John McCarty – Về bộ ba phim The Godfather của Francis Ford Coppola

 

John McCarty

Về bộ ba phim The Godfather của Francis Ford Coppola

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Mario Puzo từng nói một trong những lí do ông viết cuốn tiểu thuyết The Godfather là để thoát khỏi cảnh nợ nần. Ông nhắm đến việc đưa cuốn này thành sách bán chạy và đã đạt được mục tiêu. Cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1969 và bán được 500,000 bản bìa cứng và hơn mười triệu bản bìa mềm vào lúc phiên bản điện ảnh được tung ra.

Hãng phim Paramount mua bản quyền làm phim theo bản thảo quyển roman à clef [tiểu thuyết đời thực việc thực] của Puzo, quyển này bao hàm nhiều thứ liên quan đến cả lịch sử lẫn cấu trúc của giới tội phạm có tổ chức tại Mĩ. Hãng phim đề nghị làm phim khiêm tốn chút và cập nhật thời điểm trong phim đến thời điểm hiện tại lúc bấy giờ để khỏi tốn chi phí dựng cảnh và trang phục theo thời kì giống trong sách. Nhưng khi quyển này nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy, người ta quyết định làm The Godfather thành một “bộ phim đình đám” với việc công bố rộng rãi khắp nơi và giá vé cao ngất ngưởng. Trước đòi hỏi dứt khoát của nhà sản xuất Al Ruddy và đạo diễn Francis Ford Coppola vốn nhờ vào gia thế gốc Ý và chi phí yêu cầu thấp nên được giao vai trò này, hãng phim cũng bị thuyết phục quay kịch bản trở về bối cảnh theo đúng thời điểm trong sách (cuối thập niên 1940). 

Với The Godfather, Coppola nhận lấy một thể loại điện ảnh nhàm chán, dòng phim về băng đảng, một thể loại mà dường như người ta đã làm đủ mọi chuyện rồi, và ông đẩy nó lên theo một hướng mới mẻ hùng tráng. Tàn bạo, đẫm máu, gây sốc, đáng sợ, vui nhộn, tinh ý về mặt xã hội lẫn chính trị, và được thực hiện kĩ càng từ diễn viên chính đến diễn viên phụ, bộ phim đưa ra một cái nhìn toàn cảnh thoáng qua hướng vào xã hội khép kín của giới tội phạm có tổ chức – một xã hội do các món nợ máu chi phối, ở đó nhờ nỗi sợ hãi và việc đe doạ mà người ta có được tiếng nói và sự tôn trọng nhiều người ao ước. Đó là một xã hội mà việc giết người “không mang tính cá nhân, chỉ là công việc thôi” và phủ bóng lên nhiều tầng lớp khác nhau trong đời sống Mĩ. Không phải khi không mà bộ phim được xem như là “Gone with the Wind của thể loại phim băng đảng”.

Bộ phim đạt được mức doanh thu bom tấn. Hãng Paramount yêu cầu phần tiếp theo, và sau khi đưa ra yêu cầu thì Coppola có được quyền tự chủ sáng tạo hoàn toàn để làm The Godfather phần II. Phần phê bình chĩa vào The Godfather chủ yếu là việc Coppola đã làm cho các nhân vật mafia trở nên dễ mến khi cho họ có được gương mặt quá nhân bản. Chắc chắn là giới phê bình không nhận ra được quan điểm của Coppola về sự tầm thường của cái ác, ông cho rằng các thành viên của thế giới ngầm không hẳn đều có đôi mắt láo liên, hoặc là những kẻ đâm thuê chém mướn khát máu. Tuy vậy, ông vẫn khắc cốt ghi tâm những lời phê bình và trong phần tiếp theo ông quyết định biến Michael Corleone, một nhân vật phản diện chuyên đi giết chóc để giữ gia đình mình liền lạc với nhau trong suốt mấy cuộc chiến mafia trong thập niên 1940 ở phần đầu tiên, trở thành nhân vật kiểu Machiavelli, một kẻ hoàn toàn đánh mất tâm hồn mình khi phần thứ nhì này đi tới cuộn phim cuối cùng.

Coppola xem phần tiếp theo không phải chỉ là cách trục lợi dựa trên thành công của phần đầu mà để mở rộng các yếu tố ra thêm và làm bức tranh thêm phần phong phú. Bộ phim biên niên lại công việc của giới tội phạm có tổ chức tại Hoa-kì từ năm 1900 đến thập niên 1960, thêu dệt thêm một số hư cấu vào các sự kiệt theo cách làm phần trước. Tận dụng nguồn tài liệu chưa được sử dụng trước đây trong sách của Puzo, bộ phim luân chuyển qua lại theo mốc thời gian nhằm làm tương phản hai tính cách giữa Michael Corleone và cha anh – để thấy Michael có tính cách gay gắt và tàn nhẫn hơn, trong khi Vito là sản phẩm của những kiểu cách ở quê hương ông thời xa xưa và nhìn thế giới là một nơi kẻ nào mạnh thì sẽ sống sót.

The Godfather phần II là dạng hiếm có – một phần tiếp theo không chỉ làm ta hiểu sâu hơn về phần một mà còn hay hơn về mặt nghệ thuật. Phần này cũng đạt thành công lớn về doanh thu, nhưng có ngân sách gấp đôi so với phần trước, và không hẳn là một phim bom tấn như bản đầu tiên. Nhưng bởi vì bộ phim kết thúc ở thập niên 1960 với một Michael Corleone hãy còn tràn trề sinh lực, nên Paramount thừa biết là họ chưa khai thác triệt để mỏ vàng này. Họ muốn phần tiếp theo nữa. Tuy nhiên, Coppola lại không hứng thú và cất ý tưởng này lên kệ suốt gần hai mươi năm trời.

The Godfather phần III tiếp nối câu chuyện dài hơi của Michael Corleone vào năm 1979, lúc này ông trùm chồng chất tội lỗi nhận được huân chương Thánh Sebastian, danh hiệu cao quí nhất của nhà thờ Công giáo trao tặng cho thường dân. Trong lúc đối đầu với những kẻ lập mưu của Mafia, các viên chức Vatican suy đồi, và bọn thương nhân Âu châu tàn bạo, thì Michael cũng đối mặt với rắc rối nơi quê nhà. Con trai ông chối từ tham gia vào việc làm ăn của gia đình để trở thành ca sĩ opera, trong khi con gái ông cứ tiếp tục mối quan hệ tình ái đầy sóng gió với người anh họ (con trai ngoài giá thú mang dòng máu người anh trai Sonny đã chết của Michael). Toàn bộ các tình tiết đó hiện ra ngay trước mặt trong suốt ba mươi phút sôi sục cuối cùng của bộ phim, khi Michael đã hạ sát quá nhiều người một cách tàn khốc – ông hi vọng lần này là cho mãi mãi. Nhưng cô con gái yêu thương lại lãnh lấy viên đạn đáng lẽ dành cho ông của tay sát thủ kia và ông trùm già nua này gục xuống mà lòng đầy tiếc thương, con gái ông cùng giấc mơ chuộc tội giờ bỗng tan biến. Mấy năm sau, ông chết vì bệnh tim, thành một nhân vật giống như Lear với tóc bạc trắng, cô đơn trong cung điện của mình.

The Godfather phần III không phải là không có chất lượng. Hình ảnh ấm áp, phong phú, phần thiết kế sản xuất xa xỉ cùng với phong cách opera là tất cả những điểm đáng chú ý tương thích với hai phần đầu. Nhưng các sai sót thì không hề nhỏ nhặt. Khi xét đến ngân sách làm phim khổng lồ 55 triệu USD (gấp hơn bốn lần so với phần II), người ta cảm thấy thất vọng tràn trề do phần III không đưa ra được kết luận nào cho câu chuyện dài hơi nhà Corleone để tương thích với tầm nhìn hùng tráng của hai phần đầu. Phần III trông tẻ nhạt – và cốt chuyện phức tạp như hai phần đầu nhưng lại không hấp dẫn bằng. Thực tế thì đôi lúc cũng thật khó mà theo dõi tình tiết câu chuyện.

Nhưng sai sót lớn nhất của phần III là sự thay đổi mà các nhân vật chính trải qua, đặc biệt là Michael không còn giống một Michael ta biết khi phần II khép lại – đây là sự thật quá rõ ràng trước mắt người xem nếu xem hai phần liên tục. Có thể những con quái vật nay đã già nua và mỏi mệt, nhưng cách nhìn khiến cho họ trở thành quái vật sẽ không biến mất. Tội lỗi và niềm mong mỏi chuộc tội không chỉ là một phần của nhân vật vô cảm có đôi mắt lạnh lùng mà Michael đã thể hiện nên khi khép lại phần II.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20121102

Nguồn:

McCarty, John. “The Godfather Trilogy.” International Dictionary of Films and Filmmakers. 4th edition. Vol. 1. Ed. Tom Pendergast & Sara Pendergast. Detroit: St. James Press, 2000.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s