William Egginton – Về Borges, vật lí hạt và nghịch lí của cái được tri giác

William Egginton

Về Borges, vật lí hạt và nghịch lí của cái được tri giác

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Năm 1927, một nhà vật lí trẻ người Đức công bố bài viết làm đảo lộn thế giới khoa học. Trước thời điểm đó, vật lí cổ điển đã cho rằng khi biết được vị trí và vận tốc hạt, thì có thể tính toán được quĩ đạo của nó trong tương lai. Werner Heisenberg chứng tỏ được hoàn cảnh đó thật sự không thể xảy ra: chúng ta không thể biết chính xác cả vị trí lẫn vận tốc hạt, và chúng ta biết cái này chính xác bao nhiêu thì lại mù mờ về cái kia bấy nhiêu. Năm năm sau, ông được trao giải Nobel Vật lí cho việc đặt ra nền tảng của vật lí lượng tử.

Khám phá này có tất cả những dấu hiệu của một cú đột phá khoa học; do đó nó có thể làm người ta ngạc nhiên khi biết rằng nguyên lí bất định đó đã được một người đồng thời với Heisenberg trực giác ra, đó là nhà thơ và nhà văn người Argentina Jorge Luis Borges, và nó đã được các triết gia tiên đoán ra từ hàng bao thế kỉ trước, thậm chí hàng thiên niên kỉ trước.

Dù Borges không bình luận gì về cuộc cách mạng trong lĩnh vực vật lí học vốn đang diễn ra trong quãng đời ông, nhưng ông quan tâm đến các nghịch lí tới mức ám ảnh, đặc biệt là những nghịch lí của triết gia Hi-lạp Zenon. Như lời ông viết trong một bài luận: “Ta hãy thừa nhận điều mà tất thảy các nhà duy tâm đều thừa nhận: đặc tính ảo giác của cõi nhân gian này. Ta hãy làm điều mà không nhà duy tâm nào từng làm: ta hãy tìm kiếm những cái phi thực, những cái xác nhận đặc tính đó. Ta sẽ tìm ra chúng, tôi tin thế, trong những bội luận của Kant và trong biện chứng của Zenon.” 

Những bội luận (antinomy) của Kant là các nghịch lí vốn được sản sinh ra không cách chi tránh khỏi khi lí tính của ta vượt quá các ranh giới của những cái ta có thể biết được thông qua các giác quan và khi lí tính hình thành những lời tuyên bố về cõi sống xét như tồn tại tự thân nó, độc lập với cách nó hiện ra đối với chúng ta. Bội luận thứ nhì của Kant, xử lí vấn đề khả phân của không gian, chứng tỏ rằng chúng ta hoàn toàn có thể suy luận ra cả hai chuyện: các thành tố cơ bản của tự nhiên là những bản thể đơn giản, bất khả phân; và chuyện còn lại là tất thảy các bản thể đều có thể chia tách tới vô tận, mặc dù sự thật là mỗi luận điểm rõ ràng mâu thuẫn với cái còn lại.

Mặt khác, Kant cho rằng lí tính bảo ta biết rằng khi nhắm đến một bản thể thì sau rốt ta sẽ tới được một đơn vị vốn không thể chia tách thêm được nữa, bởi nếu ta không tới được đó, thì sẽ không có thứ gì để mà từ đó tạo thành cõi sống này và mọi thứ khác. Mặt khác, lí tính của ta cũng bảo ta rằng một bản thể đơn giản như vậy, nếu tìm ra được, nó chiếm lĩnh một vùng không gian; và nếu nó chiếm lĩnh không gian, thì không gian đó phải chia tách được.

Kant được Zenon gợi nguồn cảm hứng trong việc hình thành các bội luận. Các nghịch lí của Zenon có ý chứng minh sự bất khả của vận động. Để đi từ điểm A sang B, người lữ khách đầu tiên phải băng qua điểm C nằm giữa chúng. Dù vậy trước đó, họ phải băng qua điểm D nằm giữa A và C, và cứ thế đến vô tận, đến mức độ người lữ khách thực tế không bao giờ di chuyển.

Trong cả nghịch lí của Zenon lẫn bội luận của Kant, hành động quan sát sinh ra một mâu thuẫn rành rành ngay trong chính cái tri thức nó tạo ra. Hoá ra đó cũng chính là cái mâu thuẫn rành rành mà ta thấy có gây tác động trong nguyên lí bất định. Dù bất kì quan sát nào hay toàn bộ các quan sát đều chứa đựng nghịch lí cố hữu này, những nó chỉ hiện ra khi được đẩy đến mức cực độ của logic hay của thế giới vật chất.

Trong một truyện ngắn được công bố trong tập truyện “Ficcions” năm 1941, Borges đã tạo nên chính cái viễn cảnh cực độ như vậy. Nhân vật trong truyện đó là Funes, có trí nhớ hoàn hảo đến mức anh ta tri giác mỗi khoảnh khắc thời gian như từng khoảnh khắc hoàn toàn khác biệt, không liên hệ gì đến những khoảnh khắc trước hoặc sau. Hệ quả là anh không có khả năng bỏ qua những khác biệt nhỏ nhặt để có thể kết nối các cảm giác của một khoảng thời gian với những khoảng kế tiếp. Anh gặp phiền muộn ở cách thức khái quát hoá của ngôn ngữ, ở chỗ làm thế nào mà ta sử dụng được cùng một từ ngữ, từ “chó” chẳng hạn, để đề cập đến một sinh vật bốn chân khi quay về một hướng lúc 3:14 và khi quay sang hướng khác lúc 3:15.

Mặc dù Borges có lẽ có nguồn cảm hứng từ các ví dụ về trí nhớ phi thường, nhưng khi được đẩy đến những cực độ bất khả như vậy thì ví dụ về Funes đã vén mở ra nghịch lí nằm ở trọng tâm của bất kì và của toàn bộ tri thức trong cõi sống này: cụ thể là không thể có một thứ được xem là quan sát thuần tuý, một loại quan sát thoát được những thay đổi do thời gian áp đặt.

Điều mà Funes chứng tỏ, ở mức cơ bản nhất, là bất kì quan sát nào cũng cần sự tổng hợp các cảm giác qua thời gian. Hơn nữa, quá trình mà nhờ đó sự tổng hợp diễn ra, những điểm trung gian mà quá trình xử lí của sự tổng hợp đi qua, và thực thể làm chuyện tổng hợp đó, tất thảy đều là những khía cạnh thiết yếu để sản sinh ra tri thức. Tóm lại, đây là phần đầu tiên trong opus magnum [tác phẩm lớn] của Kant năm 1781, “Phê phán lí tính thuần tuý”.

Kant bị thách thức – và tỉnh thức khỏi giấc mộng giáo điều, như ông cho biết – từ khẳng định của nhà duy nghiệm David Hume cho rằng chúng ta không bao giờ có thể suy ra được bất kì tri thức tất định nào, chẳng hạn như, về luật nhân quả, bởi ta chịu giới hạn trong việc biết những điều giác quan ta có thể tiếp thu được về cõi sống này ở bất kì thời điểm cho trước nào. Chúng ta có thể biết hiện giờ mặt trời đang mọc, theo luận cứ nổi tiếng của Hume, nhưng không thể suy ra chắc chắn được ngày mai nó cũng sẽ mọc.

Thức nhận của Kant ở chỗ, để cho tri thức thu nhận từ các giác quan ở bất kì khoảng thời gian cho trước nào có thể mang ý nghĩa về bất kì điều gì, trí óc của ta phải sẵn sàng phân biệt nó và kết hợp nguồn thông tin ta có được ở khoảng thời gian trước và sau đó. Do đó không tồn tại một thứ được xem là cảm giác thuần tuý sau một quãng thời gian nào đó – không có khoảnh khắc tuyệt đối, đóng băng mà ở đó ta biết mặt trời hiện đang mọc mà không cần suy luận bất kì điều gì từ nó – bởi một khoảnh khắc thuần tuý như vậy khi không có khoảng trước hoặc sau thì sẽ chẳng là gì hết. Funes trong truyện Borges hẳn là có khái niệm về “chó” ngay từ ban đầu chỉ khi nó bao hàm một sinh vật bốn chân vốn sẽ thay đổi vị trí qua thời gian – đây chính xác là cái mà Borges kết luận khi ông chỉ ra rằng Funes thật sự không thể tư duy được chút nào hết, bởi tư duy nghĩa là “quên đi những khác biệt, khái quát hoá, tạo ra những điều trừu tượng”. Ta không chỉ hoàn toàn có thể suy luận từ những cảm giác nhất thời của mình đối với những sự kiện diễn ra trước đó và sau đó, mà thực tế ta lúc nào cũng làm như vậy.

Đối với người quan sát khi tri giác một thực thể, họ hẳn là có thể phân biệt nó với chuỗi cảm giác diễn ra trước và theo sau nó; tuy thế, nhằm nắm bắt được những cảm giác đó như là cái nối kết với cùng một thực thể, thì cũng người quan sát đó phải có khả năng xem xét chúng như là một thể thống nhất mặc dù có những khác biệt được hàm ý trong chuỗi cảm giác ấy.

Sự thật không thể tránh khỏi về chuyện quan sát này làm cơ sở cho các nghịch lí về vận động, cho các bội luận, và cho nguyên lí bất định. Bởi vì trong tất cả các trường hợp, sự vận động, khoảng cách hoặc vận tốc tối thiểu nào đó – cụ thể là sự thay đổi qua thời gian – là điều cần thiết để diễn ra bất kì sự quan sát nào, ngay lúc người quan sát ấn định một điểm hay một hạt bất biến là đối tượng cho sự thay đổi đó.

Ở mức độ cảm giác bình thường về thể chất, không ai chú ý đến chuyện các yếu tố cần thiết cho sự quan sát loại bỏ lẫn nhau. Chỉ ở mức độ ở phạm vi hạt, được tập trung cao độ của vật lí lượng tử hoặc trong những tình huống cực độ của những câu chuyện triết học thì đặc tính loại trừ lẫn nhau này mới hiện ra.

Borges tiếp tục đoạn văn mà ở đầu bài viết có trích ra: “chúng ta đã mơ thấy cõi sống này. Chúng ta đã mơ thấy nó vững chắc, huyền bí, hữu hình, phổ biến trong không gian và trường tồn theo thời gian; nhưng ta đã để lại trong khối kiến trúc của nó những kẽ hở mỏng mảnh và vĩnh hằng của cái phi lí tính, để ta biết được cõi sống đó chỉ là thứ hư huyễn mà thôi.”

Rất có thể nguyên lí bất định, cùng với những khía cạnh gây tò mò khác của lí thuyết lượng tử, là một kẽ hở khác như thế của cái phi lí tính, một thứ gợi nhắc không phải chuyện cõi sống ta biết là thứ hư huyễn, mà để gợi nhắc rằng nó luôn là cõi sống như ta quan sát được.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130509

Nguồn:

Egginton, William. “On Borges, Particles and the Paradox of the Perceived.” The New York Times, 4/2013: http://opinionator.blogs.nytimes.com/2013/04/28/borges-and-the-paradox-of-the-seenk/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s