J. E. Cirlot – Xăm

Xăm trổ và tô điểm có thể coi như thuộc về cùng một nhóm biểu tượng, cả hai đều là những biểu hiện của hoạt tính vũ trụ. Nhưng khi hình xăm được xăm lên cơ thể thì những ý nghĩa quan trọng khác đổ dồn về nó – sự cúng tế, bí thuật và ma thuật. E. Gobert, trong Notes sur les tatouages des indigènes Tunisiens, cho rằng việc xăm mình gắn liền với câu cách ngôn Ả-rập ‘máu đổ, nguy hiểm qua đi’. Vì sự cúng tế có năng lực tích trữ những nguồn năng lượng tiềm ẩn để có thể dùng đến sau này, nên mỗi hành động cúng tế có xu hướng đảo ngược trạng huống trước đó. Có một chủ định thần bí nằm ở căn nguyên dấu vết hoặc dấu hiệu của căn cước: một người chuyên tâm tìm cách bày tỏ lòng thành tín của mình với điều đã được biểu thị bởi dấu vết đó. (Dấu hiệu mà những người yêu nhau khắc trên thân cây, những kí hiệu và vết xăm hình tim trên da thịt, là những minh hoạ rõ rệt cho điều này). Ở cách hiểu sau cùng, sự thành tín bị đảo ngược: dấu vết được trông đợi sẽ ‘đáp lại’ hành động cúng tế và phụng sự lên phần thân thể kẻ đã để lại dấu vết ấy trên mình; và hình xăm lúc này có đặc tính như một tấm bùa bảo vệ. Ngoài ba ý nghĩa trên, các nhà dân tộc học còn lưu ý thêm hai ý nghĩa khác: hình xăm có thể được dùng như một dấu hiệu để xác định giới tính, tộc người và địa vị xã hội (theo Cultural Anthropology của Robert Lowie), trong trường hợp nó đơn giản là một cách châm chích của phái biểu tượng thần bí; và, hình xăm như một sự tô điểm riêng tư. Ý sau dường như đã bị rút gọn quá nhiều, nhưng chúng ta không thể thâm nhập vấn đề này tại đây. Trong trường hợp đặc biệt, xăm mình là một ‘nghi thức gia nhập’ hoặc kết nạp ám chỉ những điểm ngoặt trong quãng đời và diễn trình phát triển nhân cách một cá nhân. Cola chỉ ra rằng một số trong hầu hết những lăng mộ cổ thời tiền sử, đặc biệt ở Ai-cập, cho thấy nghệ thuật xăm mình đã được thực hiện từ những thời xa xưa, biểu lộ bằng ba đường vạch ở bụng dưới vị nữ tư tế của nữ thần Hathor. Ông cũng liệt kê những kĩ thuật chủ yếu của xăm mình: rạch, khâu, gây thương tích bằng cách cắt hoặc đốt, và xăm giả hay vẽ lên mặt hoặc thân thể (trong trường hợp những hoạ tiết giống nhau dù hiệu quả chỉ là tạm thời). Trong những tộc người nguyên thuỷ, những dạng hình xăm chủ yếu gồm: sọc vằn, lấm chấm, sự kết hợp cả hai loại, hoặc nhiều cách thể hiện thông qua cả hai loại, xâu chuỗi, nút thắt hình hoa hồng, hình thập tự, hình ngôi sao, hình tam giác, hình thoi, hình tròn, sự kết hợp của hai hoặc nhiều hơn các hoạ tiết trên, và đồng thời các hoạ tiết hình người được cách điệu hoàn toàn hoặc từng phần (chỉ với chân tay), v.v.. Cola còn lưu ý thêm rằng hình xăm từng được sử dụng trong ma thuật phỏng tạo. Ví dụ, hình xăm bọ cạp được cho là có quyền năng ngăn ngừa những cú chích thực sự của loài bọ cạp; và hình ảnh bò đực là một sự bảo đảm con đàn cháu đống (12).

K.H. dịch
2013.03.18

Nguyên chú của tác giả:
(12) COLA, J. Tatuajes y amuletos marroquíes. Madrid, 1949.

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Tattooing” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s