Michael F. Hammer – Những hỗn hợp nhân chủng

 

Michael F. Hammer

Những hỗn hợp nhân chủng

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Các phân tích DNA phát hiện rằng chủng Homo sapiens sơ kì đã giao phối với các chủng người khác và còn gợi ý rằng việc lai giống như vậy đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nên loài người chúng ta.

Thật khó hình dung ngày nay, ngoại trừ đối với phần lớn lịch sử tiến hoá loài người, có nhiều chủng giống người cùng san sẻ trái đất này. Khoảng 40,000 năm trước, Homo sapiens đã sống cùng với một số họ hàng khác với mình, bao gồm chủng Neandertal và chủng Homo floresiensis nhỏ bé. Trong nhiều thập niên qua, các nhà khoa học đã tranh cãi về việc chính xác làm thế nào mà Homo sapiens là cội nguồn và trở thành loài người chung cuộc hiện tại. Phần lớn nhờ vào các nghiên cứu di truyền hồi thập niên 1980 mà xuất hiện một lí thuyết với vai trò tiên phong rõ ràng. Theo quan điểm này, loài người hiện đại xét theo giải phẫu học phát sinh từ châu Phi và lan toả ra khắp phần còn lại của Cựu Thế giới (Old World), hoàn toàn thay thế các nhóm người tối cổ hiện hữu vào thời điểm đó. Dạng người mới này chính xác làm thế nào trở thành chủng người chung cuộc ngày nay trên trái đất vẫn còn là điều bí ẩn. Có lẽ những kẻ xâm lược ngày ấy đã loại bỏ hết những kẻ bản địa họ tiếp cận được, hoặc lấn át những kẻ lạ mặt ấy ngay trên chính đất đai của họ, hoặc chỉ đơn giản là sinh sản ở mức cao hơn. Dẫu cho nó xảy ra thế nào, thì những kẻ mới đến dường như đã loại trừ hết mà không giao phối với những đối thủ của mình.

Mô hình Người Phi Thay thế (African Replacement) này, như người ta thường gọi, vô cùng quan trọng khi giữ vai trò làm hệ hình cho nguồn gốc con người hiện đại trong 25 năm qua. Tuy thế càng lúc càng có chứng cứ chỉ ra sai lầm của hệ hình này. Những phát triển gần đây trong công nghệ sắp xếp chuỗi DNA đã cho phép các nhà nghiên cứu gia tăng đáng kể bộ sưu tập dữ liệu từ người sống cũng như từ các nhóm người tuyệt chủng. Các phân tích dựa trên nguồn dữ liệu này cùng với những công cụ tính toán ngày càng phức tạp đã chỉ ra rằng câu chuyện lịch sử loài người chúng ta không đơn giản như nhiều chuyên gia vẫn tưởng. Có vẻ con người ngày nay mang chuỗi DNA thừa hưởng từ chủng Neandertal và các chủng người tối cổ khác, điều này hé lộ cho biết rằng chủng Homo sapiens sơ kì đã giao phối với các chủng khác này và sinh ra con cái khoẻ mạnh vốn có thể truyền cái di sản gene này cho hàng ngàn thế hệ sau này. Ngoài việc lật đổ sự hiểu biết thông thường về nguồn gốc của chúng ta, thì các khám phá này còn làm cho những nghiên cứu mới đi theo hướng tìm hiểu việc lai giống này diễn ra mạnh mẽ ra sao, nó xảy ra ở những khu vực địa lí nào và tìm hiểu xem liệu con người hiện đại có biểu lộ ra những lợi thế do nhận được các đóng góp gene từ những họ hàng tiền sử của ta hay không. 

Những nguồn gốc bí ẩn

Để hoàn toàn nhận thức rõ tác động ảnh hưởng của các phát hiện gene gần đây đối với sự hiểu biết của giới khoa học về tiến hoá loài người, ta phải nhìn ngược về thập niên 1980, khi cuộc tranh luận về sự xuất hiện của Homo sapiens đang nóng dần lên. Bằng cách nghiên cứu dữ liệu hoá thạch, các nhà cổ nhân học (paleoanthropologist) đồng tình rằng có một thành viên cổ xưa hơn thuộc giống người chúng ta, Homo erectus, xuất hiện tại châu Phi khoảng hai triệu năm trước và bắt đầu lan toả ra khắp châu lục này rồi ngay sau đó nhanh chóng sang các vùng khác thuộc Cựu thế giới. Tuy vậy họ lại bất đồng ý kiến về chuyện làm thế nào mà tổ tiên của Homo sapiens chuyển tiếp được từ hình thức tối cổ sang hình thức hiện đại của loài người chúng ta, với hộp sọ dạng tròn và bộ xương phát triển mỏng manh – những đặc điểm xuất hiện trong di tích hoá thạch vào khoảng 195,000 năm trước.

Những người ủng hộ cái gọi là mô hình Tiến hoá Đa khu vực (Multiregional Evolution model), được phát triển bởi Milford H. Wolpoff thuộc trường University of Michigan và các đồng nghiệp của ông, thì biện luận rằng việc chuyển hoá diễn ra đều đặn giữa những nhóm người tối cổ ở bất kì nơi sinh sống nào của họ ở khắp vùng châu Phi, Á-Âu và châu Đại dương bởi vì có sự kết hợp của việc di cư và giao phối, từ đó cho phép các đặc điểm hiện đại có lợi lan toả trong số toàn bộ những nhóm người này. Ở bối cảnh này, mặc dù toàn bộ loài người hiện đại cùng san sẻ những đặc điểm thể chất đặc thù khi kết thúc thời kì chuyển tiếp này, nhưng một số đặc điểm riêng biệt theo vùng vốn thừa hưởng từ các tổ tiên xưa cổ vẫn tiếp tục tồn tại, có lẽ vì những nét tiêu biểu này giúp cho các nhóm người đó thích nghi được với môi trường địa phương của mình. Một biến thể khác của mô hình Tiến hoá Đa khu vực được đề xuất bởi Fred Smith, hiện đang công tác tại trường Illinois State University, và được gọi là mô hình Đồng hoá (Assimilation model), mô hình này công nhận các nhóm người đến từ châu Phi đóng góp các đặc điểm hiện đại nhiều hơn.

Ngược lại, những người cổ vũ cho mô hình Thay thế (còn gọi là mô hình Thoát khỏi châu Phi – Out of Africa, một tên gọi trong số những tên gọi khác), trong đó có Christopher Stringer thuộc Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại Luân-đôn, đã khẳng định rằng loài người hiện đại xét theo giải phẫu học xuất hiện như là chủng loài riêng biệt tại một nơi duy nhất – khu vực châu Phi hạ Sahara – và tiếp tục phát triển thay thế toàn bộ những giống người tối cổ khác ở mọi nơi mà không lai giống với nhau. Một phiên bản ít nghiêm ngặt hơn cho lí thuyết này – mô hình Lai giống (Hybridization model) được đề xuất bởi Günter Bräuer thuộc trường Universität Hamburg tại Đức – tính đến việc đôi khi xảy ra sự sinh sản các hỗn hợp lai giữa loài người hiện đại với các nhóm người tối cổ mà họ gặp phải khi tiến vào vùng đất mới.

Chỉ dựa trên bằng chứng hoá thạch để tiếp tục nghiên cứu, cuộc tranh luận dường như lâm vào tình trạng bế tắc. Ngành di truyền học đã thay đổi tình huống đó. Với việc tiếp cận được công nghệ DNA, các nhà khoa học đã phát triển nhiều phương pháp dùng để ráp lại bức tranh quá khứ bằng cách phân tích biến dị di truyền ở loài người đương đại và dùng nó để tái dựng cây tiến hoá cho các loại gene riêng lẻ. Bằng cách nghiên cứu cây gene, các nhà nghiên cứu có thể suy ra thời điểm và địa điểm tồn tại cuối cùng của tổ tiên chung của tất thảy mọi biến dị thuộc một gene cho trước, do đó mang lại những thấu hiểu về nhóm người cội nguồn liên quan đến chuỗi tổ tiên đó.

Trong một nghiên cứu bước ngoặt được công bố vào năm 1987, Allan C. Wilson thuộc trường University of California, Berkeley, và đồng nghiệp của ông đã tường trình lại rằng cây tiến hoá cho chuỗi DNA được tìm thấy trong ti thể (mitochondria) – những thành tố sản sinh năng lượng của tế bào – đã truy về một người đàn bà tổ tiên của ta sống trong một nhóm người châu Phi khoảng 200,000 ngàn năm trước. (DNA ti thể hay mtDNA được truyền từ mẹ sang con và được xem như là một gene đơn lẻ trong việc nghiên cứu tổ tông.) Những nghiên cứu này khớp với những mong đợi của mô hình Thay thế, cũng như khớp với các nghiên cứu sau này về những bộ phận nhỏ thuộc DNA hạt nhân, bao gồm nhiễm sắc thể Y thừa hưởng từ người bố.

Một thập niên sau xuất hiện thêm sự ủng hộ về mặt di truyền học cho mô hình Thay thế, khi Svante Pääbo, hiện đang công tác tại Viện Max Plank về Nhân chủng học Tiến hoá tại Leipzig, Đức, cùng đồng nghiệp của mình đã trích xuất và phân tích thành công một mẩu mtDNA (DNA ti thể) từ xương của chủng người Neandertal. Nghiên cứu này phát hiện chuỗi mtDNA của Neandertal khác với của loài người đương đại và không có dấu hiệu gì về việc giao phối giữa hai chủng người này – kết quả đó cũng được xác nhận từ nghiên cứu sau này về mtDNA lấy từ các mẫu Neandertal bổ sung.

Đối với nhiều nhà nghiên cứu, những phát hiện mtDNA cổ này đã khai tử hai mô hình Tiến hoá Đa khu vực và Đồng hoá. Tuy nhiên, những người khác vẫn khẳng định rằng việc lí giải kia vấp phải một vấn đề nền tảng. Việc thiếu vắng dấu hiệu giao phối trong bất kì vùng độc lập đơn lẻ nào của bộ gene, chẳng hạn như trong mtDNA, không nhất định có nghĩa là những vùng khác của bộ gene cũng thiếu những dấu hiệu của việc giao phối. Hơn nữa, bất kì khu vực đặc thù nào của bộ gene được kiểm tra cũng có thể thiếu đi dấu hiện giao phối cho dù việc giao phối có xảy ra đi nữa, bởi vì DNA từ các chủng loài khác (DNA được du nhập – introgressed DNA) vốn không cung cấp cho Homo sapiens bất kì lợi thế tồn tại nào và nó có xu hướng tình cờ biến mất khỏi vốn gene (gene pool) qua thời gian.

Do thế cách tốt nhất để tiếp cận câu hỏi liệu Homo sapiens có giao phối với các chủng người tối cổ khác không, chẳng hạn như Neandertal, là đối chiếu nhiều khu vực trên bộ gene hoặc lí tưởng nhất là đối chiếu tất cả các bộ gene của họ. Song ngay cả trước khi có dữ liệu như thế đối với loài người tối cổ, thì một số nghiên cứu di truyền ban đầu về DNA loài người hiện đại đã đi ngược lại khuynh hướng đa số và tìm được dữ liệu trái ngược với mô hình Thay thế. Một ví dụ rõ ràng phát xuất từ nghiên cứu năm 2005 của Daniel Garrigan, khi ấy đang là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở phòng thí nghiệm của tôi. Garrigan nhìn vào các chuỗi DNA đến từ một khu vực phi chức năng của nhiễm sắc thể X được biết với tên RRM2P4. Những phân tích về cây di truyền của RRM2P4 được tái dựng đã chỉ ra được nguồn gốc của chuỗi, không nằm ở châu Phi nhưng lại nằm ở vùng Đông Á khoảng 1.5 triệu năm trước, điều này ngụ ý rằng DNA này phát xuất từ một chủng người tối cổ Á châu vốn trộn lẫn với Homo sapiens bắt nguồn từ châu Phi. Tương tự vậy, cũng trong năm đó phòng thí nghiệm của chúng tôi còn phát hiện ra biến dị trong một vùng phi chức năng khác thuộc nhiễm sắc thể X, Xp21.1, với cây di truyền cho thấy có hai nhánh rẽ ra mà trước đó chúng có thể đã tiến hoá hoàn toàn tách biệt nhau trong suốt khoảng một triệu năm. Một trong những nhánh này có lẽ được chủng người Phi châu tối cổ đưa vào nhóm người hiện đại xét về mặt giải phẫu học. Chứng cứ RRM2P4 và Xp21.1 theo đó đã gợi ý rằng loài người hiện đại xét về mặt giải phẫu học đã giao phối với các chủng người tối cổ lần lượt đến từ châu Á và châu Phi, thay vì chỉ đơn giản thay thế họ mà không có quá trình giao phối.

DNA tối cổ của chúng ta

Gần đây nữa thì những tiến bộ trong công nghệ sắp xếp chuỗi đã cho phép các nhà khoa học nhanh chóng sắp được toàn bộ hệ gene hạt nhân – bao gồm những hệ gene của các giống người tuyệt chủng, như Neandertal. Năm 2010, nhóm nghiên cứu của Pääbo báo cáo lại rằng họ đã tái dựng được phần lớn bộ gene của Neandertal, dựa trên DNA lấy từ một số hoá thạch Neandertal ở Croatia. Ngược lại với những kì vọng của đội ngũ, công trình này vén mở cho thấy chủng người Neandertal đã góp một phần tuy nhỏ nhoi nhưng quan trọng vào vốn gene của loài người hiện đại: những người không thuộc châu Phi ngày nay cho thấy chủng người Neandertal đã đóng góp trung bình từ 1 đến 4 phần trăm vào bộ gene của họ. Nhằm giải thích kết quả này, các nhà nghiên cứu đề xuất rằng việc giao phối giữa Neandertal và các tổ tiên của toàn bộ những chủng người không thuộc châu Phi có thể diễn ra trong suốt một thời gian hạn định khi hai nhóm người này lấn nhau ở khu vực Trung Đông, có lẽ khoảng từ 80,000 đến 50,000 năm trước.

Ngay sau khi thông báo bộ gene của chủng Neandertal, đội ngũ của Pääbo đã tiết lộ một khám phá thậm chí còn gây sửng sốt hơn thế. Các nhà nghiên cứu trước đó đã có được chuỗi mtDNA từ một mẩu ngón tay xấp xỉ 40,000 năm tuổi được tìm thấy ở hang Denisova ở dãy núi Altai tại Siberia. Mặc dù từ phương diễn giải phẫu học của bộ xương thì các nhà nghiên cứu không xác định được nó đại diện cho chủng loài nào, nhưng trình tự bộ gene đã cho biết chủng này thuộc về nhóm người có mối liên hệ với chủng Neandertal gần hơn một chút so với mối liên hệ giữa chính nó hay Neandertal với chủng loài chúng ta. Hơn nữa, sau khi so sánh trình tự bộ gene của nhóm Denisovan với bản đối chiếu trong nhóm người hiện đại, đội ngũ nghiên cứu đã phát hiện một lượng đáng kể DNA phát xuất từ nhóm người tương tự Denisovan – góp vào 1 đến 16 phần trăm – nằm trong những người vùng Melanesia, thổ dân châu Úc, những người vùng Polynesia, và một số nhóm người có liên hệ nằm ở phía tây Thái-bình-dương nhưng lại không nằm trong những người Phi châu hay Á-Âu.

Để giải thích mẫu hình ngày càng phức tạp của việc chia sẻ DNA, các nhà nghiên cứu đề xuất rằng việc giao phối với các dạng người tối cổ khác nhau đã diễn ra vào hai thời điểm khác nhau: đầu tiên, khi loài người hiện đại xét theo giải phẫu học ban đầu di cư ra khỏi châu Phi và giao phối với chủng Neandertal, và sau đó lúc các hậu duệ của những người di dân ban đầu này kiếm đường tới Đông Nam Á và tiếp cận với nhóm người tương tự Denisovan. Những tổ tiên được trộn lẫn gene hai lần của những nhóm người như người Melanesia ngày nay khi ấy tới được vùng châu Đại dương khoảng 45,000 năm trước, và làn sóng thứ nhì của loài người hiện đại di cư tới vùng Đông Á mà không giao phối với những tổ tiên giống người Denisovan.

Mặc dù việc bàn luận về giao phối trong quá trình tiến hoá của loài người tập trung tiêu biểu vào chuyện giao hợp giữa loài người hiện đại xét theo giải phẫu học với chủng Neandertal ở châu Âu hoặc với những dạng người tối cổ khác ở châu Á, nhưng cơ hội nhiều nhất cho sự kết đôi liên chủng loài này ắt là ở châu Phi, nơi mà loài người hiện đại và những dạng người tối cổ khác nhau cùng tồn tại trong khoảng thời gian lâu hơn nhiều so với bất kì nơi nào khác. Không may là môi trường nhiệt đới của vùng rừng mưa nhiệt đới Phi châu không giúp bảo tồn DNA trong các dấu tích cổ đại. Không có chuỗi DNA cổ đại Phi châu để tham khảo, các nhà di truyền học hiện nay chịu giới hạn trong việc lùng sục các bộ gene của những người Phi châu hiện đại ngày nay để tìm các dấu hiệu hỗn hợp từ thời cổ xưa.

Để đạt mục đích đó, đội ngũ của tôi tại trường Univeristy of Arizona, cộng tác với Jeffrey D. Wall thuộc trường University of California, San Francisco, đã tập hợp dữ liệu kiểu chuỗi từ 61 vùng của bộ gene trong mẫu vật thuộc ba nhóm người Phi châu vùng hạ Sahara. Bằng cách dùng các mô phỏng trên máy tính để kiểm tra các bối cảnh tiến hoá khác nhau, chúng tôi đi đến kết luận trong báo cáo năm 2011 rằng những nhóm người này nhận được phần góp 2 phần trăm vật chất di truyền từ một nhóm người đã tuyệt chủng. Nhóm người này ắt là đã tách hẳn ra khỏi tổ tiên của loài người hiện đại độ khoảng 700,000 năm trước và giao phối với người hiện đại vào khoảng 35,000 trước ở Trung Phi.

Một dấu hiệu di truyền khác cho thấy có sự trộn lẫn từ thời cổ xưa ở châu Phi phát xuất từ nghiên cứu về một chuỗi nhiễm sắc thể Y bất thường lấy từ một người đàn ông Mĩ-Phi sống ở South Carolina. DNA của anh ta được đưa đến phân tích tại một công ti xét nghiệm gene làm việc trực tiếp với khách hàng. Chưa ai từng thấy thể biến dị đặc biệt của anh. Đối chiếu chuỗi Y của anh với của những người khác, cũng như với loài tinh tinh, đội ngũ của tôi xác định chuỗi của anh ta tương ứng với một dòng họ nhiễm sắc thể Y bí ẩn trước đây vốn phân nhánh ra khỏi cây nhiễm sắc thể Y hơn 300,000 năm trước. Khi ấy chúng tôi tìm cơ sở dữ liệu của gần 6,000 nhiễm sắc thể Y của người Phi châu và xác định được 11 cái trùng khớp – tất cả đều phát xuất từ những người sống ở một nơi rất nhỏ bé thuộc miền tây Cameroon. Phát hiện này được công bố vào tháng Ba năm 2013 này trên tập san American Journal of Human Genetics, và nó chỉ ra rằng tổ tiên chung cuối cùng của toàn bộ các thể biến dị hiện đại của nhiễm sắc thể Y có tuổi đời già hơn tới 70% so với con số người ta nghĩ trước đó. Sự hiện diện của dòng họ rất cổ xưa này ở người đương đại là dấu hiện cho biết khả năng diễn ra việc giao phối giữa Homo sapiens và một chủng người tối cổ bí ẩn ở miền tây Trung Phi.

Gần đây cũng có di tích hoá thạch mang lại sự ủng hộ cho khả năng xảy ra việc giao phối trong lòng châu Phi. Ngay sau khi công bố các kết quả của chúng tôi vào năm 2011, một nhóm nhà cổ sinh vật học làm việc tại địa điểm khảo cổ Iwo Eleru ở Nigeria đã tái phân tích những dấu tích trưng ra các đặc điểm thuộc hộp sọ có mức phát triển nằm giữa đặc điểm của người tối cổ và người hiện đại và xác định rằng chúng có niên đại chỉ mới 13,000 năm trước – một thời gian dài sau khi Homo sapiens hiện đại lần đầu xuất hiện. Những kết quả này, cùng với những phát hiện tương tự từ địa điểm Ishango ở Cộng hoà Dân chủ Congo, đã cho biết sự tiến hoá của người hiện đại tại châu Phi có lẽ phức tạp hơn so với hình dung của bất kì mô hình chủ đạo nào về nguồn gốc loài người hiện đại. Hoặc người tối cổ sống cùng với người hiện đại trong quá khứ gần đây, hoặc có những nhóm người mang những đặc điểm hiện đại lẫn tối cổ đã giao phối nhau suốt nhiều thiên niên kỉ.

Những đóng góp có lợi?

Mặc dù những phân tích về DNA của Neandertal và Denisovan đã cung cấp ngày càng nhiều chứng cứ cho thấy người tối cổ có góp phần vào di sản gene của chúng ta, nhưng còn nhiều phương diện của việc giao phối này vẫn chưa được giải quyết. Những ước đoán hiện tại về số phần trăm đóng góp vào bộ gene chúng ta từ những chủng người tương tự Neandertal và Denisovan đều dựa trên phương pháp vốn không cung cấp nhiều thông tin về việc làm sao và khi nào quá trình trộn lẫn đó diễn ra. Để biết thêm thì các nhà nghiên cứu cần cải thiện hiểu biết của mình nhằm làm rõ chính xác những dải nào thuộc bộ gene phát xuất từ người tối cổ và chủng người tối cổ nào góp phần vào những gì. Trong suốt thời gian làm luận văn tại phòng thí nghiệm của tôi, Fernando L. Mendez đã có những bước tiến thực hiện chính xác điều đó. Anh tìm thấy chứng cứ mạnh mẽ cho biết một số người Phi châu đương đại mang một dải nhiễm sắc thể 12 có chứa gene STAT2 (có liên quan đến tuyến phòng vệ đầu tiên của cơ thể chống lại nguồn bệnh do virus gây ra) phát xuất từ chủng người Neandertal.

Nghiên cứu chi tiết về các vùng DNA thừa hưởng từ tổ tiên người tối cổ cũng giúp giải quyết vấn đề liệu rằng việc thu được được các biến dị gene có trao cho Homo sapiens lợi thế thích nghi hay không. Thực vậy, STAT2 cung cấp một ví dụ thú vị về một thể biến dị tối tổ có lợi rõ ràng và nó có thâm nhập vào vốn gene của người hiện đại. Xấp xỉ 10 phần trăm người đến từ vùng Á-Âu và châu Đại dương mang thể biến dị STAT2 tương tự Neandertal. Đáng chú ý là nó diễn ra với tần suất cao hơn khoảng 10 lần ở người Melanesia so với những người ở vùng Đông Á. Phân tích cho biết đoạn DNA này trỗi lên ở tần suất cao thông qua chọn lọc tự nhiên tích cực (tức là nó giúp cho việc sinh sản diễn ra thuận lợi hoặc giúp cho sinh vật tồn tại) thay vì đơn thuần do tình cờ, điều này hàm ý rằng nó mang lại ích lợi cho nhóm người hiện đại xét theo giải phẫu học ở Melanesia.

Tương tự vậy, một bộ phận tương tự Neandertal thuộc khu vực của cái gọi là kháng nguyên bạch cầu của con người (human leukocyte antigen – HLA) nằm trong bộ gene dường như đã xuất hiện ở tần suất tương đối cao ở nhóm người Á-Âu như là kết quả của chọn lọc tự nhiên tích cực liên quan đến vai trò của nó trong việc chống lại các mầm bệnh. Có lẽ ta sẽ không ngạc nhiên khi phát hiện những đóng góp của người tối cổ có chứa gene thực hiện chức năng tăng cường miễn dịch. Dễ dàng hình dung rằng việc thu được một thể biến dị gene thích ứng với việc bảo vệ chống lại các mầm bệnh ở những môi trường không thuộc châu Phi sẽ cải thiện trực tiếp tổ tiên loài người khi họ bành trướng từ châu Phi sang những môi trường sống mới.

Nhờ vào các bằng chứng ngày càng xuất hiện nhiều cho việc giao phối giữa chủng Homo sapiens hiện đại xét theo giải phẫu học với những chủng người tối cổ cả bên trong lẫn phía bên kia khu vực châu Phi, có thể thấy mô hình Thay thế không còn trụ vững được nữa. Những chủng người hiện đại và tối cổ thuộc chủng Homo có thể sản sinh ra con cái lai giống có khả năng phát triển độc lập. Do vậy, các dạng người tối cổ có thể tuyệt chủng mặc dù vẫn còn để lại dấu vết di truyền của mình ở bộ gene người hiện đại. Dù thế bộ gene của loài người hiện nay dường như hầu hết bắt nguồn từ tổ tiên người Phi châu – những đóng góp từ chủng người tối cổ Á-Âu nhỏ hơn so với dự đoán của mô hình Tiến hoá Đa khu vực hay mô hình Đồng hoá.

Nhiều nhà nghiên cứu giờ đây chuộng mô hình Lai giống của Bräuer, mô hình này quan niệm việc giao phối giữa Homo sapiens và các chủng người tối cổ chỉ giới hạn trong vài trường hợp riêng biệt. Tôi đồng ý rằng việc giao phối như vậy dường như hiếm hoi sau khi loài người hiện đại bắt đầu tản ra bên ngoài châu Phi, nhưng tôi nghĩ câu chuyện còn nhiều điều hơn thế. Khi xem xét độ phức tạp của di tích hoá thạch Phi châu, vốn chỉ ra rằng nhiều nhóm người khác nhau ở thời chuyển tiếp, cùng với thể khảm (mosaic) của những đặc điểm tối cổ và hiện đại, sống trên một vùng địa lí mênh mông từ Morocco đến Nam Phi khoảng từ 200,000 đến 35,000 năm trước đây, tôi chuộng mô hình có liên quan đến chuyện giao phối liên chủng loài trong suốt quá trình chuyển tiếp từ tối cổ sang hiện đại. Đôi khi còn được gọi là mô hình Tiến hoá Đa khu vực Phi châu, bối cảnh này tính đến khả năng xảy ra chuyện có một số nét tiêu biểu, những nét làm chúng ta trở thành người hiện đại, được thừa hưởng từ những dạng người thuộc thời chuyển tiếp này trước khi bị tuyệt chủng. Theo ý tôi, mô hình Tiến hoá Đa khu vực Phi châu, kết hợp với mô hình Lai giống của Bräuer, sẽ giúp giải thích ổn thoả nhất các dữ liệu di truyền và hoá thạch đến tận lúc này.

Trước khi các nhà khoa học có thể đánh giá đầy đủ mô hình này về nguồn gốc người hiện đại, ta cần hiểu rõ hơn những gene nào mã hoá các nét tiêu biểu của người hiện đại xét theo giải phẫu học và những gene nào giải mã được lịch sử tiến hoá của chúng. Phân tích sâu thêm về bộ gene tối cổ lẫn hiện đại sẽ giúp các nhà nghiên cứu xác định được thời điểm và địa điểm diễn ra quá trình hoà lẫn này – và xác định xem liệu các gene tối cổ thâm nhập vào vốn gene người hiện đại có mang lại lích lợi gì cho những nhóm người thu nhận được chúng hay không. Thông tin này sẽ giúp ta đánh giá được giả thuyết cho rằng việc giao phối với các nhóm người tối cổ thích ứng tốt với môi trường địa phương của họ sẽ truyền cho Homo sapiens các nét tiêu biểu, từ đó thúc đẩy Homo sapiens phát triển lên vị trí ưu tú nhất toàn cầu. Việc chia sẻ gene thông qua giao phối liên chủng không thường xuyên là một cách làm trỗi lên những đặc tính tiến hoá mới mẻ ở nhiều chủng loài động vật và thực vật, do vậy không có gì ngạc nhiên khi cũng quá trình đó xảy ra trong quá khứ loài người chúng ta.

Hãy còn nhiều thứ tồn đọng cần hoàn chỉnh. Tuy vậy có một điều rõ ràng: những cội rễ của loài người hiện đại có thể truy về không chỉ một nhóm tổ tiên đơn lẻ ở châu Phi mà là nhiều nhóm người ở khắp Cựu thế giới. Mặc dù những người tối cổ thường được xem là kẻ thù của loài người hiện đại, nhưng các nhà khoa học giờ đây phải xem xét nghiêm túc đến khả năng họ chính là nguồn cơn bí ẩn giúp cho Homo sapiens phát triển thành công.

Phụ lục

Truy nguồn Homo sapiens

Giới khoa học từ lâu tranh cãi về cách thức loài người hiện đại (đường nâu đậm) tiến hoá từ những tổ tiên cổ xưa của mình (đường nâu nhạt). Trong những lí thuyết được mô tả ở đây, loài người hiện đại bắt nguồn từ châu Phi. Theo mô hình Thay thế (Replacement), khi ấy họ thay thế các chủng người tối cổ hiện diện khắp Cựu thế giới (Old World) mà không giao phối với nhau. Tương phản lại là mô hình Đồng hoá (Assimilation) khi cho rằng các đặc điểm hiện đại có lợi từ châu Phi đã lan toả khắp giữa các nhóm người tối cổ này bằng sự kết hợp giữa việc di cư và giao phối đều đặn, được biết đến như là dòng luân chuyển gene (gene flow – mũi tên xanh). Mô hình Lai giống bản thân nó cho rằng việc giao phối, hay lai giống (mũi tên đỏ) giữa người hiện đại với người tối cổ rất hiếm khi xảy ra khi người hiện đại tới thay thế người tối cổ. Mô hình Tiến hoá Đa khu vực Phi châu (African Multiregional Evolution) tập trung riêng vào giai đoạn chuyển tiếp từ tối cổ sang hiện đại ở châu Phi và lập luận ủng hộ dòng luân chuyển gene và sự lai giống giữa các nhóm người tối cổ khác biệt nhau ở nơi đó. Một bối cảnh như thế về mặt lí thuyết có thể xảy ra trước các mô hình Thay thế, Đồng hoá hay Lai giống.

Michael F. Hammer - Hon Human Hybrids 01

Chứng cứ cho việc giao phối

Di tích hoá thạch cho thấy Homo sapiens bắt nguồn từ châu Phi khoảng 200,000 năm trước đây. Các nghiên cứu DNA gần đây cho biết loài người hiện đại xét theo giải phẫu học đã giao phối với các chủng người tối cổ mà họ tình cờ gặp phải khi di cư bên trong khu vực châu Phi và ra ngoài những khu vực còn lại của Cựu thế giới (mũi tên xám). Bản đồ bên dưới cho thấy nhiều chủng người tối cổ – bao gồm một chủng người gần đây được xác định dựa trên DNA trích từ xương ngón tay hoá thạch ở hang Denisova tại Siberia – và những khu vực có thể đã diễn ra việc giao phối với loài người hiện đại (hình elip), dựa trên các chứng cứ DNA hiện có.

Michael F. Hammer - Hon Human Hybrids 02

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130514

Nguồn:

Hammer, Michael F. “Human Hybrids.” Scientific American, số tháng 5/2013: trang 66-71.

Scientific American May 2013

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s