Art Markman – Trẻ sơ sinh và sự bắt chước

Có hai khuynh hướng dao động qua lại trong các nghiên cứu về sự phát triển của trẻ. Các công trình của Piaget cho rằng trẻ sơ sinh biết rất ít và ít phản ứng với hình ảnh lẫn âm thanh đến từ thế giới, trong khi vẫn phát triển các kĩ năng vận động. Dần dần, trẻ sẽ tiếp thu những ý niệm phức tạp hơn, rồi cuối cùng đến giai đoạn trưởng thành với năng lực tư duy cao.

Đầu thập niên 1980s, có một thách thức đặt ra cho quan điểm trên. Các nghiên cứu về trẻ sơ sinh cho thấy trẻ hiểu thế giới nhiều hơn Piaget dự kiến. Ví dụ, các nghiên cứu của Renee Baillargeon và đồng sự chỉ ra rằng trẻ khoảng 5 tháng tuổi đã có thể nhận biết được các đồ vật bị khuất sau màn che. Các nghiên cứu này đã mở đường cho hàng loạt nghiên cứu khác nhằm khám phá những năng lực của trẻ sơ sinh.

Gần đây xuất hiện trở lại khuynh hướng cũ. Điều trở ngại trong việc nghiên cứu trẻ sơ sinh là bạn không thể hỏi trẻ những câu hỏi cụ thể, vì chúng chỉ mới chớm phát triển các kĩ năng ngôn ngữ. Thay vào đó, bạn phải tìm ra các phương cách gián tiếp khác để khám phá những suy nghĩ của trẻ. Sau đó, bạn phải diễn giải những suy nghĩ đã khiến chúng hành động như vậy. Rất dễ rơi vào cái bẫy diễn giải quá đà, khi bạn (một người trưởng thành) cho rằng đó phải là những suy nghĩ dẫn tới các hành động như vậy. Điều đó có thể khiến bạn đánh giá quá cao sự hiểu biết của trẻ. 

Có thể nhận ra khuynh hướng này trong nghiên cứu về khả năng bắt chước ở trẻ sơ sinh.

Bất kì ai gần gũi với trẻ sơ sinh trong một thời gian dài đều nhận ra khả năng bắt chước của chúng. Tôi nhớ rất rõ hình ảnh em trai trông giữ đứa con khoảng 5 tháng tuổi của tôi. Hai chú cháu đều lè lưỡi trước máy ghi hình. Đây là kết quả sau một giờ đồng hồ em trai tôi lè lưỡi với cháu, để sau đó con trai tôi cũng lè lưỡi bắt chước theo.

Art Markman – Trẻ thơ và sự bắt chước

Việc bắt chước diễn ra như thế nào?

Một lí thuyết nghiêng về ý tưởng “trẻ không biết nhiều” cho rằng hành vi bắt chước dựa vào cách trẻ hình dung những chuyển động. Thuyết này cho rằng con người nhận ra các chuyển động của người khác dựa trên phần não liên quan tới sự vận động. Về bản chất, khi ta nhìn ai đó thực hiện một hành động, hệ vận động của ta liền mô phỏng theo những gì người ấy đang làm. Trẻ sơ sinh hay bắt chước, vì hoạt động này của hệ vận động sửa soạn cho chúng làm theo những gì vừa thấy.

Lí thuyết thứ hai nghiêng về ý tưởng “trẻ biết nhiều” cho rằng trẻ thử đoán xem người mà chúng bắt chước theo sẽ làm gì. Quan điểm này cho rằng trẻ sơ sinh luôn nhận biết được vì sao một người lại hành động như vậy, và chúng bắt chước theo những gì người khác định làm hơn là những gì họ thực sự làm.

Quan điểm cho rằng trẻ sơ sinh đoán biết và bắt chước ý định của người khác được củng cố từ một nghiên cứu vào năm 2002 của Gyorgy Gergely, Harold Bekkering và Ildiko Kiraly đăng trên tập san Nature. Họ để một người lớn ngồi trước cái hộp với bóng đèn phía trên. Đèn được bật sáng bằng cách ấn trực tiếp lên nó. Người này ngồi đối diện một bé sơ sinh khoảng 14 tháng tuổi (bé ngồi trong lòng cha mẹ). Tình huống thứ nhất, người này đặt hai tay trên bàn, cúi xuống dùng trán ấn lên đèn để bật cho đèn sáng. Tình huống thứ hai, người này tay bị quấn trong một tấm vải, cúi xuống dùng trán ấn lên đèn. Sau khi nhìn thấy người này làm mẫu, đứa bé được tự do tiếp xúc với bóng đèn.

Ý tưởng ở đây là nếu trẻ chỉ đơn thuần bắt chước các hành động thì chúng sẽ dùng trán để ấn lên đèn trong cả hai tình huống. Tuy nhiên, nếu trẻ nhận ra được điều người kia muốn, thì dù tay họ bị quấn chặt, trẻ vẫn biết họ chỉ muốn bật đèn, và họ bật đèn bằng trán vì họ không thể dùng tay được. Khớp với ý tưởng cho rằng trẻ có thể đoán biết được ý định của người khác, trẻ sơ sinh dường như thích chạm đầu chúng vào bóng đèn khi người kia đặt tay trên bàn (như thế sẽ cho biết lựa chọn của họ rõ ràng là dùng trán bật đèn) hơn là khi tay họ bị quấn chặt.

Một nghiên cứu khác của Markus Paulus, Sabine Hunnius, Marlies Vissers và Harold Bekkering đăng vào tháng bảy năm 2011 trên tập san Child Development lại cho rằng có thể trẻ không hề nhận ra bất kì một ý định nào của người khác cả.

Các nhà nghiên cứu này lưu ý rằng để dùng trán bật đèn, trẻ phải đặt hai tay lên bàn để giữ cho vững, vì cơ bụng chưa đủ mạnh để giúp chúng vững vàng khi cúi người tới trước. Hành động này tương tự việc người kia đặt hai tay trên bàn trong thí nghiệm trước.

Để biết trẻ có tập trung vào những hành động chúng có thể thực hiện hay không, các nhà nghiên cứu này đã bổ sung thêm ba tình huống vào nghiên cứu nói trên (bên cạnh các tình huống một người đặt hai tay trên bàn và tình huống tay họ bị quấn trong tấm vải).

Trong tình huống đầu, tay người này bị quấn trong tấm vải, nhưng tấm vải có một cái nút rất rõ ràng giữ cho nó không bị tuột, nên người này có thể dễ dàng dùng tay nếu họ muốn. Nếu trẻ nhận ra được ý định của người khác thì chúng sẽ dùng đầu để ấn, vì người kia rõ ràng có ý định dùng đầu để bật đèn. Tuy nhiên, nếu chi tiết quan trọng là đặt tay trên bàn thì trẻ lại không dùng đầu trong trường hợp này. Thật ra, trẻ rất ít dùng đầu để bật đèn khi người kia bị quấn tay trong tấm vải có cái nút giữ cho tấm vải không bị tuột.

Trong tình huống thứ hai, người này giơ hai tay lên cao và cúi người ấn nút bằng trán. Một lần nữa, trẻ nhận ra được ý định dùng trán, vì người kia chọn cách dùng trán hơn là dùng tay. Tuy nhiên, trẻ không thể cúi người về trước với hai tay trên cao, vậy nếu muốn bắt chước, chúng sẽ không thể dùng trán trong trường hợp này (vì chúng sẽ bị ngã). Một lần nữa trẻ rất ít dùng trán bật đèn.

Tình huống thứ ba, người này bắt đầu cuộc thí nghiệm bằng cách chơi đùa với hai trái banh xốp. Sau đó, cô ta cầm mỗi tay một trái banh rồi đặt và giữ chúng trên bàn, sau đó cúi người dùng trán ấn lên nút bật bóng đèn. Trẻ nếu nhận ra ý định của người khác thì sẽ không dùng trán trong trường hợp này, vì chúng thấy tay họ đang giữ hai trái banh nên bất đắc dĩ họ phải dùng trán. Còn nếu trẻ bắt chước theo hành động thì sẽ dùng trán, vì người kia đặt hai tay trên bàn, nếu trẻ cũng đặt tay trên bàn thì chúng có thể cúi về trước. Trong tình huống này, trẻ thường dùng trán để bật đèn.

Gộp tất cả lại, dường như đang xuất hiện trở lại khuynh hướng tập trung vào sức ảnh hưởng của kĩ năng vận động đối với khả năng bắt chước. Từ rất sớm trẻ sơ sinh đã thử bắt chước các hành động mà chúng có thể thực hiện được. Những khám phá này khá phù hợp với nhiều nghiên cứu về cách người trưởng thành suy nghĩ về các hoạt động. Nói chung, ngay cả người trưởng thành cũng nhận thức các hoạt động bằng cách suy nghĩ làm cách nào mình có thể thực hiện được chúng. Chỉ là một bước nhỏ từ việc hiểu đến việc làm theo. Theo hướng này thì trẻ sơ sinh có thể không khác lắm so với người trưởng thành. Có lẽ chúng ta cũng đang mắc lỗi diễn giải quá đà năng lực của người trưởng thành.

K.H. dịch
2013.01.24

Nguồn:
http://www.psychologytoday.com/blog/ulterior-motives/201109/infants-and-imitation

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s