John Santrock – Phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ

John Santrock

Phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ

Duy Đoàn chuyển ngữ

Theo một sử gia thời xưa, vị hoàng đế nước Phổ thế kỉ 13, Frederick II, có một ý tưởng dã man. Ông ta muốn biết trẻ con sẽ nói thứ tiếng gì nếu không ai nói chuyện với chúng. Ông chọn ra vài đứa trẻ sơ sinh và doạ giết những người chăm nom nếu họ nói chuyện với bọn trẻ. Frederick không bao giờ phát hiện được bọn trẻ sẽ nói thứ tiếng gì bởi vì tất cả chúng đều chết. Khi bước vào thế kỉ 21, chúng ta vẫn còn tò mò về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ, mặc dù các thí nghiệm và quan sát của ta ít nhất thì cũng nhân bản hơn nhiều so với cách của Frederick tàn ác kia.

Cho dù nói thứ tiếng gì đi nữa thì trẻ nhỏ trên toàn thế giới luôn theo cùng một con đường phát triển ngôn ngữ. Vậy những cột mốc then chốt cho sự phát triển này là gì? 

John Santrock 1

Hình 1. Ngay từ sớm trước khi trẻ có thể nói được những từ ngữ có nghĩa, thì chúng đã có thể tạo ra nhiều cách phát âm. Vào độ tuổi khoảng bao nhiêu thì trẻ nhỏ bắt đầu tạo ra được nhiều loại âm thanh và cử chỉ khác nhau?

Giai đoạn bập bẹ và các hình thức phát âm khác

Ngay từ sớm trước khi trẻ có thể nói được những từ ngữ có nghĩa, thì chúng đã có thể tạo ra nhiều cách phát âm (Sachs, 2009). Việc phát âm sớm này có chức năng thực hành cách tạo ra âm thanh, giao tiếp và thu hút sự chú ý. Âm thanh do em bé tạo ra thường trải qua trình tự sau trong năm đầu tiên:

Khóc. Trẻ con ngay từ lúc sinh ra đã khóc. Khóc có thể là dấu hiệu của đau đớn, nhưng có nhiều kiểu khóc khác nhau biểu thị cho nhiều thứ khác nhau.

Tiếng gù gù. Em bé có thể phát ra tiếng gù gù lần đầu tiên vào lúc 1-2 tháng tuổi. Đây là những âm thanh khục khục phát ra từ trong cổ họng và thường biểu lộ niềm vui thích trong lúc tương tác với người trông trẻ.

Bập bẹ. Khi đi được nửa chặng đường trong năm đầu tiên, em bé có thể bập bẹ – tức là chúng tạo ra những chuỗi từ ngữ kết hợp giữa nguyên âm và phụ âm, chẳng hạn như ba, ba, ba, ba.

Khi trẻ bẩm sinh bị điếc và có cha mẹ cũng bị điếc phải dùng ngôn ngữ kí hiệu, thì chúng sẽ bập bẹ bằng đôi tay và các ngón tay ở cùng độ tuổi mà những trẻ có thính giác bình thường bập bẹ bằng âm thanh (Bloom, 1998). Sự tương đồng về khoảng thời điểm và cấu trúc giữa việc bập bẹ bằng lời lẫn bằng tay đã cho thấy có năng lực ngôn ngữ thống nhất làm nền tảng cho ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ kí hiệu.

John Santrock 2

Hình 2. TỪ VIỆC TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ PHỔ QUÁT CHUYỂN SANG TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ CỤ THỂ. Trong phòng thí nghiệm nghiên cứu của Patricia Kuhl, các em bé được cho nghe một đoạn băng thu âm các giọng nói lặp đi lặp lại các âm tiết. Khi âm thanh của âm tiết thay đổi, các em bé nhanh chóng học cách nhìn con gấu trong hộp. Bằng cách dùng kĩ thuật này, Kuhl đã cho thấy là các em bé cho đến 6 tháng tuổi vẫn còn tiếp nhận một loại ngôn ngữ phổ quát, nhưng trong sáu tháng tiếp theo thì trở thành người tiếp nhận một ngôn ngữ cụ thể. Liệu nghiên cứu của Kuhl có đưa ra ủng hộ cho quan điểm rằng “bản chất” hoặc “nuôi dưỡng” đều là nguồn suối cho khả năng tiếp thu ngôn ngữ?

Cử chỉ

Từ 8 đến 12 tháng tuổi, trẻ nhỏ bắt đầu dùng các cử chỉ, chẳng hạn như đưa ra gì đó hoặc chỉ tay. Chúng có thể vẫy tay chào tạm biệt, gật đầu với nghĩa “đồng ý”, đưa cái li không để muốn thêm sữa, và chỉ vào con chó để làm con chó chú ý tới. Một số cử chỉ ở giai đoạn ban đầu này mang tính biểu trưng, như khi đứa trẻ vỗ vỗ miệng để chỉ đến thức ăn và nước uống. Hành động chỉ tay cũng được các chuyên gia ngôn ngữ xem là thước đo quan trọng về các đặc điểm xã hội của ngôn ngữ, và hành động này theo một trình tự phát triển thế này: từ việc chỉ tay mà không cần xem hướng nhìn của người lớn, đến việc chỉ tay và đồng thời quay qua quay lại để nhìn người lớn rồi nhìn món đồ (Goldin-Meadow, 2009; Godin-Meadow & Iverson, 2010; Rowe & Golding-Meadow, 2009). Nếu trẻ không chỉ tay thì đó là dấu hiệu đáng chú ý cho biết trẻ gặp vấn đề trong hệ thống xử lí giao tiếp ở não bộ. Ví dụ việc thiếu khả năng thực hiện hành động chỉ tay là dấu hiệu điển hình ở nhiều trẻ tự kỉ.

Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra các bậc cha mẹ có địa vị kinh tế xã hội cao có khả năng dùng nhiều cử chỉ hơn khi giao tiếp với đứa con 14 tháng tuổi của mình (Rowe & Goldin-Meadow, 2009). Hơn nữa, việc trẻ con dùng cử chỉ ở độ tuổi 14 tháng trong những gia đình có địa vị kinh tế xã hội cao thường sẽ sản sinh ra vốn từ nhiều hơn khi được 54 tháng tuổi.

Nhận ra các âm thanh của ngôn ngữ

Ngay từ trước khi bắt đầu học các từ ngữ, trẻ nhỏ có thể phân biệt tốt các âm thanh trong ngôn ngữ (Sachs, 2009). Trong nghiên cứu của Patricia Kuhl (1993, 2000, 2007, 2009), người ta dùng loa phát ra các âm vị của nhiều ngôn ngữ trên thế giới cho trẻ nhỏ nghe (xem hình 2). Một cái hộp với con gấu nằm bên trong được đặt ở chỗ trẻ có thể nhìn thấy. Một chuỗi các âm tiết giống nhau phát ra; sau đó thay đổi các âm tiết (ví dụ như ban đầu là ba ba ba ba, sau đó là pa pa pa pa). Nếu lúc âm tiết thay đổi mà trẻ quay đầu lại, cái hộp sáng lên và con gấu sẽ nhảy múa và đánh trống, như là phần thưởng cho đứa trẻ vì đã nhận ra sự thay đổi.

Nghiên cứu của Kuhl (2007, 2009) đã chứng tỏ rằng từ lúc sinh ra cho đến 6 tháng tuổi, trẻ nhỏ là “công dân của thế giới”: hầu như lúc nào chúng cũng nhận ra được khi có sự thay đổi âm thanh, bất kể các âm tiết đó thuộc về ngôn ngữ nào đi nữa. Nhưng trong 6 tháng tiếp theo, trẻ có khả năng cảm nhận tốt hơn sự thay đổi của âm thanh đến từ ngôn ngữ của riêng chúng, tức là ngôn ngữ của cha mẹ, và dần dần mất đi khả năng nhận ra những khác biệt không quan trọng trong ngôn ngữ của mình.

Trẻ nhỏ phải rút ra được những từ đơn lẻ từ dòng âm thanh liên tục trong câu nói bình thường (Menn & Stoel-Gammon, 2009). Để làm được chuyện đó, chúng phải tìm ra ranh giới giữa các từ, vốn là điều rất khó khăn cho trẻ nhỏ bởi vì khi nói người lớn không ngừng lại giữa các từ. Tuy thế, trẻ nhỏ bắt đầu phát hiện được ranh giới giữa các từ khi được 8 tháng tuổi. Ví dụ, trong một nghiện cứu nọ, những đứa trẻ 8 tháng tuổi lắng nghe mấy câu chuyện được ghi âm có chứa những từ lạ, chẳng hạn như chim tê điểu và mãng xã (Jusczyk & Hohne, 1997). Hai tuần sau, các nhà nghiên cứu dùng hai danh sách từ ngữ kiểm tra bọn trẻ, một danh sách chứa các từ trong mấy câu chuyện trước đó, danh sách kia chứa những từ mới lạ không có mặt trong mấy câu chuyện đó. Trung bình bọn trẻ lắng nghe những từ quen thuộc lâu hơn một giây so với lúc nghe những từ mới mẻ.

John Santrock 3

Hình 3. MỨC ĐỘ BIẾN ĐỔI Ở NHỮNG CỘT MỐC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

Những từ đầu tiên

Trẻ nhỏ hiểu được từ ngữ trước khi có thể tạo ra hoặc nói lên những từ đó (Pan & Uccelli, 2009). Ví dụ ngay từ lúc 5 tháng tuổi nhiều trẻ có thể nhận ra tên chúng khi có ai đó nói ra. Tuy vậy, thời điểm trẻ nói được từ đầu tiên, vốn được các bậc cha mẹ háo hức đón chờ, thường xuất hiện khi trẻ được 10 đến 15 tháng tuổi, trung bình vào khoảng 13 tháng tuổi. Vậy mà ngay từ sớm trước khi nói được những từ đầu tiên, trẻ đã giao tiếp được với cha mẹ mình, thường là bằng cử chỉ và bằng cách dùng những âm thanh đặc biệt của riêng chúng. Việc xuất hiện các từ ngữ đầu tiên chính là sự tiếp nối của quá trình giao tiếp này (Berko Gleason, 2009).

Những từ đầu tiên của trẻ bao gồm những từ gọi tên một số người quan trọng đối với chúng (dada), những con vật quen thuộc (mèo), những phương tiện giao thông (xe), đồ chơi (banh), thức ăn (sữa), bộ phận cơ thể (mắt), trang phục (nón), đồ gia dụng (đồng hồ). Đó là những từ đầu tiên của em bé 50 năm về trước. Chúng là những từ đầu tiên của em bé ngày nay. Trẻ con thường biểu lộ nhiều dụng ý khác nhau bằng những từ đơn lẻ, thế là từ “bánh” có thể mang nghĩa “đó là cái bánh” hoặc có nghĩa “con muốn bánh”.

Như được đề cập trước đó, trẻ con hiểu được những từ đầu tiên từ sớm trước khi biết nói những từ đó. Trung bình một đứa trẻ nhỏ hiểu được tầm 50 từ khi được 13 tháng tuổi, nhưng chúng chỉ có thể nói những từ này khi 18 tháng tuổi (Menyuk, Liebrgott & Schutlz, 1995). Do đó, vốn từ tiếp nhận (receptive vocabulary) ở trẻ (những từ trẻ hiểu được) thường lớn hơn rất nhiều so với vốn từ nói được (spoken vocabulary) (những từ trẻ sử dụng).

Vốn từ nói được ở trẻ nhỏ tăng nhanh một khi chúng nói được từ đầu tiên (Pan & Uccelli, 2009; Waxman, 2009). Trung bình một đứa trẻ 18 tháng tuổi có thể nói được khoảng 50 từ, nhưng khi được 2 tuổi trẻ có thể nói được 200 từ. Hiện tượng vốn từ tăng nhanh bắt đầu lúc trẻ khoảng 18 tháng tuổi được gọi là sự bột phát từ vựng (vocabulary spurt) (Bloom, Lifter, & Broughton, 1985).

Giống như khoảng thời gian trẻ nói từ đầu tiên, thì khoảng thời gian bột phát từ vựng cũng biến động khác nhau. Hình 3 cho thấy phạm vi độ tuổi cho hai cột mốc ngôn ngữ này ở 14 đứa trẻ. Trung bình, những đứa trẻ này nói từ đầu tiên khi được 13 tháng tuổi và có mức bột phát từ vựng lúc 19 tháng tuổi. Tuy nhiên, độ tuổi cho khả năng nói được từ đầu tiên của từng đứa trẻ có thể trải rộng từ 10 đến 17 tháng tuổi và độ tuổi cho mức bột phát từ vựng là từ 13 đến 25 tháng tuổi.

Những khác biệt liên ngôn ngữ diễn ra khi học từ. Trẻ con học tiếng Hoa Quan-thoại, tiếng Hàn-quốc, và tiếng Nhật sẽ tiếp thu được sớm nhiều động từ trong quá trình phát triển so với những đứa trẻ học tiếng Anh. Khác biệt liên văn hoá phản ánh mức sử dụng động từ nhiều hơn ở những ngôn ngữ Á châu.

Trẻ con thỉnh thoảng dùng các từ ngữ với nghĩa quá rộng hoặc quá hẹp (Woodward & Markman, 1998). Dùng từ với nghĩa quá rộng là khuynh hướng dùng từ cho các món đồ không phù hợp với nghĩa của từ. Ví dụ, trẻ con ban đầu có nói nói “dada” không chỉ để nói đến “cha” mà còn nói đến những người đàn ông khác, những người lạ hay những cậu bé khác. Trẻ con có thể dùng ý nghĩa từ quá bình thường bởi vì chúng không biết từ nào thích hợp hoặc không thể nhớ. Một thời gian sau thì cách dùng từ kiểu này giảm dần và biến mất. Cách dùng từ với nghĩa quá hẹp là khuynh hướng áp dụng từ đó trong những ngữ cảnh hạn hẹp; nó xảy ra khi trẻ không biết dùng từ ngữ để gọi tên sự kiện hay món đồ có liên quan. Ví dụ, trẻ có thể dùng từ boy để nói đến một cậu bé 5 tuổi nhưng không dùng từ đó cho đứa bé trai hoặc cho cậu bé 9 tuổi. Lí giải thường gặp nhất cho hiện tượng dùng nghĩa hẹp này là trẻ đã nghe thấy người ta dùng từ đó liên quan đến một trường hợp nhỏ, không tiêu biểu.

Những câu có hai từ

Khi trẻ được 18 đến 24 tháng tuổi, chúng thường phát âm những câu gồm hai từ. Để chuyển tải ý nghĩa chỉ với hai từ, đứa trẻ dựa rất nhiều vào cử chỉ, giọng điệu và ngữ cảnh. Mức dồi dào của ý nghĩa mà trẻ có thể truyền đạt bằng cách phát ngôn những câu hai từ bao gồm (Slobin, 1972):

Nhận dạng: “See doggie”.

Địa điểm: “Book there”.

Lặp lại: “More milk”.

Sở hữu: “My candy”.

Thuộc tính: “Big car”.

Hành động của tác nhân: “Mama walk”.

Câu hỏi: “Where ball?”

Những ví dụ này từ những đứa trẻ có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, Đức, Nga, Phần-lan, Thổ-nhĩ-kì, hay Samoa.

Chú ý là những câu phát ngôn hai từ lược bỏ đi các từ loại và đặc biệt cô đọng. Thực tế, ở mỗi ngôn ngữ, khi trẻ lần đầu tiên kết hợp từ ngữ thì những kết hợp này đều mang tính chất tiết kiệm: chúng có dạng điện tín. Câu điện tín (telegraphic speech) là cách dùng những từ ngữ ngắn gọn và chuẩn xác mà không cần các kí hiệu ngữ pháp như mạo từ, trợ động từ và các liên từ khác. Câu điện tín không giới hạn trong hai từ: “Mommy give ice cream” và “Mommy give Tommy ice cream” cũng là những ví dụ về dạng câu điện tín.

Hình 4 tóm tắt lại những độ tuổi mà trẻ nhỏ đạt được những cột mốc ngôn ngữ kể trên.

Hình 4. MỘT SỐ CỘT MỐC NGÔN NGỮ Ở TRẺ NHỎ. Mặc dù có nhiều biến đổi ở trẻ nhỏ trong việc tiếp nhận ngôn ngữ đầu vào, nhưng bọn trẻ trên khắp thế giới đều theo cùng một con đường học cách nói.

Hình 4. MỘT SỐ CỘT MỐC NGÔN NGỮ Ở TRẺ NHỎ. Mặc dù có nhiều biến đổi ở trẻ nhỏ trong việc tiếp nhận ngôn ngữ đầu vào, nhưng bọn trẻ trên khắp thế giới đều theo cùng một con đường học cách nói.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20121212

Tài liệu tham khảo (của tác giả):

  • Berko Gleason, J. (2003). Unpublished review of J. W. Santrock’s Life-span development, 9th ed. (New York: McGraw-Hill).
  • Bloom, B. (1985). Developing talent in young people. New York: Ballantine.
  • Goldin-Meadow, S. (2009). Using the hands to study how children learn language. In J. Colombo, P. McCardle & L. Freund (Eds.), Infant pathways to language. New York: Psychology Press.
  • Goldin-Meadow, S., & lverson, J.  (2010, in press). Gesturing across the lifespan. In R. M. Lerner (Ed.), Handbook of life-span development. New York: Wiley.
  • Jusczyk, P. W., & Hohne, E. A. (1997). Infants’ memory for spoken words. Science, 277, 1984–1986.
  • Kuhl, P. K. (1993). Infant speech perception: A window on psycholinguistic development. International Journal of Psycholinguistics, 9, 33–56.
  • Kuhl, P. K. (2000). A new view of language acquisition. Proceedings of the National Academy of Science, 97 (22), 11850–11857.
  • Kuhl, P. K. (2007). Is speech learning ‘gated’ by the social brain? Developmental Science, 10, 110–120.
  • Kuhl, P. K. (2009). Linking infant speech perception to language acquisition: Phonetic learning predicts language growth. In J. Colombo P. McCardle, & L. Freund (Eds.), Infant pathways to language. New York: Psychology Press.
  • Menn, L., & Stoel-Gammon, C. (2009). Phonological development: Learning sounds and sound patterns. In J. Berko Gleason & N. B. Ratner (Ed.). The development of language (6th ed.). Boston: Allyn & Bacon.
  • Pan. B. A., & Uccelli, P.  (2009). Semantic development. In J. Berko Gleason & N. Ratner (Eds.),  The development of language (7th ed.). Boston: Allyn & Bacon.
  • Rowe, M. L., & Goldin-Meadow, S. (2009). Differences in early gesture explain SES disparities in child vocabulary size at school entry. Science, 323,  951–953.
  • Sachs, J. (2009). Communication development in infancy. In J. Berko Gleason & N. B. Ratner (Eds.), The development of language (7th ed.). Boston: Allyn & Bacon.
  • Slobin, D. (1972, July). Children and language: They learn the same way around the world. Psychology Today, 71–76.
  • Woodward, A. L., & Markman, E. M. (1998). Early word learning. In D. Kuhn & R. S. Siegler (Eds.), Handbook of child psychology (5th ed., Vol. 2). New York: Wiley.

 

Nguồn:

Santrock, John. “Language Development.” Child Development: An Introduction. 13th edition. New York: McGraw-Hill, 2010.

Child Development


Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s