John W. Santrock – Giấc ngủ của trẻ trong thời thơ ấu & thời niên thiếu

Các chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ nhỏ nên được ngủ từ 11 tới 13 tiếng mỗi đêm (National Sleep Foundation, 2010). Hầu hết trẻ nhỏ đều ngủ một giấc dài vào ban đêm và một giấc ngắn vào ban ngày.

Sau đây là thí nghiệm trong một nghiên cứu gần đây về những vấn đề liên quan tới giấc ngủ của trẻ. Một cuộc khảo sát trên toàn quốc đã chỉ ra rằng trẻ sẽ thiếu ngủ nếu chúng có các triệu chứng trầm cảm, những vấn đề trường lớp, hoặc sức khoẻ cha mẹ suy giảm, hoặc phải sống trong một gia đình luôn hục hặc với nhau, và phải sống bên cạnh những người hàng xóm không đem lại cảm giác an toàn (Smaldone, Honig, & Byrne, 2007).

Một đánh giá cho thấy hơn 40% trẻ nhỏ mắc phải các vấn đề về giấc ngủ vào một thời điểm nào đó trong đời (Boyle & Cropley, 2004). Những vấn đề về giấc ngủ mà trẻ có thể gặp là chứng ngủ rũ (vô cùng buồn ngủ vào ban ngày), chứng mất ngủ (rất khó ngủ hoặc cảm thấy buồn ngủ), và gặp phải ác mộng (Nevsimalova, 2009; Sadeh, 2008).

Một nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ từ 3 tới 8 tuổi gặp vấn đề về giấc ngủ cũng sẽ dễ gặp phải các vấn đề về phát triển trong thời niên thiếu, như dễ sử dụng thuốc kích thích hoặc dễ bị trầm cảm. 

Giấc ngủ không bị đứt quãng cũng quan trọng không kém thời lượng ngủ của trẻ. Rất khó để đưa trẻ vào giấc ngủ nếu chúng bị lệch giờ ngủ. Một nghiên cứu gần đây cho thấy việc trẻ không chịu đi ngủ vào giờ ngủ có liên quan tới các vấn đề về trông giữ trẻ hoặc do tính hiếu động của chúng (Carvalho Bos & others, 2009). Một nghiên cứu khác cho thấy những giấc ngủ ngắn có liên quan tới sự thừa cân ở trẻ (Nielsen, Danielsen, & Sorensen, 2010; Nixon & others, 2008).

Làm cho trẻ cảm thấy êm dịu trước giờ ngủ sẽ giúp chúng đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Đọc truyện cho trẻ nghe, tắm và đùa giỡn nhẹ nhàng với trẻ, hoặc đặt trẻ ngồi trong lòng cùng nghe nhạc là những hoạt động giúp chúng cảm thấy êm dịu.

Các mối liên hệ giữa kiểu giấc ngủ của trẻ với những khía cạnh phát triển khác là gì?

Các mối liên hệ giữa kiểu giấc ngủ của trẻ với những khía cạnh phát triển khác là gì?

Thời niên thiếu

Gần đây đang nổi lên một sự hứng thú trong việc nghiên cứu các kiểu giấc ngủ thời niên thiếu (Moseley & Gradisar, 2009; Noland & others, 2009). Sự hứng thú này tập trung vào niềm tin cho rằng rất nhiều thiếu niên bị thiếu ngủ, rằng đó là nền tảng sinh lí của những ham muốn thời niên thiếu, đặc biệt là những thiếu niên lớn tuổi thích thức khuya vào ban đêm và ngủ nhiều hơn vào buổi sáng, và rằng những khám phá này liên quan tới sự thấu hiểu vì sao thiếu niên có thể học tập hiệu quả hơn (Hansen & others, 2005). Ví dụ, một cuộc khảo sát trên toàn quốc gần đây cho thấy 8% số học sinh trung học cơ sở và 14% số học sinh trung học phổ thông thường xuyên đi học trễ vì lí do thức quá khuya (National Sleep Foundation, 2006). Cũng trong cuộc khảo sát này, 6% số học sinh trung học cơ sở và 28% số học sinh trung học phổ thông của các trường học ở Hoa-kì bị ngủ gật trong lớp vào bất cứ buổi học nào.

Mary Carskadon (2002, 2004, 2005, 2006) đã thực hiện nhiều nghiên cứu về các kiểu giấc ngủ thời niên thiếu. Cô phát hiện thấy giấc ngủ thời niên thiếu kéo dài trung bình khoảng 9 tiếng 25 phút khi trẻ được ngủ thoải mái. Hầu hết các thiếu niên đều ngủ ít hơn thời lượng đó, đặc biệt có thể kéo dài trong cả tuần lễ. Carskadon cũng phát hiện thấy những thiếu niên lớn thường dễ buồn ngủ hơn những thiếu niên trẻ và cô kết luận đây không phải là do các yếu tố như việc học hoặc áp lực xã hội gây ra. Nghiên cứu của cô cho thấy đồng hồ sinh học của thiếu niên đã làm biến đổi nội tiết tố trong cơ thể chúng khi lớn hơn. Điều này đẩy giờ thức của chúng lùi lại 1 tiếng đồng hồ so với lúc còn trẻ. Carskadon phát hiện ra sự thay đổi này là do sự xuất hiện trễ của một loại hormon mang tên melatonin, tiết ra từ tuyến tùng của bộ não, loại hormon này sửa soạn cho cơ thể đi vào giấc ngủ. Melatonin được tiết ra vào khoảng 9 giờ 30 tối đối với các thiếu niên trẻ hơn và trễ hơn 1 tiếng đối với thiếu niên lớn tuổi hơn, khiến cơn buồn ngủ của chúng bị trì hoãn.

Carskadon quả quyết rằng giờ học bắt đầu sớm có thể gây ra tình trạng lờ đờ và thiếu tập trung trong lớp học cũng như kết quả kém trong các bài kiểm tra. Căn cứ theo nghiên cứu này, các trường học ở Edina, Minnesota, đã quyết định bắt đầu giờ học vào lúc 8 giờ 30 phút sáng thay vì 7 giờ 25 phút như trước đây. Các vấn đề kỉ luật và số lượng học viên bị bệnh hoặc trầm cảm đã giảm hẳn. Thí điểm ở Edina đã cải thiện điều kiện cho học sinh trung học phổ thông, nhưng không cải thiện được cho học sinh trung học cơ sở, và điều này đã củng cố cho ý tưởng của Carskadon, đó là thiếu niên lớn tuổi hơn bị ảnh hưởng nhiều bởi giờ đến trường hơn các thiếu niên nhỏ tuổi.

21

Trong phòng thí nghiệm về giấc ngủ của Mary Carskadon tại trường Brown University, các hoạt động não của một thiếu nữ đang được theo dõi. Carskadon (2005) cho rằng vào buổi sáng, bộ não bị tước đoạt giấc ngủ của trẻ vị thành niên thủ thỉ với chúng rằng “đang là ban đêm…” và cả thế giới bên ngoài thì lại nói “tới giờ đi học rồi đó”.

K.H. trích dịch từ cuốn Child Development – An Introduction (13th ed., Mc Graw Hill, 2011) của John W. Santrock

2013.01.26

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s