John W. Santrock – Trí nhớ của trẻ thời thơ ấu

Trí nhớ của trẻ được cải thiện đáng kể sau 2 tuổi. Đôi khi trí nhớ dài hạn của trẻ lứa tuổi mầm non có vẻ không ổn định, nhưng chúng có thể nhớ được rất nhiều thông tin nếu được gợi nhắc phù hợp.

Một trong những lí do khiến trẻ nhớ ít hơn người trưởng thành là vì chúng không thành thạo bằng người lớn trong nhiều lĩnh vực, nhưng lượng tri thức đang tăng trưởng của chúng là nguồn lực giúp cải thiện khả năng ghi nhớ. Ví dụ, khả năng nhớ lại những gì đã thấy trong chuyến thăm thư viện của một đứa bé phụ thuộc rất nhiều vào những gì chúng biết về thư viện, như vị trí của các loại sách được sắp xếp theo từng chủ đề, làm sao để kiểm tra sách, và nhiều điều khác. Nếu một đứa trẻ gần như không biết gì về thư viện, nó sẽ khó lòng nhớ được những gì đã nhìn thấy trong chuyến thăm đó.

Thuyết dò theo dấu mờ (fuzzy trace theory) gợi ra một hướng khác về cách thức phát triển của trí nhớ suốt thời thơ ấu. Ta biết trẻ nhỏ có khuynh hướng mã hoá, lưu trữ và khôi phục lại các dấu vết một cách nguyên vẹn, trong khi trẻ ở độ tuổi tiểu học bắt đầu dùng cách ghi nhớ đại ý. Việc ghi nhớ đại ý giúp tăng cường khả năng lần dò lại các kí ức. Các nguồn lực giúp cải thiện trí nhớ của trẻ bao gồm sự thay đổi biên độ nhớ và các chiến lược được chúng sử dụng.

Biên độ nhớ (Memory Span)

Không như trí nhớ dài hạn, trí nhớ ngắn hạn có khả năng rất hạn chế. Một trong những cách ước lượng mức giới hạn đó là bài trắc nghiệm về biên độ nhớ. Bạn đơn giản chỉ cần lắng nghe một danh sách – thường là những con số – hiện ra lần lượt với tốc độ nhanh (mỗi giây hiện ra một số chẳng hạn). Sau đó bạn được yêu cầu nhắc lại những con số.

Bài trắc nghiệm về biên độ nhớ đã cho thấy trí nhớ ngắn hạn được cải thiện trong suốt thời thơ ấu. Ví dụ, trong một nghiên cứu, người ta thấy biên độ nhớ tăng lên từ 2 con số đối với trẻ 2 tuổi đến 5 con số đối với trẻ 7 tuổi. Độ tuổi từ 7 tới 12 tuổi, biên độ nhớ chỉ tăng lên chừng 1-2 con số (Dempster, 1981) (xem hình 7.8). Dù sao ta cũng nên nhớ rằng không ai có biên độ nhớ giống ai.

Tại sao biên độ nhớ lại thay đổi theo độ tuổi? Tốc độ xử lí thông tin là rất quan trọng, đặc biệt là tốc độ liên quan tới trí nhớ có thể được nhận dạng. Ví dụ, một nghiên cứu đã kiểm tra tốc độ của trẻ em khi lặp lại các từ được nói ra. Tốc độ lặp lại là một công cụ mạnh mẽ dùng để tiên đoán biên độ nhớ. Quả thực, khi tốc độ lặp lại được kiểm soát, biên độ nhớ của một đứa trẻ 6 tuổi ngang bằng những người vừa trưởng thành. Việc nhắc lại thông tin cũng quan trọng không kém; những trẻ lớn có thể nhắc lại các con số nhiều hơn trẻ nhỏ.

Hình 7.8Sự thay đổi biên độ nhớ theo quá trình phát triển. Trong một nghiên cứu, biên độ nhớ tăng lên khoảng 3 con số đối với trẻ từ 2 tuổi tới 7 tuổi (Dempster, 1981). Tới 12 tuổi, biên độ nhớ chỉ tăng chừng 1-2 con số.

Hình 7.8
Sự thay đổi biên độ nhớ theo quá trình phát triển.
Trong một nghiên cứu, biên độ nhớ tăng lên khoảng 3 con số đối với trẻ từ 2 tuổi tới 7 tuổi (Dempster, 1981). Tới 12 tuổi, biên độ nhớ chỉ tăng chừng 1-2 con số.

Các chiến lược

Sự nhắc lại chỉ là một chiến lược thỉnh thoảng giúp tăng cường trí nhớ, dù chỉ giúp tăng cường trí nhớ ngắn hạn chứ không phải trí nhớ dài hạn. Một số chiến lược sau đây sẽ giúp ích cho việc duy trì khả năng ghi nhớ dài hạn của trẻ.

Tổ chức

Việc tổ chức thông tin trong khi mã hoá rất có lợi cho trí nhớ của trẻ. Hãy thử làm như sau: Nhớ lại tên 12 tháng nhanh nhất có thể. Bạn mất bao lâu để nhớ? Thứ tự nhớ của bạn là gì? Có lẽ bạn sẽ trả lời đại loại như “trong vài giây” và “theo thứ tự niên lịch”. Bây giờ hãy thử nhớ lại tên 12 tháng theo thứ tự trong bảng chữ cái. Bạn có mắc lỗi sắp xếp nào không? Bạn mất bao lâu? Rõ ràng trí nhớ của bạn về các tháng trong năm được tổ chức theo cách riêng.

Tổ chức là một chiến lược mà trẻ lớn (và cả những người trưởng thành) thường sử dụng để ghi nhớ thông tin. Trẻ mẫu giáo thường không sử dụng các chiến lược như tổ chức thông tin; gần đến tuổi trưởng thành thì chúng mới sử dụng chiến lược tổ chức khi cần ghi nhớ điều gì đó (Flavell, Miller, & Miller, 2002).

Liên tưởng  

Một chiến lược quan trọng khác là sự liên tưởng, liên quan tới việc tham gia vào xử lí thông tin ở diện rộng. Liên tưởng rất có lợi cho trí nhớ (Kellogg, 2007). Nghĩ ra các ví dụ là một cách hay để liên tưởng. Chẳng hạn, tự quy chiếu về bản thân là một cách liên tưởng rất hiệu quả. Suy nghĩ về các mối liên hệ cá nhân với thông tin sẽ làm cho thông tin có ý nghĩa hơn và giúp trẻ nhớ được thông tin đó.

Frank và Ernest

Frank và Ernest

Sự liên tưởng cũng thay đổi theo sự phát triển của trẻ (Pressley, 2003; Schneider, 2011). Trẻ ở lứa tuổi thiếu niên có thể dùng cách liên tưởng tự nhiên hơn trẻ tiểu học. Trẻ tiểu học có thể được hướng dẫn áp dụng các chiến lược liên tưởng vào việc học, nhưng chúng không áp dụng các chiến lược này vào những công việc khác như trẻ thiếu niên. Tuy nhiên, liên tưởng bằng từ ngữ có thể là một chiến lược hiệu quả ngay cả với trẻ ở độ tuổi tiểu học.

Ảnh tượng

Tạo ra các hình ảnh trong tâm trí là một chiến lược khác để cải thiện trí nhớ. Tuy vậy, dùng hình ảnh để ghi nhớ các thông tin bằng lời thì có hiệu quả với trẻ lớn hơn trẻ nhỏ (Schneider, 2004, 2011). Trong một cuộc nghiên cứu, người ta đưa ra 20 câu nói cho những trẻ học lớp 6 để chúng ghi nhớ – ví dụ “Con chim giận dữ thét vào mặt con chó trắng” và “Người cảnh sát sơn chiếc lều rạp xiếc trong một ngày đầy gió” (Pressley & đồng nghiệp, 1987). Người ta ngẫu nhiên phân công cho trẻ một nhóm thì theo hoàn cảnh tưởng tượng (trẻ được yêu cầu hình dung một hình ảnh trong tâm trí từ các câu nói) và nhóm kia theo hoàn cảnh quy định (trẻ chỉ được yêu cầu nhớ). Hình 7.9 cho thấy các chỉ dẫn bằng hình ảnh giúp ích nhiều cho trẻ lớn ở lứa tuổi tiểu học (từ lớp 4 tới lớp 6) nhưng hầu như không giúp gì cho trẻ nhỏ hơn (từ lớp 1 tới lớp 3). Tuy vậy, tưởng tượng hình ảnh trong tâm trí sẽ giúp trẻ nhỏ ghi nhớ các hình ảnh (Schneider, 2004, 2011; Schneider & Pressley, 1997).

Hình 7.9Ảnh tượng và kí ức về các thông tin bằng lời. Sự tưởng tượng hình ảnh giúp nâng cao khả năng ghi nhớ các câu nói của trẻ lớn nhiều hơn là với trẻ nhỏ.

Hình 7.9
Ảnh tượng và kí ức về các thông tin bằng lời.
Hình ảnh giúp khả năng ghi nhớ các câu nói của trẻ lớn được cải thiện nhiều hơn so với trẻ nhỏ.

Các chiến lược giáo dục

Chúng ta đã mô tả một số chiến lược quan trọng mà người lớn có thể áp dụng vào khi hướng dẫn cho trẻ cách ghi nhớ thông tin hiệu quả hơn trong thời gian dài. Các chiến lược này bao gồm việc hướng dẫn trẻ tổ chức thông tin, liên tưởng, tưởng tượng ra các hình ảnh về thông tin. Một chiến lược rất hay nữa là khuyến khích trẻ tìm cách thấu hiểu các vấn đề cần nhớ, hơn là phải ghi nhớ chúng. Gần đây người ta còn đề xuất thêm hai chiến lược khác mà người lớn có thể dùng hướng dẫn trẻ cách duy trì trí nhớ:

Lặp đi lặp lại các biến thể của thông tin được truyền tải, kết nối chúng lại sớm nhất có thể và lthường xuyên làm như vậy. Hình thức phát triển trí nhớ này được chuyên gia nghiên cứu Patricia Bauer (2009) đề xuất nhằm cải thiện việc củng cố và tái củng cố thông tin mà trẻ học được. Các biến thể khác nhau của cùng một bài học giúp tăng cường những mối liên hệ khác nhau trong trí nhớ, và mở rộng thêm mạng lưới các mối liên hệ ấy trong kho lưu trữ kí ức; cả hai chiến lược đều mở rộng những lộ trình khôi phục thông tin trong bộ nhớ.

Lồng ghép vào các ngôn ngữ có liên quan tới trí nhớ khi hướng dẫn trẻ. Giáo viên sử dụng nhiều cách biến đổi ngôn ngữ để khuyến khích học sinh ghi nhớ thông tin. Trong một nghiên cứu gần đây, quan sát nhiều lớp học của những giáo viên dạy lớp một, Peter Ornstein và các đồng nghiệp (Ornstein, Coffman, & Grammer, 2007, 2009; Ornstein & đồng nghiệp, 2010) đã phát hiện thấy trong từng khoảng thời gian, giáo viên rất ít khi sử dụng chiến lược đặt câu hỏi gợi ý hoặc câu hỏi tự nhận thức (tư duy về sự tư duy). Trong nghiên cứu này, những học sinh yếu trong lớp được học trong lớp của các giáo viên thuộc loại “giáo viên có trí nhớ tốt”, các giáo viên này thường lồng ghép những thông tin có liên quan tới trí nhớ trong suốt quá trình giảng dạy, và thành tích của các học sinh yếu ấy đã được cải thiện (Ornstein, Coffman, & Grammer, 2007).

Tái dựng trí nhớ và lời tường thuật của trẻ

Trí nhớ của trẻ, giống như người trưởng thành, cũng được cấu thành và tái dựng. Trẻ phác hoạ sơ đồ cho mọi loại thông tin, những sơ đồ này tác động lên cách chúng mã hoá, lưu trữ và khôi phục kí ức. Nếu một giáo viên kể cho các học sinh trong lớp nghe một câu chuyện về hai người đàn ông và hai người phụ nữ trong một tai nạn tàu hỏa ở Pháp, thì các học sinh sẽ không ghi nhớ từng chi tiết của câu chuyện, và chúng bắt đầu tái dựng câu chuyện theo trí nhớ của mình. Một học sinh có thể tái dựng câu chuyện bằng cách cho rằng các nhân vật đã qua đời trong một tai nạn máy bay, một học sinh khác có thể cho rằng có ba người đàn ông và ba người phụ nữ trong câu chuyện, và một học sinh khác có thể cho rằng vụ tai nạn đã xảy ra ở Đức, và cứ như vậy.

1

Việc tái dựng và biến hoá câu chuyện rất dễ nhận ra trong lời khai mâu thuẫn của chứng nhân tại các phiên toà. Một vấn đề đặc biệt đáng lưu tâm là chuyện nhạy cảm đối với những câu gợi ý và làm thế nào điều này lại làm thay đổi trí nhớ (Bruck, Ceci, & Principe, 2006; Paz-Alonso & đồng nghiệp, 2009; Pipe & Salmon, 2009). Hãy xem xét một nghiên cứu về những du khách tham quan Disneyland (Pickrell & Loftus,  2001). Họ được chia làm bốn nhóm, các nhóm đọc những bản quảng cáo và được yêu cầu trả lời bản câu hỏi về chuyến tham quan. Một nhóm nhìn thấy bản quảng cáo không đề cập đến một nhân vật hoạt hình nào cả; nhóm thứ hai đọc một bản quảng cáo tương tự và thấy xuất hiện nhân vật Bugs Bunny cao 4 feet; nhóm thứ ba đọc một bản quảng cáo giả dạng Disneyland trong đó có xuất hiện nhân vật Bugs Bunny; và nhóm thứ tư cũng đọc bản quảng cáo giả kia cùng với nhân vật Bugs bằng bìa cứng. Những người tham gia cuộc nghiên cứu được hỏi rằng họ đã từng gặp Bugs Bunny ở Disneyland chưa. Dưới 10% số người trong hai nhóm đầu cho rằng họ đã gặp, nhưng xấp xỉ tới 30-40% số người trong nhóm ba và bốn nhớ lại rằng họ đã gặp Bugs. Mọi người bị thuyết phục rằng họ đã gặp Bugs Bunny tại Disneyland, trong khi đó Bugs là của Warner Bros, một nhân vật không bao giờ xuất hiện ở công viên Disneyland được.

Những kết luận sau về lời tường thuật của trẻ chỉ ra rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự chính xác trong trí nhớ của trẻ nhỏ (Bruck & Ceci, 1999):

Có nhiều khác biệt về lứa tuổi khi xét đến độ nhạy cảm đối với câu gợi ý. Trẻ mẫu giáo được xếp vào nhóm có mức nhạy cảm cao nhất so với trẻ lớn và người trưởng thành (Ceci, Papierno, & Kulkofsky, 2007). Ví dụ, trẻ mẫu giáo thường dễ tin vào các thông tin sai lệch hoặc không chính xác được đưa ra sau một sự kiện nào đó (Ghetti & Alexander, 2004). Mặc dù có khác biệt về độ tuổi, nhưng người ta vẫn lưu tâm đến phản ứng của trẻ lớn khi chúng trở thành đối tượng cho những buổi tra hỏi bằng những câu gợi nhắc kí ức (Poole & Lindsay, 1996).

• Có những khác biệt cá nhân trong sự nhạy cảm. Một số trẻ mẫu giáo có khả năng kháng cự tốt với những gợi ý của người nói, trong khi một số khác lại nghe theo bất kì một gợi ý thoáng qua nào. Một nghiên cứu gần đây phát hiện rằng khả năng tường thuật tốt của trẻ mẫu giáo có liên quan đến sức kháng cự trước các gợi ý (Kulkofsky & Klemfuss, 2008).

Các phương pháp tra hỏi có thể gây biến dạng đáng kể lời tường trình của trẻ về các sự kiện nổi bật. Trẻ dễ bị tác động bởi các chi tiết ngoài lề, không những thế mà còn bởi các vấn đề trung tâm của một sự kiện (Bruck, Ceci, & Hembrooke, 1998). Khi trẻ nhớ lại được chính xác thông tin về sự kiện nào đó, người hỏi thường dùng giọng trung tính, hạn chế đặt ra các câu hỏi lệch lạc, và trẻ sẽ không bị đẩy đến tường trình sai lệch (Bruck & Ceci, 1999).

Tóm lại, những lời tường thuật của trẻ chính xác hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như số lượng, cường độ và loại kĩ thuật gợi ý mà trẻ từng gặp (Melinder & others, 2010).

K.H. trích dịch
từ Child Development – An Introduction (13th ed., McGraw Hill, 2011) của John W. Santrock

2013.02.04

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s