghĩ các nhà vật lí hết sức miễn cưỡng chấp nhận điều này. Có cả một lịch sử lâu đời của niềm tin vào cơ học lượng tử, và người ta tin tưởng nó. Và họ không thích niềm tin này bị thử thách.

Omni:  Vì thế hình ảnh của chúng ta là kính hiển vi, dụng cụ này đề xuất điểm. Điểm đến lượt nó đề xuất electron và hạt.

Bohm: Và dấu vết của các hạt trên tấm ảnh. Bây giờ dụng cụ nào sẽ minh hoạ tính toàn thể? Có lẽ đó là ảnh ba chiều (holograph). Sóng từ toàn bộ vật thể đi vào từng phần của tấm ảnh ba chiều. Điều này khiến tấm ảnh ba chiều trở thành một một dạng tri thức về toàn bộ vật thể. Nếu bạn kiểm tra nó bằng một chùm ánh sáng laser rất hẹp, thì dường như bạn đang nhìn qua một cửa sổ kích thước của chùm laser đó. Nếu bạn mở rộng chùm laser, thì dường như bạn đang nhìn thấy vật thể chính xác hơn và từ nhiều góc độ hơn thông qua một cửa sổ rộng hơn. Nhưng bạn luôn luôn nhận được thông tin về toàn bộ vật thể, bất luận bạn nhận ít hay nhiều thông tin.

Nhưng chúng ta hãy gác bức ảnh ba chiều sang một bên vì đó chỉ là một bằng chứng tĩnh tại. Trở lại với tình huống thực tế, chúng ta có một dạng sóng động học bất biến (a constant dynamic pattern of waves ) phát ra từ vật thể và gây nhiễu sóng ban đầu. Trong mô hình vận động (pattern of movement) đó, nhiều vật thể được ẩn đi trong mỗi vùng không gian và thời gian.

Vật lí cổ điển nói rằng thực tại thực chất là những hạt nhỏ phân chia thế giới thành những thành tố độc lập. Bây giờ tôi sẽ đề xuất điều ngược lại, rằng thực tại nền tảng là sự ẩn giấu (enfoldment) và sự khai triển (unfoldment),  và những hạt này là những dẫn xuất từ điều ấy. Chúng ta có thể hình dung eletron không phải là một hạt hiện hữu liên tục mà là một cái gì đó xuất hiện ra và ẩn vào rồi lại xuất hiện ra. Nếu những hạt kết tụ (condensations) khác nhau này ở gần nhau, thì chúng gần giống như một cái vệt. Electron tự nó không bao giờ có thể tách biệt khỏi toàn bộ không gian vốn làm nền tảng cho nó.

Khoảng thời gian tôi đang nghiên cứu những câu hỏi này thì một chương trình khoa học của BBC đã đưa ra một thiết bị minh hoạ những điều này rất hay. Thiết bị này gồm hai xi-lanh thủy tinh đồng tâm. Giữa chúng có một chất lỏng sệt, chẳng hạn glycerin. Nếu nhỏ một giọt mực không hòa tan vào glycerin và quay chậm xi-lanh ở ngoài thì giọt mực sẽ lan ra và vẽ thành một đường. Cuối cùng thì đường này mờ đến mức không thể nhìn thấy được. Ở thời điểm đó dường như không có trật tự hiện diện nào cả. Nhưng nếu bạn quay chậm xi-lanh theo chiều ngược lại, thì glycerin sẽ tách ra trở lại hình thái ban đầu và giọt mực thình lình tái xuất hiện. Giọt mực đã bị quấn vào bên trong glycerin, và được mở ra khi quay ngược lại.

Omni: Giả sử ta nhỏ một giọt màu vào xi-lanh và quay nó một vài lần, sau đó nhỏ thêm một giọt khác vào cùng một chỗ và quay xi-lanh. Khi quay xi-lanh ngược lại, phải chăng ta nhận được một dạng dao động?

Bohm: Vâng, bạn sẽ nhận được chuyển động vào và ra. Ta có thể nhỏ vào xi-lanh một giọt màu và quay nó rồi nhỏ thêm một giọt nữa ở gần chỗ ban đầu, và cứ tiếp tục như thế. Giọt thứ nhất và thứ nhì bị quấn lại một số lần khác nhau. Nếu ta tiếp tục và sau đó quay theo chiều ngược lại thì những giọt mực liên tục xuất hiện và biến mất. Vì thế nó trông như thể một hạt đang xuyên qua không gian, nhưng trên thực tế lúc nào cũng có cả một hệ thống can dự vào.

Chúng ta có thể bàn luận về sự vận động của toàn bộ vật chất theo giác độ ẩn và hiện mà tôi gọi là sự vận động toàn thể (holomovement) (2).

Omni: Ông nghĩ trật tự của sự vận động toàn thể là gì?

Bohm: Nó có thể nằm ngoài thời gian thông thường chúng ta biết. Nếu vũ trụ bắt đầu với vụ nổ Big Bang và có những lỗ đen, thì cuối cùng chúng ta phải đi đến những chỗ (mà) ở đó ý tưởng về thời gian và không gian sẽ đổ vỡ. Bất kì điều gì cũng có thể xảy ra. Như nhiều nhà vũ trụ học đã diễn đạt, nếu một lỗ đen lóe sáng lên một kí hiệu COCA COLA, thì điều đó không có gì ngạc nhiên. Trong điểm kì dị (singularity) không áp dụng được một luật lệ nào mà chúng ta biết. Không có hạt nào; tất cả chúng đều bị phân hủy. Không có không gian và thời gian. Dù có là thứ gì đi nữa thì cũng đều vượt ra ngoài bất kì khái niệm nào chúng ta đang có. Vật lí hiện nay ngụ ý rằng toàn bộ nền tảng khái niệm của vật lí phải được xem là hoàn toàn không thỏa đáng. Sự thống nhất lớn (The grand unification) [của bốn lực trong vũ trụ] có thể chẳng là gì cả ngoại trừ là một sự trừu tượng về phương diện của những điều chưa biết rõ nào đó.

Tôi đề xuất thế này: Hãy tưởng tượng một trường năng lượng vô tận lấp đầy không gian trống, có sóng chuyển động khắp nơi trong đó, va chạm ngẫu nhiên với nhau và tạo ra một xung động (pulse) cực lớn. Chẳng hạn một xung động nào đó hình thành và lan rộng, tạo ra vũ trụ của không gian-thời gian và vật chất. Nhưng rất có thể có những xung động khác như thế. Đối với chúng ta, xung động đó trông giống như một vụ nổ lớn (big bang); nhưng trong một khung cảnh lớn hơn, nó là một gợn sóng lăn tăn. Mọi thứ xuất hiện qua sự khai triển từ sự vận động toàn thể, rồi giấu mình trở lại vào bên trong trật tự ẩn. Tôi gọi quá trình giấu mình đi là “ẩn tàng (implicating)” và quá trình khai triển là “dàn trải (explicating)”. Ẩn tàng và dàn trài cùng nhau tạo thành một khối toàn thể liên tục, liền mạch. Mỗi phần của vũ trụ đều tương quan với mỗi phần khác nhưng trong những cấp độ khác nhau.

Có hai cảm nghiệm: một cái là sự vận động trong mối tương quan với những sự vật khác; cái khác là cảm giác về dòng chảy. Sự vận động của ý nghĩa là cảm giác về dòng chảy. Nhưng thậm chí trong sự di chuyển xuyên qua không gian thì vẫn có một sự vận động của ý nghĩa. Trong một đoạn phim, với tốc độ hai mươi bốn hình một giây, khung hình này nối tiếp khung hình kia, di chuyển từ mắt qua thần kinh thị giác, vào đến não. Cảm nghiệm về một vài bức ảnh cùng lúc cho bạn một cảm giác về dòng chảy. Đây là một cảm nghiệm trực tiếp về trật tự ẩn.

Trong cơ học cổ điển, sự chuyển động hay vận tốc được định nghĩa là sự tương quan giữa vị trí hiện thời và vị trí trước đó một khoảng thời gian ngắn. Những gì tồn tại một khoảng thời gian ngắn trước đó thì hiện đã qua, vì thế bạn liên hệ những gì tồn tại với những gì không tồn tại. Đây không phải là một khái niệm logic. Trong trật tự ẩn bạn đang liên hệ những bức ảnh (frames – những khung hình) khác nhau cùng hiện diện trong ý thức. Bạn đang liên hệ những gì tồn tại với những gì tồn tại (những cái tồn tại khác). Một mô-men (moment – chập) chứa đựng dòng chảy hay sự chuyển động. Một mô-men (chập đó) có thể dài hay ngắn, vì được đo trong (theo) thời gian. Trong ý thức một mô-men (chập) gần bằng một phần mười giây. Những mô-men (chập) điện tử (electronic moments) thì ngắn hơn nhiều, nhưng một mô-men (chập) của lịch sử có thể là một thế kỉ.

Omni: Vì thế phải chăng một chập ôm bọc lấy toàn bộ quá khứ?

Bohm: Đúng vậy, nhưng quá khứ ở thời điểm gần thì)được ôm bọc kĩ càng hơn. Tại bất kì chập cụ thể nào chúng ta cũng cảm thấy sự hiện diện của toàn bộ quá khứ và cả tương lai được dự đoán. Nó hiện diện hoàn chỉnh và năng động. Tôi có thể sử dụng ví dụ về xi-lanh một lần nữa. Giả sử ta quấn một giọt màu trong h lần. Sau đó ta nhỏ vào một giọt khác và quấn nó trong N lần. Mối quan hệ giữa những giọt màu vẫn như nhau cho dù chúng có bị cuộn vào nhau triệt để như thế nào đi nữa. Vì thế khi bạn mở ra, bạn sẽ nhận trở lại mối quan hệ ban đầu. Hãy tưởng tượng nếu bạn có bốn hay năm giọt màu – tất cả đều bị quấn khăng khít vào nhau – mối quan hệ giữa chúng vẫn giữ nguyên hết sức tinh tế, cho dù nó không ở trong không gian và thời gian. Nhưng, tất nhiên, nó có thể được biến đổi thành không gian và thời gian bằng cách quay xi-lanh. Ẩn dụ tốt nhất có thể liên quan đến kí ức. Chúng ta nhớ rất nhiều sự kiện, tất cả chúng cùng hiện diện. Sự liên tục của chúng nằm trong kí ức nhất thời (momentary memory) ấy: chúng ta không phải lướt qua toàn bộ chúng để tái tạo lại chuỗi thời gian ấy. Chúng ta đã có chuỗi đó rồi.

Omni: Và một cảm giác về sự vận động – vì thế phải chăng ông đã thay thế thời gian bằng sự vận động?

Bohm: Vâng, sự vận động theo nghĩa là sự vận động của bản giao hưởng (the symphony), chứ không phải là sự vận động của dàn nhạc (the orchestra) trên xe bus, chẳng hạn, thông qua không gian vật lí.

Omni: Ông nghĩ điều gì nói về ý thức?

Bohm: Phần lớn kinh nghiệm của chúng ta chỉ ra rằng trật tự ẩn là điều tự nhiên để thông hiểu ý thức: Khi bạn đang nói chuyện với ai đó, toàn bộ chủ ý nói chuyện của bạn ẩn giấu một lượng lớn từ ngữ. Bạn không chọn từng từ một. Có nhiều ví dụ về trật tự ẩn trong kinh nghiệm của ta về ý thức. Bất cứ một từ nào đều có đằng sau nó một phạm vi ý nghĩa trọn vẹn được ẩn giấu trong tư tưởng.

Ý thức được khai triển ở mỗi cá nhân. Rõ ràng, người ta được chia sẻ cùng một ý thức khi họ nhìn vào một vật thể và xác nhận nó là như nhau. Vì thế bất cứ cấp độ ý thức cao hơn nào cũng đều là một quá trình xã hội (social process). Có thể có một cấp độ nhận thức về cảm giác-vận động (sensorimotor perception) nào đó là thuần túy cá nhân, nhưng bất cứ cấp độ trừu tượng nào cũng đều phụ thuộc vào ngôn ngữ, vốn là thứ mang tính xã hội. Từ ngữ, vốn nằm bên ngoài, khơi gợi nên ý nghĩa nằm bên trong mỗi người.

Ý nghĩa là chiếc cầu nối giữa ý thức và vật chất. Bất kì mảng vật chất cho trước nào cũng có phần tạo nghĩa nhất định đối với một tâm thức cụ thể. Mặt khác của điều này là mối quan hệ trong đó ý nghĩa ảnh hưởng tức thì đến vật chất. Giả sử bạn nhìn thấy một cái bóng trong đêm tối. Nếu nó có nghĩa là “kẻ tấn công”, thì hóc-môn adrenaline sẽ tiết ra, tim bạn đập nhanh hơn, huyết áp tăng, và các cơ căng ra. Cơ thể và tất cả suy tư của bạn đều bị ảnh hưởng; mọi thứ về bạn đều thay đổi. Nếu bạn cho rằng nó chỉ là một cái bóng, thì lại có một sự thay đổi đột ngột.

Đó là một ví dụ về trật tự ẩn: Ý nghĩa ẩn giấu toàn bộ thế giới vào trong tôi, và ngược lại ý nghĩa được ẩn giấu ấy được khai triển dưới dạng hành động, thông qua cơ thể và cũng thông qua thế giới. Từ hormone có nghĩa là “sứ giả”, tức là, một chất mang một ý nghĩa nào đó.  Những chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters) mang theo ý nghĩa, và ý nghĩa ấy tác động mạnh mẽ đến hệ thống miễn dịch. Sự nhận thức này có thể là khởi đầu cho một thái độ khác đối với tâm thức – và đối với cuộc sống.

Omni: Descartes đã liên kết tâm thức và hiện thực bên ngoài với Thượng đế. Ông thì liên kết hai cái này với ý nghĩa.

Bohm: Tôi cho rằng ý nghĩa là tồn tại (being)! Vì thế bất kì sự chuyển đổi xã hội nào cũng phải dẫn đến một sự thay đổi sâu sắc về ý nghĩa. Bất cứ sự thay đổi ý nghĩa nào đối với cá nhân cũng sẽ thay đổi cái toàn thể bởi vì tất cả cá nhân giống nhau đến mức sự thay đổi ý nghĩa có thể được truyền đi.

Omni: Ông nghĩ điều gì có thể thuyết phục thế hệ các nhà vật lí kế tiếp, những người tỏ ra rất hoài nghi rằng trật tự ẩn đáng để nghiên cứu?

Bohm: Điều thuyết phục nhất có thể là phát triển lí thuyết này theo phương pháp toán học và đưa ra một số tiên đoán. Vài năm trước tạp chí New York Times đã lưu ý rằng một số nhà vật lí chỉ trích lí thuyết thống nhất lớn, cho rằng nó đã không mang lại nhiều thành quả. Những người ủng hộ lí thuyết thống nhất lớn thì cho rằng có thể mất khoảng hai mươi năm mới thấy được kết quả.

Dường như người ta sẵn sàng chờ đợi hai mươi năm để thu nhận kết quả nếu bạn có những công thức. Nếu không có những công thức, họ sẽ không muốn xem xét nó. Những công thức là những cách nói hoàn toàn vô nghĩa cho đến khi bạn hiểu chúng có nghĩa gì. Mỗi trang công thức thường chứa sáu hay bảy những giả định võ đoán mà phải mất nhiều tuần nghiên cứu vất vả để thấu hiểu chúng.

Những nhà vật lí trẻ hơn thường đánh giá cao trật tự ẩn bới vì nó làm cho cơ học lượng tử dễ hiểu hơn. Vào thời điểm họ kinh qua trường nghiên cứu sinh (graduate school), họ trở nên hoài nghi về nó bởi vì họ đã nghe nói rằng  các biến số ẩn thì vô dụng vì chúng đã bị bác bỏ. Tất nhiên, không ai thực sự bác bỏ chúng.

Ở điểm này, tôi nghĩ là vấn đề chính yếu là toán học. Trong lí thuyết siêu-đối xứng (supersymmetry) một bài toán thú vị sẽ thu hút sự chú ý, thậm chí không có bất kì chứng cứ thực nghiệm nào.

Omni: Nếu các nhà khoa học chấp nhận lí thuyết của ông, thì liệu nó có thay đổi ý nghĩa của tự nhiên đối với họ không? Liệu nó có thay đổi ý nghĩa của khoa học nói chung không?

Bohm: Chúng ta đã trở thành một cộng đồng khoa học. Cộng đồng này đã tạo ra tất cả những loại khám phá và công nghệ, nhưng nếu nó dẫn đến sự hủy diệt, hoặc thông qua chiến tranh hoặc thông qua sự tàn phá những nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì nó sẽ là một cộng đồng kém thành công nhất từng tồn tại. Chúng ta đang ở trong nguy cơ đó.

Con đường chúng ta đang đi phụ thuộc vào những chương trình của bốn ngàn năm trăm triệu người, tất cả đều khác nhau trong chừng mực nào đó, hầu hết họ phản đối lẫn nhau. Ở mỗi thời điểm những chương trình này đều thay đổi đến từng chi tiết. Ai có thể bảo họ sẽ dẫn chúng ta đến đâu? Tất cả những gì chúng ta có thể làm là khởi động một phong trào trong số ít người có quan tâm đến việc thay đổi ý nghĩa.

Omni: Ông đã đề xuất rằng có thể phát triển những “tâm thức tập thể” . Chúng có thể là một con đường đi đầy tiềm năng cho sự thay đổi ý nghĩa này chăng?

Bohm: Chúng có thể: nếu chúng ta không thiết lập những ranh giới rõ ràng giữa các tâm thức, thì tôi nghĩ có thể chúng sẽ thống nhất lại thành một tâm thức theo cách nào đó. Nếu có một sự thông hiểu và cảm nhận thực sự về tính toàn thể trong tâm thức tập thể này, thì vậy cũng đủ để thay đổ sự vật – tuy thế khi những hoàn cảnh bên ngoài có được đà đi tới thì việc thay đổi ấy trở nên khó khăn hơn. Đây là điều quan trọng, đặc biệt nếu có một thảm họa, thì ý tưởng của những tâm thức tập thể có thể lưu lại trong ý thức của những người sống sót.

Omni: Tất cả dường như ngụ ý một sự thay đổi triệt để trong khái niệm về con người.

Bohm: Đúng vậy. Ý tưởng về bản sắc vĩnh cửu sẽ được gạt ra bên lề. Điều này sẽ gây kinh hãi lúc đầu. Tâm thức hiện tại, được định danh khi nó liên quan đến tính cá nhân, sẽ phản ứng để bảo vệ cái cảm thức về “bản ngã” cá nhân khỏi mối đe dọa ấy.

Omni: Điều đó dường như rất phù hợp với những tư tưởng của ông về cái chết.

Bohm:  Cái chết phải liên hệ với những câu hỏi về thời gian và bản sắc. Khi bạn chết đi, mọi thứ mà bản sắc của bạn phụ thuộc vào cũng biến mất. Tất cả những gì trong trí nhớ của bạn sẽ mất đi. Toàn bộ định nghĩa của bạn về chính mình sẽ biến mất. Toàn bộ cảm thức cách biệt với mọi thứ sẽ mất đi bởi vì đó là bản sắc của bạn. Toàn bộ cảm thức về thời gian ắt sẽ biến mất. Có cái gì tồn tại sau cái chết không? Đó là câu hỏi mà lúc nào cũng có người đặt ra. Nói rằng cái gì đó tiếp diễn trong thời gian là điều vô nghĩa. Trái lại tôi sẽ nói rằng mọi thứ chìm trong trật tự ẩn, nơi đó không có thời gian. Nhưng giả định chúng ta nói rằng ngay bây giờ, khi tôi còn sống, một việc tương tự vậy cũng đang diễn ra. Trật tự ẩn sẽ khai triển để trở lại thành con người tôi hết lần này đến lần khác ở từng chập. Và tôi của quá khứ sẽ trôi đi.

Omni: Con người ông ở thời quá khứ khi đó bị tóm trở lại vào trật tự ẩn.

Bohm: Đúng vậy. Bất cứ điều gì tôi biết về “tôi” đều ở trong quá khứ.  “Tôi” hiện tại là điều bất tri. Chúng ta nói rằng chỉ có một trật tự ẩn, chỉ một cái hiện tại mà thôi. Nhưng nó tự mình trình hiện ra để trở thành cả một chuỗi những chập tiếp nối nhau. Cuối cùng tất cả những các chập thực chất là một. Vì thế hiện tại là vĩnh hằng.

Theo một nghĩa nào đó, thì mọi thứ, bao gồm cả tôi, đang chết đi ở mỗi chập tiến vào vĩnh hằng và sẽ được tái sinh, vì thế tất cả những gì sẽ diễn ra lúc chết là việc những những đặc điểm nhất định nào đó sẽ không được tái sinh trở lại từ một chập nào đó. Nhưng toàn bộ quá trình tư tưởng của ta khiến ta đối diện với điều này với nỗi sợ hãi tột độ trong nỗ lực duy trì bản sắc. Một trong những mối quan tâm của tôi ở thời điểm này trong đời mình chính là nhìn vào nỗi sợ hãi ấy.

Hoàng Phúc dịch

Chú thích:

(1)  Trong nhiếp ảnh thông thường mỗi điểm trên một tấm ảnh tương ứng với một vùng riêng biệt trong quang cảnh thực tế. Chỗ này là bàn tay, chỗ kia là mắt. Có một sự tương ứng tuyệt đối giữa các điểm trong quang cảnh thực tế với các điểm trên tấm ảnh. Nhưng trong kĩ thuật ba chiều thì mỗi điểm trong quang cảnh thực tế được đưa vào khắp toàn bộ tấm ảnh. Ngược lại mỗi vùng nhỏ bé của tấm ảnh có thể tìm thấy thông tin của toàn bộ quang cảnh thực tế.

(2)   Đối với Bohm, cái toàn thể là một sự vận động không ngừng. Bên trong sự vận động này có thể khám phá ra quá trình vô tận của sự biểu lộ rồi lại biến mất khi trật tự mờ ẩn tạm thời bộc lộ những khía cạnh của nó thành một trật tự sáng rõ. Thế giới thực tế có vẻ ổn định không có nghĩa là vật thể trong thế giới của chúng ta ổn định, mà thực ra chỉ là những mô hình giống nhau sinh ra rồi lại chết đi nhanh đến mức tưởng như không có gì thay đổi. Tư tưởng và thể xác của ta chỉ tiếp cận được với cái bề mặt của sự vật và sự ổn định bề ngoài của cái trật tự sáng rõ, thay vì nhận thức được sự vận động thường xuyên tiềm ẩn bên dưới (Thật thú vị khi nhận ra rằng nhiều truyền thống thiền định rất chú trọng đến sự vô thường của sự vật và cho rằng thế giới liên tục dao động giữa sự tồn tại và phi tồn tại.) [tr 125-126, chương 3, Từ Xác định đến Bất định: Câu chuyện về Khoa học và Tư tưởng của Thế kí 20, F. David Peat, bản dịch của Phạm Việt Hưng, NXB Tri thức]

Nguồn:

Bohm, David. “Phỏng vấn David Bohm.” Do F. David Peat và John Briggs thực hiện. <http://fdavidpeat.com/interviews/bohm.htm>

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s