Anthony Kenny – Lịch sử triết học Tây phương: Từ Hume đến Hegel (1)

Anthony Kenny

Lịch sử triết học Tây phương: Từ Hume đến Hegel (1)

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hume

Chỉ một thời gian ngắn sau khi tại Dublin Berkeley đưa ra cho nhân loại biết về siêu hình học thường nghiệm của mình, thì tại Edinburgh một triết gia khác ra đời, ông này là người đẩy những nguyên lí thường nghiệm đến một cực điểm phản siêu hình học, đó là David Hume. Hume sinh năm 1711 trong một gia đình thuộc dòng dõi quí tộc Scotland. Khi còn là đứa bé con của một người mẹ sớm ở goá thì ông đã phải sống tự lập. Từ mười hai đến mười lăm tuổi ông theo học văn chương và triết học tại trường đại học Edinburgh, và như ta được biết thì lúc ấy ông đã phải lòng cả hai môn học này. Sau đó ông bắt đầu tự mình chuẩn bị mọi thứ để đi theo nghề luật, nhưng rồi sớm bỏ cuộc bởi lẽ nói như ông thì ông thấy mình có “một nỗi ác cảm không tài nào vượt qua được với bất kì mảng nào ngoại trừ việc theo đuổi lĩnh vực triết học và nền học vấn tổng quát.”

Dù vậy, ông cũng đã thử dấn thân vào sự nghiệp thương mại với một hãng sản xuất đường ở Bristol, nhưng bốn tháng làm công chức ở đó đã cho ông biết cuộc sống kinh doanh không dành cho mình. Ông quyết định sống dè sẻn bằng số tài sản thừa kế nhỏ nhoi, và đi khắp nước Pháp do cuộc sống ở vùng đô thị nơi đây không đắt đỏ. Từ năm 1734 đến 1737 ông sống ở La Flèche vùng Anjou, là nơi Descartes tiếp thu nền giáo dục ở trường đại học dòng Tên. Bằng cách tận dụng thư viện ở trường đại học, Hume đã viết tác phẩm đầu tiên, vô cùng trọng yếu, đó là cuốn Treatise of Human Nature (Khảo luận về Bản tính Con người). 

Trên đường trở về Anh thì ông phát hiện ra một số khó khăn nhất định để xuất bản tác phẩm này, và khi nó ra mắt thì ông thất vọng trước sự tiếp nhận của người đời. ‘Chưa từng có một nỗ lực sách vở nào bất hạnh hơn cuốn Treatise của tôi,’ ông đã viết thế trong cuốn hồi kí của mình. ‘Nó đã chết ngay từ lúc mới sinh ra ở nhà xuất bản.’ Tuy vậy sau khi ông chết thì tác phẩm này lại đạt được danh tiếng lẫy lừng. Những nhà duy tâm Đức ở thế kỉ mười tám và những nhà duy tâm Anh quốc ở thế kỉ mười chín đã lấy tác phẩm này làm mục tiêu cho những lời phê phán thuyết duy nghiệm: họ căm ghét tác phẩm này nhưng đồng thời lại tôn sùng nó.  Những nhà duy nghiệm Anh quốc ở thế kỉ hai mươi ca ngợi tác phẩm đó là công trình triết học vĩ đại nhất viết bằng tiếng Anh. Hẳn nhiên cuốn sách này, cùng với những phần trình bày ý tưởng trong cuốn sách được Hume đưa ra sau này, bắt đầu gây ảnh hưởng hơn bất kì tác phẩm của bất kì triết gia nào kể từ thời Descartes. Thị trấn La Flèche có thể tự hào về những đóng góp của mình cho nền triết học.

Cuốn Treatise được xuất bản thành ba quyển, hai quyển đầu (‘Of the Understanding’ và ‘Of the Passions’) xuất bản năm 1739, còn quyển thứ ba (‘Of Morals’) xuất bản năm 1740. Mục tiêu của tác phẩm được phát biểu ở phần phụ đề của phiên bản đầu tiên, một nỗ lực nằm giới thiệu phương pháp thực nghiệm để hình thành lí giải cho những chủ đề luân lí. Hume tự thấy những gì ông làm trong lĩnh vực tâm lí học cũng giống như những gì Newton đã làm cho lĩnh vực vật lí, bằng cách áp dụng phương pháp thực nghiệm đối với những chủ đề luân lí. Ông khởi sự cung ứng bản mô tả về những mối quan hệ giữa hai ý tưởng tương ứng với lực hấp dẫn giữa hai hành tinh. Những quan niệm như nhân quả và bổn phận trước đây bị những nhà siêu hình học làm cho rối mù lên thì giờ đây lần đầu tiên được mang ra soi rọi rõ ràng. Toàn bộ những bộ môn khoa học sẽ hưởng lợi từ điều này: thay vì dựng nên những công sự nhỏ bé ở ranh giới tri thức, chúng ta giờ đây có thể ‘hiên ngang bước thẳng vào thủ phủ hoặc trung tâm của những môn khoa học này, thẳng đến ngay bản tính con người’ (T).

Cuốn đầu tiên của bộ Treatise bắt đầu bằng việc đưa ra sự phân loại thường nghiệm về nội dung tâm thức (‘các năng lực tri giác’). Cuốn này bao quát rất nhiều nền tảng giống với nhận thức luận của Locke và Berkeley, nhưng Hume chia năng lực tri giác thành hai lớp, ấn tượng và ý tưởng. Ấn tượng thì mạnh mẽ, rõ ràng hơn ý tưởng. Các ấn tượng bao gồm cảm giác và cảm xúc; ý tưởng là những năng lực tri giác liên quan đến việc tư duy và lí giải. Hume xem xét chi tiết đến những ý tưởng thuộc về kí ức và trí tưởng tượng, cùng mối liên hệ giữa chúng. Ông tán thành và củng cố những lời phê phán của Berkeley đối với những ý tưởng trừu tượng của Locke.

Sau khi kết thúc quyển thứ nhì cống hiến cho những ý tưởng về không gian và thời gian, trong một phần khác có nhan đề ‘Of Knowledge and Probability’, Hume trình bày hầu hết những tư tưởng độc đáo và có sức ảnh hưởng. Hume biện luận, toàn bộ tri thức khi đã vượt ra khỏi tầm mức bày tỏ trực tiếp bằng giác quan thì sẽ phụ thuộc vào những khái niệm của nhân-quả: thông qua những ý tưởng đó mà ta khám phá được chuyện gì diễn ra ở quá khứ và phỏng đoán chuyện gì sẽ diễn ra trong tương lai. Do vậy chúng ta phải xem xét kĩ càng nguồn cội của những ý tưởng này.

Ông cho biết, ý tưởng về luật nhân-quả không thể trỗi dậy từ bất kì tính chất cố hữu nào của vật thể, bởi vì vật thể thuộc những loại khác biệt nhất có thể là nguyên nhân và hệ quả. Chúng ta thay vào đó phải tìm kiếm mối quan hệ giữa hai vật thể đó; và ta thấy rằng nguyên nhân và hệ quả ắt là nằm kề nhau, và nguyên nhân phải là thứ có trước hệ quả. Hơn nữa, việc nằm kề nhau và tiếp nối nhau như thế không đủ để ta phát biểu hai vật thể nào đó là nguyên nhân và hệ quả, trừ khi ta biết hai dạng vật thể đó được xem là có mối kết hợp bất biến. Nhưng điều đó chưa đủ: nếu chúng ta suy ra được hệ quả từ nguyên nhân của nó, thì ta sẽ cảm thấy ắt là có một nối kết tất yếu giữa nguyên nhân và hệ quả của nó.

Sau nhiều trang giấy biện luận khéo léo, Hume dẫn ta đến một kết luận đáng kinh ngạc: không phải suy luận của ta phụ thuộc vào nối kết tất yếu giữa nguyên nhân và hệ quả, mà chính nối kết đó phụ thuộc vào suy luận ta rút ra được từ sự việc này đến sự việc kia. Niềm tin của ta cho nối kết tất yếu không phải là vấn đề lí giải, mà là vấn đề tập tục; và để dứt ta ra khỏi học thuyết đối nghịch thì Hume đã trình bày phân tích của mình về mối quan hệ giữa lí trí và niềm tin. Ông chốt lại cuốn sách bàn về việc nhận thức với một phần trong sách đặt thuyết hoài nghi mới mẻ của ông vào bối cảnh những phiên bản khác của thuyết hoài nghi, cả cổ đại lẫn hiện đại. Phần đó kết thúc bằng một đoạn trứ danh, trong đó Hume phủ nhận sự hiện hữu của bản ngã theo quan niệm của các triết gia.

Bằng cách cống hiến quyển thứ nhì của bộ Treatise nhằm đưa ra bản tường trình phức tạp bàn về những thụ cảm (passion) hoặc những cảm xúc. Hume theo bước của Descartes và Spinoza. Nhưng chủ đề này đối với ông còn quan trọng hơn là đối với những nhà tư tưởng duy lí kia, bởi triết học tinh thần (philosophy of mind) của ông cho rằng nhờ có thụ cảm mà hình thành được nhiều tiến trình vốn được xem là những hoạt động của lí trí – quá trình suy luận về nguyên nhân chỉ là ví dụ nổi trội nhất trong số nhiều ví dụ khác.

Hume bảo chúng ta rằng, thụ cảm là một loại ấn tượng đặc biệt. Khi chia các cảm quan thành ấn tượng và ý tưởng, ông còn thực hiện việc chia cắt đó sâu hơn nữa giữa ấn tượng nguyên thuỷ và ấn tượng thứ yếu: ấn tượng giác quan, thể chất và khoái lạc là những ấn tượng nguyên thuỷ, còn ấn tượng thứ yếu là những thụ cảm tạo nên chủ đề cho cuốn sách. Những loại thụ cảm đặc thù này, chẳng hạn như lòng kiêu hãnh và tính khiêm nhường, hoặc tình yêu và lòng căm thù, hết thảy đều được bàn luận theo những chi tiết kì quặc. Phần kết luận nổi trội nhất trong cuốn sách cho rằng điểm mâu thuẫn được bàn tới nhiều nhất giữa thụ cảm và lí trí chính là chuyện hoang đường của nhà siêu hình học. Bản thân lí trí như ta được cho biết vốn bất lực không thể sản sinh ra bất kì tác động nào: mọi hành xử tự nguyện đều có động cơ từ lòng thụ cảm của mỗi người. Lí trí không bao giờ vượt qua được thụ cảm, mà chỉ có lòng thụ cảm đối nghịch mới làm được điều đó. Chính đề này sẽ không làm ta bận tâm: ‘lí trí là và chỉ có thể là nô lệ cho lòng thụ cảm, không bao giờ có thể vờ vịt để ở một vị thế khác ngoại trừ việc phục vụ và tuân theo những thụ cảm trong lòng người’ (T II. 3. 3).

Cuối quyển hai thì rõ là hệ thống đạo đức học của Hume chuẩn bị chuyển sang một thứ khác chứ không còn theo bất kì triết học luân lí truyền thống nào. Bởi vì lí trí không thể khiến chúng ta hành động, những phán xét luân lí không thể là sản phẩm của lí trí bởi vì toàn bộ mục đích của những phán xét như thế chính là dẫn đường cho hành xử của ta. Lí trí có liên quan đến những mối tương quan của ý tưởng hay liên quan đến những thực tế, nhưng không cái nào dẫn đến hành động. Chỉ có lòng thụ cảm mới có thể làm chuyện đó, và lí trí không thể là nguyên nhân gây ra cũng như không thể đánh giá lòng thụ cảm của ta. ‘Đây không phải là điều đối nghịch với lí trí khi chuộng việc huỷ diệt toàn bộ thế giới hơn là việc dùng ngón tay để gãi.’ Toàn bộ những gì lí trí có thể làm là xem xét tính thiết thực của các vật thể có được nhờ thụ cảm và phương pháp tốt nhất để có được chúng. Hume kết luận phần nhận định của mình về lí trí và thụ cảm bằng đoạn văn nổi tiếng sau:

Trong mọi hệ thống luân lí mà tôi có dịp tiếp cận cho đến lúc này, thì tôi luôn nhận xét rằng người tác giả ban đầu tiến bước theo lối lí giải thông thường trong một thời gian, rồi thiết định nên sự tồn tại của một vị Chúa, hoặc thực hiện những quan sát về các hành xử của con người; lúc tôi bất thần sửng sốt phát hiện, rằng thay vì cách giao phối thông thường giữa hai định đề, cái-là và cái-không-là, thì tôi không bắt gặp một định đề nào không nối kết với cái-phải-là hoặc cái-không-phải-là. Sự thay đổi đó tuy là bất khả tri kiến, nhưng lại thuộc về hệ quả cuối cùng. (T III.1.1)

‘Cái không phải là’ không thể bắt nguồn từ ‘cái là’ và kết luận ta phải rút ra được ở đây rằng sự khác biệt giữa thiện và ác, đúng và sai, chính là sản phẩm của cảm quan luân lí chứ không phải của lí trí.

Từ nền tảng này Hume tiếp tục bàn luận về công lí và bất công trong phần thứ nhì cuốn sách, và trong quyển thứ ba thì bàn tiếp về những đức hạnh tự nhiên như lòng nhân từ và lòng đại lượng. Ông kết luận rằng nguồn suối chính yếu cho sự phân biệt luân lí nằm ở sự đồng cảm với người khác. Công lí được chấp thuận bởi vì nó hướng đến công ích; và công ích là điều ta hay phớt lờ, ngoại trừ ở một chừng mực nào đó sự đồng cảm lôi kéo ta hướng đến điều ấy. ‘Đức hạnh được xem là phương tiện để đạt được cứu cánh. Phương tiện để đạt được cứu cánh chỉ có giá trị chừng nào mà cứu cánh đó có giá trị. Nhưng niềm hạnh phúc của người lạ chỉ tác động đến ta nhờ sự đồng cảm mà thôi’ (T III. 3.6)

Treatise of Human Nature là thành quả rất đáng chú ý đối với một người mới hai mươi mấy tuổi, và không có gì ngạc nhiên khi Hume tỏ ra thất vọng trước sự tiếp nhận của người đời đối với tác phẩm này. Ông phục hồi lại sau cơn trầm cảm ban đầu, và quyết định rằng lỗi trong cuốn sách nằm ở vấn đề trình bày chứ không phải vấn đề nội dung thực chất. Theo đó, năm 1740 ông dùng bút hiệu ẩn danh công bố một bản tóm tắt ngắn gọn dành cho tác phẩm này, đặc biệt là về thuyết nhân quả. Sau khi công bố ẩn danh thêm bộ hai quyển Essays, Moral and Political (1741-2), vốn được người đời tiếp nhận nồng nhiệt, ông viết lại đa số nội dung cuốn Treatise theo hình thức phổ thông. Cuốn An Enquiry Concerning Human Understanding (Nghiên cứu về giác tính con người), tương ứng vói quyển đầu tiên, xuất hiện (bằng một nhan đề hơi khác chút) năm 1748 và (bản hoàn chỉnh cuối cùng) năm 1751. Cuốn này bỏ đi phần suy xét ban đầu về không gian và thời gian, nhưng bao gộp một chương về những điều kì diệu gây xúc phạm tột độ cho những độc giả chính thống của Kinh-thánh. Cũng năm 1751, Hume công bố cuốn An Enquiry Concerning the Principles of Morals (Nghiên cứu về những nguyên tắc luân lí), đây là phiên bản rút gọn và có chỉnh sửa từ quyển thứ ba của tác phẩm Treatise.

Năm 1745, Hume xin vào làm giáo sư triết học tại trường Edinburgh. Ông không thành công nhưng đã nhận được vị trí gia sư cho một vị hầu tước trẻ tuổi vùng Annandale. Tiếp theo ông được nhận vào làm trong phái đoàn tuỳ tùng của một người họ hàng xa, tướng St Clair, và ông phục vụ dưới quyền người đó trong chuyến hành trình của hải quân tới Britanny trong cuộc Chiến tranh kế vị Áo (War of Austrian Succession). Lúc chiến tranh gần đến hồi kết, năm 1747, ông theo vị tướng đó tới Vienna và Turin làm nhiệm vụ ngoại giao. Cuối cùng thì ông cũng bắt đầu nếm được mùi vị thành đạt: ông khoa trương rằng mình đã tích cóp được số tiền dành dụm lên đến £1,000 và người đời mô tả ông trông như một ‘gã uỷ viên chuyên ăn thịt rùa’ (turtle-eating alderman). Năm 1751 ông được giao chức vụ thủ thư cho Nhóm Bào chữa viên của trường Edinburgh, và sống ở thành phố cùng người chị trong căn nhà được người ta cấp cho.

Trong thập niên 1750, những tác phẩm triết học của Hume bắt đầu bán chạy và đạt được một số danh tiếng hoặc ít nhất là cũng có tai tiếng nào đó. Ông cho biết, ‘Cứ mỗi năm xuất hiện thêm hai ba câu hồi đáp lại từ các Đức Cha hay các Đức Giám mục.’ Nhưng tác phẩm của chính ông đã tạo một bước ngoặt mới. Từ năm 1754 đến 1761, ông viết một cuốn lịch sử sáu quyển về nước Anh với sự thiên vị rõ ràng về phía thành viên Đảng Bảo thủ Anh quốc (Tory). Thật sự trong suốt đời mình, ông được người ta biết đến với vai trò nhà sử học hơn là triết gia.

Năm 1763, lúc mà cuộc Chiến tranh bảy năm (Seven Years War) đang đến hồi kết, Hume đảm nhiệm vai trò thư kí cho Đại sứ quán Anh quốc ở Paris, và trong khoảng thời gian sáu tháng chờ vị đại sứ mới đến thế chỗ người cũ thì ông phụng sự ở đó với vai trò một chargé d’affaires (đại biện). Ông thấy môi trường ở đây dễ chịu vô cùng, khi đó ông qua lại với các triết gia khác như Diderot và d’Alembert, và còn có khoảng thời gian dùng sự lịch lãm của mình tán tỉnh nữ bá tước vùng Boufflers, tiếp theo đó là một loạt thư tình được gửi đi sau khi ông trở về Anh quốc. Trong chuyến trở về Luân-đôn thì ông còn mang theo một vị triết gia người Thuỵ-sĩ, Jean-Jacques Rousseau, một người lúc nào cũng sợ mình bị ngược đãi ở châu lục này. Tính tình cố chấp của Rousseau là chứng cớ chống lại những nỗ lực chân thành của Hume nhằm kết bạn và bảo vệ ông ta, và vào năm 1767 hai vị triết gia này chia tay nhau sau một trận cãi nhau ầm ĩ xóm làng.

Sự nghiệp của Hume trong chính phủ chấm dứt sau hai năm làm thư kí cho Northern Department (bộ phận lo việc chính phủ ở khu vực phía bắc châu Âu) từ năm 1767 đến 1769 dưới sự quản lí của Công tước vùng Grafton. Ông về nghỉ hưu tại Edinburgh và sống ở đó cho đến khi qua đời vào năm 1779. Ông cũng bỏ thời gian chỉnh sửa lại bộ sách Dialogues Concerning Natural Religion (Những đối thoại về tín ngưỡng tự nhiên), đây là đòn công kích dùng triết học đánh vào thần học tự nhiên, tác phẩm này được xuất bản vào năm 1779 sau khi ông qua đời. James Boswell (người ghi lại chi tiết căn bệnh cuối đời của ông) đã rất thất vọng khi ông qua đời trong an bình, từ khước niềm an ủi đến từ tín ngưỡng . Ông có để lại phần tự truyện vắn tắt, sau này được bạn ông là nhà kinh tế Adam Smith công bố ra vào năm 1777. Bản thân Smith cũng viết về Hume: ‘Nhìn chung, trong quãng thời gian anh ta còn sống và từ khi anh ấy qua đời, thì tôi luôn xem anh là người đã tiến đến gần cái ý tưởng về một người có minh triết và đức hạnh hoàn hảo, theo cách mà bản chất sự mỏng manh của con người phải thừa nhận.’

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
2012108

Nguồn:

Kenny, Anthony. “Hume to Hegel.” A New History of Western Philosophy. Volume 3: The Rise of Modern Philosophy. New York: Oxford University Press, 2006.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s