John W. Santrock – Giấc ngủ của em bé

Em bé thường ngủ bao nhiêu? Có những vấn đề đặc biệt nào liên quan tới giấc ngủ của em bé không?

Chu kì ngủ/thức

Khi còn là em bé (0-2 tuổi), giấc ngủ tiêu hao thời gian của ta nhiều hơn lúc trưởng thành. Trẻ mới chào đời ngủ từ 16 tới 17 tiếng đồng hồ mỗi ngày, một số trẻ có thể ngủ nhiều hoặc ít hơn. Thời gian ngủ dao động trong khoảng ít nhất từ 10 tiếng tới nhiều nhất là 21 tiếng đồng hồ, dù thời gian dài nhất của giấc ngủ không phải lúc nào cũng ở khoảng từ 11 giờ sáng tới 7 giờ tối. Tuy giấc ngủ ở trẻ là như nhau, nhưng giấc ngủ trong ngày của chúng không phải lúc nào cũng tuân theo một nhịp độ nhất định. Trẻ có thể thay đổi giấc ngủ dài 7 tới 8 tiếng thành ba hoặc bốn giấc ngủ ngắn chừng vài tiếng đồng hồ. Trẻ khoảng 1 tháng tuổi thường ngủ giấc dài vào ban đêm. Khi được 6 tháng tuổi, trẻ thường có giấc ngủ gần giống với giấc ngủ của người trưởng thành, ngủ vào ban đêm và thức vào ban ngày. 

Giấc ngủ dệt mối chăm lo…
Xoa dịu tâm đau, bản tính thứ hai của tự nhiên. Nguồn nuôi dưỡng chính trong bữa tiệc cuộc đời.
— WILLIAM SHAKESPEARE
Kịch tác gia người Anh, thế kỉ 17

Vấn đề liên quan tới giấc ngủ thường gặp nhất được các phụ huynh ghi nhận là thức giấc nửa đêm. Các cuộc khảo sát cho thấy có khoảng 20-30% trẻ sơ sinh gặp khó khăn trong giấc ngủ ban đêm. Vậy đâu là những yếu tố liên quan tới việc trẻ thức giấc nửa đêm? Vấn đề thức giấc nửa đêm của trẻ được cho là có liên quan tới sự chăm sóc của cha mẹ trong các hoạt động dính líu tới giấc ngủ của trẻ. Một nghiên cứu gần đây về trẻ sơ sinh 9 tháng tuổi cho thấy việc thức giấc nửa đêm có liên quan tới các yếu tố bên trong như trẻ hay quấy khóc vào ban ngày, và các yếu tố bên ngoài như trẻ buồn bã vì bị tách khỏi mẹ, không được bú và không được ngủ chung với mẹ.

Sự khác biệt văn hoá cũng ảnh hưởng tới giấc ngủ của trẻ. Ví dụ, trong nền văn hoá Kipsigis ở Kenya, trẻ sơ sinh được ngủ với mẹ ban đêm và được cho bú nếu chúng muốn. Còn ban ngày, chúng được mẹ địu trên lưng, cùng mẹ làm việc hàng ngày và tham gia các hoạt động xã hội. Vì lí do đó trẻ sơ sinh Kipsigis sau này sẽ không ngủ vào ban đêm nhiều như trẻ sơ sinh Hoa-kì. Suốt tám tháng đầu đời, trẻ Kipsigis ít khi ngủ hơn 3 tiếng liên tục, ngay cả ban đêm cũng vậy. Giấc ngủ này trái ngược với những trẻ sơ sinh Hoa-kì, những trẻ này ngủ hơn 8 tiếng vào ban đêm trong 8 tháng đầu đời.

Giấc ngủ đảo mắt nhanh (Rapid Eye Movement sleep / REM sleep)   

Trong giấc ngủ đảo mắt nhanh, hai mắt chuyển động dưới làn mi nhắm chặt; trong giấc ngủ không đảo mắt nhanh, loại chuyển động này của mắt không xảy ra và giấc ngủ êm đềm hơn. Hình 4.16 cho thấy những thay đổi về tổng thời lượng trong giấc ngủ đảo mắt nhanh và giấc ngủ không đảo mắt nhanh. Cho tới lúc trưởng thành, một người có thể dành khoảng 1/5 thời gian ban đêm cho giấc ngủ đảo mắt nhanh, và giấc ngủ đảo mắt nhanh thường xuất hiện sau giấc ngủ không đảo mắt nhanh chừng 1 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, gần nửa thời gian ngủ của trẻ sơ sinh là ngủ đảo mắt nhanh, và chúng thường bắt đầu chu kì ngủ của mình với giấc ngủ đảo mắt nhanh nhiều hơn giấc ngủ không đảo mắt nhanh. Phần lớn thời gian dành cho giấc ngủ đảo mắt nhanh xảy ra trong thời thơ ấu hơn là bất kì thời điểm nào trong đời. Thời điểm trẻ được 3 tháng tuổi, lượng thời gian dành cho giấc ngủ đảo mắt nhanh ước khoảng 40%, và giấc ngủ đảo mắt nhanh không còn bắt đầu cho chu kì ngủ của chúng nữa.

Tại sao trẻ sơ sinh lại dành rất nhiều thời gian cho giấc ngủ đảo mắt nhanh? Các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra kết luận chắc chắn. Phần lớn thời gian dành cho giấc ngủ đảo mắt nhanh có thể cung cấp cho trẻ sơ sinh sự tự kích thích, vì thời gian thức của chúng ít hơn những đứa trẻ lớn hơn. Giấc ngủ đảo mắt nhanh cũng điều khiển sự phát triển bộ não của trẻ trong thời thơ ấu.

Khi người trưởng thành chợt thức giấc trong giấc ngủ đảo mắt nhanh, họ thường kể lại rằng họ đã nằm mơ – nhưng khi họ thức giấc trong giấc ngủ không đảo mắt nhanh, họ lại ít khi cho rằng mình đã nằm mơ. Vậy thì việc trẻ sơ sinh dành thời gian nhiều hơn cho giấc ngủ đảo mắt nhanh có thể giúp ta kết luận rằng chúng rất thường nằm mơ hay không? Chúng ta không biết trẻ có nằm mơ hay không, bởi vì chúng không có cách nào kể lại cho ta nghe được.

Hình 4.16. Sự thay đổi thời lượng giấc ngủ đảo mắt nhanh và giấc ngủ không đảo mắt nhanh

Hình 4.16
Sự thay đổi thời lượng giấc ngủ đảo mắt nhanh và giấc ngủ không đảo mắt nhanh
Ghi chú:
Waking: lúc thức
REM sleep: giấc ngủ đảo mắt nhanh
Non-REM sleep: giấc ngủ không đảo mắt nhanh
Newborns: trẻ sơ sinh
Infants: em bé (0-2 tuổi)
Children: trẻ em
Adolescents: trẻ ở tuổi thiếu niên
mo (months): tính theo tháng tuổi
yrs (years): tính theo năm tuổi

 

Cho trẻ ngủ chung

Việc sửa soạn giấc ngủ cho trẻ cũng khác nhau tuỳ theo văn hoá. Trẻ ngủ chung với mẹ là điều thường thấy trong rất nhiều nền văn hoá, như Guatemala và Trung-quốc, trong khi ở những nền văn hoá khác, như Hoa-kì hoặc Vương quốc Anh, hầu hết trẻ sơ sinh được ngủ trong nôi, cùng phòng với cha mẹ hoặc trong một phòng khác. Ở một số quốc gia, trẻ sơ sinh được ngủ chung với mẹ cho tới khi cai sữa, sau đó chúng sẽ ngủ cùng anh chị em cho tới khoảng giữa và cuối thời thơ ấu. Bất cứ sự sắp xếp nào đi nữa thì giường trẻ nằm phải được bảo đảm chắc chắn và phải có chấn song bảo vệ.

Ở Hoa-kì, việc cho trẻ ngủ nôi trong một phòng khác phổ biến hơn các hình thức khác. Trong một nghiên cứu về giao lưu văn hoá, các bà mẹ Hoa-kì nói rằng họ để con nằm nôi trong một phòng khác để chúng tăng khả năng tự trợ và tính độc lập. Trái lại, các bà mẹ người Maya vùng nông thôn Guatemala để con họ ngủ bên cạnh tới khi họ sinh một đứa bé khác, lúc đó đứa bé này sẽ ngủ cùng các thành viên khác trong gia đình hoặc ngủ trên một giường khác đặt trong phòng mẹ. Các bà mẹ Maya tin rằng việc cho con ngủ chung sẽ giúp tăng cường tình mẫu tử và họ đã bị sốc khi biết rằng các bà mẹ Hoa-kì để cho con họ ngủ một mình.

Cho trẻ ngủ chung là một vấn đề gây tranh cãi giữa các chuyên gia. Theo một số chuyên gia về trẻ em, việc cho trẻ ngủ chung đem lại một số lợi ích: thúc đẩy việc cho con bú và giúp người mẹ phản ứng nhanh hơn khi trẻ khóc, đồng thời phát hiện ra những nguy cơ ngưng thở tiềm ẩn ở trẻ. Tuy nhiên, vấn đề cho trẻ ngủ chung vẫn còn gây nhiều tranh cãi giữa các chuyên gia, giữa một bên ủng hộ và một bên chống lại. Viện nhi khoa Hoa-kì (The American Academy of Pediatrics) và Task Force on Infant Positioning and SIDS (2000) không khuyến khích việc cho trẻ ngủ chung. Task Force kết luận rằng việc cho trẻ ngủ chung giường sẽ làm tăng nguy cơ người mẹ lăn trúng trẻ trong khi ngủ hoặc làm tăng nguy cơ gây ra hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (Sudden Infant Death Syndrome / SIDS). Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng việc cho trẻ ngủ chung có liên hệ chặt chẽ với chứng đột tử ở trẻ sơ sinh, đặc biệt nếu cha mẹ chúng là những người hút thuốc lá. Việc cho trẻ sơ sinh ngủ chung cũng gây ra nhiều nguy cơ khi cha mẹ chúng là những người hay uống rượu, hút thuốc lá hoặc quá mệt mỏi. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các bà mẹ người Mĩ gốc Phi thường cho trẻ ngủ chung với họ hơn là các bà mẹ da trắng không có gốc Latin.

Đây có phải là một tư thế tốt cho trẻ không? Tại sao?

Đây có phải là một tư thế tốt cho trẻ không? Tại sao?


Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (Sudden infant death syndrome / SIDS)    

Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS) là tình trạng thường xảy ra vào ban đêm, khi trẻ ngưng thở và tử vong đột ngột mà không rõ vì sao. Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ sơ sinh tại Hoa-kì, xấp xỉ 3,000 ca tử vong mỗi năm được cho là do hội chứng này gây ra. Nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh đạt đỉnh điểm lúc trẻ được 2 tới 4 tháng tuổi.

Từ năm 1992, Viện nhi khoa Hoa-kì (The American Academy of Pediatrics) đã khuyến cáo nên cho trẻ sơ sinh nằm ngửa để giảm nguy cơ đột tử ở trẻ, và số trường hợp trẻ sơ sinh ngủ sấp đã giảm đột ngột tại Hoa-kì (American Academy of Pediatrics Task Force  on Infant Positioning and SIDS, 2000). Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy chứng đột tử ở trẻ sơ sinh giảm đáng kể khi trẻ nằm ngửa so với khi trẻ nằm ngủ sấp hoặc nằm nghiêng. Một trong số những lí do chứng tỏ việc ngủ sấp có nguy cơ gây đột tử ở trẻ sơ sinh là nằm ngủ sấp khiến trẻ khó tỉnh giấc và hạn chế khả năng nuốt của chúng.

Ngoài tư thế nằm sấp, các nhà nghiên cứu đã phát hiện thêm các nguy cơ sau đây có thể gây đột tử ở trẻ:

•     Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh ít có khả năng xảy ra nếu trẻ được ngậm núm vú giả trong khi ngủ.

•    Trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ tử vong do chứng đột tử cao gấp 5 tới 10 lần trẻ cân nặng bình thường.

•    Trẻ sơ sinh có anh chị tử vong do chứng đột tử sẽ có nguy cơ tử vong do đột tử cao gấp 2 tới 4 lần.

•    6% trẻ sơ sinh bị ngưng thở trong khi ngủ, tình trạng ngưng thở xảy ra khi khí quản bị tắc nghẽn, thường trong khoảng 10 giây trở lên, khiến trẻ tử vong đột ngột.

•    Trẻ sơ sinh người Mĩ gốc Phi và gốc Eskimo có nguy cơ bị đột tử cao gấp 4 tới 6 lần những trẻ khác.

•     Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh thường xảy ra nhiều hơn trong những nhóm kinh tế xã hội thấp.

•    Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh thường xảy ra với những trẻ sơ sinh bị hít khói thuốc lá thụ động từ người khác.

•    Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh thường xảy ra hơn khi trẻ ngủ trên giường quá mềm xốp.

•    Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh ít xảy ra hơn khi trẻ được ngủ trong phòng có quạt gió. Một nghiên cứu gần đây đã phát hiện thấy nguy cơ đột tử giảm 70% khi trẻ được ngủ trong phòng có quạt gió.

•    Chứng đột tử ở trẻ sơ sinh thường xảy ra hơn ở những trẻ sơ sinh có cuống não hoạt động bất thường liên quan tới chất dẫn truyền thần kinh serotonin.

K.H. trích dịch từ cuốn Child Development – An Introduction (13th ed., Mc Graw Hill, 2011) của John W. Santrock
2013.01.25

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s