Michael Wood – Những bức thư của Italo Calvino

 

Michael Wood

Những bức thư của Italo Calvino

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Italo Calvino là người dè dặt khi nói về cuộc đời mình và cuộc đời người khác, và hoài nghi về cái dụng của tiểu sử. Ông hiểu rằng  phần nhiều cõi sống mà ta đang ngự trị được cấu thành từ những kí hiệu, và hiểu rằng các kí hiệu có thể cất tiếng nói hùng hồn hơn những sự kiện. Ông sinh ra tại San Remo ở Liguria chăng? Không đâu, ông sinh ra tại Santiago de las Vegas ở Cuba, nhưng bởi vì “chỉ mỗi một nơi sinh dị thường thì không cung cấp thông tin về bất kì điều gì cả”, nên ông cho phép cụm “sinh ra tại San Remo” xuất hiện liên tục ở những ghi chú tiểu sử về mình. Không giống sự thật, ông cho rằng sự sai lệch này nói được một điều gì đó về con người ông xét như một nhà văn, về “thế giới sáng tạo” của ông (lá thư ngày 21 tháng Mười một, 1967), “phong cảnh và môi trường … vốn định hình cuộc đời ông” (ngày 5 tháng Tư, 1967).

Tức là bản tiểu sử tốt nhất có thể là một tác phẩm văn chương thận trọng, và Calvino cũng có xu hướng nghĩ rằng tác phẩm của nhà văn là tất cả phần tiểu sử mà bất kì ai cũng thực sự cần đến. Trong những lá thư ông cứ trở đi trở lại về nhu cầu cần chú tâm đến đối tượng văn chương thực thụ thay vì chú tâm đến tác giả tưởng tượng. “Đối với nhà phê bình, tác giả không hiện hữu, chỉ có một lượng tác phẩm nhất định hiện hữu thôi” (ngày 24 tháng Mười một, 1967). “Một văn bản phải là thứ có thể được đọc và được đánh giá mà không cần tham chiếu đến sự hiện hữu hay bất kì thứ gì khác của một người có tên họ xuất hiện trên bìa sách” (ngày 9 tháng Bảy, 1971). “Hình tượng công chúng của nhà văn, nhân vật nhà văn, sự ‘sùng bái cá nhân” về tác giả, tất cả những thứ đó đối với tôi đang trở nên càng lúc càng không thể chịu được ở kẻ khác, và do đó ở chính bản thân tôi” (ngày 16 tháng Chín, 1968).

Những khẳng định như vậy bắt đầu gợi lên điều được gọi là cái chết của tác giả, mặc dù nó hãy còn được xem là một viễn cảnh hoặc một nguyên tắc thôi, và trong một bài nói chuyện có nhan đề “Điều khiển học và những bóng ma”, Calvino triển khai khái niệm này bằng lối hành văn táo bạo mang tính lí thuyết và đầy tính luận chiến. Bài nói chuyện ấy là vào năm 1967, một năm trước khi Roland Barthes làm cho chủ đề ấy trở nên khét tiếng tại Pháp và cộng đồng Anh ngữ. Ông cũng dùng cái ẩn dụ đặc biệt về cái chết tác giả trong một bức thư cùng năm đó (ngày 24 tháng Mười một, 1967), và trong vài bức thư khác. “Và thế là tác giả biến mất”, Calvino nói trong bài nói chuyện của mình, “- đứa con hư hỏng ấy của sự vô tri –  nhằm nhường chỗ cho một con người sâu sắc hơn, đó là một người biết được rằng tác giả là một cỗ máy, và biết được cách thức hoạt động của cỗ máy này”. Chúng ta chú ý rằng một cỗ máy thay thế cho một huyền thoại, nhưng một người thật (và sâu sắc) thì thay thế cho một ảo tưởng thiếu suy nghĩ, và Calvino thêm vào rằng chúng ta sẽ có được “kết quả thi vị… chỉ khi cỗ máy viết lách ấy được bao quanh bởi các bóng ma ẩn mình của cá nhân và của xã hội người đó”. 

Câu cuối này làm rõ ra rằng Calvino đang nói về một tác phẩm hoàn chỉnh và cuộc đời của nó trong thế giới này, và không nói về loại thiếu cá tính không thể đạt được: cái tôi và xã hội có lẽ trở thành những bóng ma, nhưng chúng thiết yếu. Cái chết của vị tác giả cao sang không hề ngụ ý sự biến mất của con người viết lách, và bất kì vẻ ngoài nào của sự mâu thuẫn cũng sẽ tan biến ngay khi ta hiểu rằng đối với Calvino và những người khác, viết lách chính là cuộc sống. “Chúng ta là những con người, không nghi ngờ gì nữa, vốn hiện hữu đơn độc trong chừng mực ta còn viết lách, bằng không thì ta không hiện hữu chút nào cả” (ngày 24 tháng Tám, 1959). Cái chết của tác giả quả thực có thể là sự giải phóng người viết, và đối với Calvino còn có một yếu tố đạo đức trong thiên hướng này. “Sách”, ông nói, “kì cùng biểu tượng cho những gì thiện hảo nhất của lương tâm ta” (ngày 22 tháng Bảy, năm 1958). Chúng không phải lúc nào cũng như ta mong ước, nhưng chúng cho ta thấy điều mà bản thân mình có thể trở thành. Sách không thể tránh khỏi là thứ riêng tư đối với Calvino, nhưng không phải là thứ thuộc về việc thú nhận, và không chỉ là riêng tư.

Thế nhưng chúng ta sẽ hiểu các lá thư của một nhà văn như vậy là gì, và chúng ta sẽ làm gì khi đọc chúng? Tôi e rằng, chúng ta có phần nào đang lờ đi những cảnh báo và những khác biệt kĩ càng của ông; săm soi vào đời tư của ông. Những lá thư này viết ra không phải dành cho ta hay gửi cho ta. Chúng ta sẽ thấy “chàng thanh niên đó”, như Calvino sau này tự gọi chính mình ngày trước (26/5/1977), với tất cả lòng phấn khích văn chương bất kham của ông, ngành học nông nghiệp miễn cưỡng của ông, những mối lo âu của ông về lệnh nhập ngũ, được tiếp sau đó là cuộc hành trình của ông gia nhập quân du kích. Ông trở về từ cuộc chiến thành một người cộng sản công khai nhưng vẫn là một cây bút độc đáo và hóm hỉnh. Những lá thư phản ánh những cuộc gặp gỡ với các nhà văn Elio Vittorini và Cesare Pavese, cả hai người này đều có ý nghĩa rất nhiều đối với ông, và ghi nhận nhiều cuộc trao đổi tư tưởng với mấy người bạn và các nhà phê bình. Ông chu du ở Nga và Mĩ, tường trình lại chi tiết những ấn tượng của mình; rút ra khỏi đảng Cộng sản, tiếp tục làm việc cho nhà xuất bản Einaudi ở Turin. Ông cưới bà Esther Singer người Argentina và họ có với nhau một người con gái, Giovanna, cô này xuất hiện trong những lá thư như là một người hạnh phúc, cảnh giác và kháng cự một cách đáng phục trước giáo dục (“con bé nói ba ngôn ngữ… và không có ước muốn học cách đọc hay viết lách” [1/3/1972]). Calvino chuyển tới Paris; rồi Rome, một nơi mà “chàng thanh niên đó” từng thề thốt là mình sẽ chẳng bao giờ đặt chân lên. Có nhiều lá thư chân thành gửi đến các học giả và các em học sinh, có nhiều trao đổi dễ dẫn tới gây gổ với những nhân vật như Pier Paolo Pasolini và Claudio Magris. Calvino “khám phá” ra nhà văn xứ Sicily Leonardo Sciascia, làm rõ lòng mến phục dành cho Carlo Emilio Gadda, suy tư về phim ảnh cùng với Michelangelo Antonioni, và cộng tác với Berio ở lĩnh vực opera.

Có những thời điểm kịch tính, dẫu cho được gợi lên một cách âm thầm. Trong phần đề ngày tháng cho lá thư gửi người bạn Eugenio Scalfari, ông ghi “đêm đầu tiên của lệnh giới nghiêm do quân Đức ban hành” (12-13 tháng Chín, 1943); ông gửi tin nhắn ghi trên tập giấy đến cho cha mẹ mình từ nơi trú ẩn của quân du kích; trong một lá thư khác ông đề cập chuyện cha mẹ mình bị bắt làm con tin và sau đó được thả ra (“lúc đó cha tôi bị bắn trước mắt mẹ tôi”) (ngày 6 tháng Bảy, 1945). Calvino thường xuyên lâm vào tình trạng phiền muộn trước nền chính trị nước Ý. Chúng ta còn có được lá thư của ông xin rút khỏi Đảng Cộng sản Ý (ngày 1 tháng Tám, 1957). Ông chứng kiến được các sự kiện hồi tháng Năm 1968 tại Paris. Ông suy nghĩ về những nhà tù Brazil, những thi sĩ Palestine, cuộc chiến tại Việt-nam. Ở Cuba ông gặp được Che Guevara.

Và hết lần này đến lần khác, chúng ta bắt gặp ở Calvino hình ảnh một người đọc luôn khao khát: với vai trò một thanh niên ông bắt kịp được Ibsen và Rilke và cả những thứ dường như là toàn thể nền văn chương Tây phương, chú ý đến tất thảy các hạng nhà văn Ý đương đại; với vai trò một nhà điểm sách viết khoẻ, “đọc sách để điểm sách ngay tức thì”, như ông từng nói (ngày 16 tháng Một, 1950); với vai trò một người dành hầu hết quãng đời trưởng thành của mình làm biên tập viên cho một nhà xuất bản. Tập hợp các lá thư bằng tiếng Ý của ông có nhan đề I libri degli altri (Other People’s Books – Sách của kẻ khác), bản thân cụm từ này được trích ra từ một nhận xét tình cờ, hào phóng của Calvino: “Tôi đã bỏ nhiều thời gian cho sách của kẻ khác nhiều hơn là cho sách của bản thân mình”. Ông thêm vào, “Tôi không hối tiếc điều đó”. Có lẽ không trùng hợp khi mà vị độc giả thiết tha này thi thoảng ngừng lại trở thành nhà văn, tự nhủ liệu mình có xong được không, liệu việc tạm ngưng hiện tại có trở thành thường xuyên cố định không. Ông luôn luôn dè dặt, nhưng cơn đau buồn dễ nhận ra khi, chẳng hạn như, ông gợi ra một “thời kì tuyệt vọng và bị mắc kẹt vào ngõ cụt sáng tác vốn… đã tiếp diễn được một thời gian cho đến lúc này và có lẽ sẽ không bao giờ thoát khỏi ngõ cụt đó” (ngày 11 tháng Một, 1976), hay khi ông bảo một phóng viên rằng ông “chỉ tiến triển hướng đến tình trạng riêng biệt và im hơi lặng tiếng”. “Trong những năm gần đây”, ông nói một cách chế giễu, “tôi rất thoả mãn khi đóng vai một kẻ đã chết rồi trong khoảng thời gian ngắn ngủi: tôi thật là khôn ngoan khi không xuất bản sách!… Trong khi giờ đây tôi lại bắt đầu nhận ra rằng một thứ tôi thích chính là viết… nhưng… tôi đã xoay xở nhằm đánh mất hết toàn bộ tình yêu dành cho những hình ảnh về cuộc sống đương thời” (ngày 6 tháng Năm, 1972). Ông lấy lại được tình yêu này, nhưng nỗi mất mát ấy có thật trong lúc nó còn tiếp tục trong ông. Toàn bộ tác phẩm cuối đời của ông, được viết ra một cách tuyệt hảo, đã chứng tỏ sự chú tâm càng lúc càng lớn dành cho những thứ không thể cất thành lời.

Phần tuyển chọn các bức thư trong cuốn sách này – gần bằng một phần ba số bức thư xuất hiện trong cuốn Lettere (2000) tuyệt diệu của Luca Baranelli – tìm cách phản ánh câu chuyện lịch sử này và vị trí của Calvino trong đó. Chúng tôi không hạn hẹp lại phạm vi nước Ý nhưng cẩn thận gìn giữ những bức thư có phạm vi quốc tế. Sự tập trung này dựa trên những vấn đề văn chương và chính trị thay vì gia đình – mặc dù chúng tôi cũng vừa thấy được không có cách nào an toàn để tách bạch các yếu tố này – nhưng ngay cả cuốn Lettere hoàn chỉnh, vốn đa số trình bày cuộc sống gia đình đặc biệt trong những năm tháng ban đầu, cũng không cho ta lối vào một Calvino thứ nhì đầy bí mật, một con người ẩn sau cây bút, phải nói là vậy. Đó là sự thật khi bộ sưu tập của Baranelli, chứa gần cả ngàn bức thư, như ông ta nói chỉ đưa ra “một phần khiêm nhường” trong số những bức thư Calvino từng viết, và “những lí do hiển nhiên” của việc dự phòng và sự riêng tư ắt đã lấy một số bức thư ra khỏi cái bàn (một thứ mà bản thân Calvino nghĩ là nằm ngay trên kệ của Pavese và Vittorini). Nhưng bất kể lòng háo hức hiện tại của ta về chuyện phiếm đàm có thể gợi ra bất kể điều gì, thì cuộc đời riêng tư không nhất định là cuộc đời bị vùi lấp.

Điều gây ngạc nhiên hơn cả có lẽ là việc cây bút sáng tạo này không chi phối thư từ như ta kì vọng. Có những ngoại lệ đáng lưu tâm – những bản phác thảo và bản mô tả ngẫu nhiên, một bản phác hoạ cuốn “Lữ quán của những số mệnh đan chéo” mà Calvino không bao giờ viết (ngày 20 tháng Tám, 1973), bức thư bàn về thiên đường mà tôi đề cập sau, vốn xuất hiện như là một bài báo – nhưng nhìn chung thì những lá thư không được dùng để thực hành viết văn hay viết luận. Và cuối cùng, bởi ông ấy không nghĩ đến chúng ta, Calvino không để mắt tới hậu thế dù bất kì hình thức nào, giống như André Gide và nhiều nhà văn hiện đại khác vốn cũng hay viết thư trao đổi này kia. Ông sống ở thời hiện tại, không dựng lên một đài kỉ niệm nào cho tương lai.

Do vậy các phương diện này của những lá thư có thể đưa ra một điều gì đó gây ngạc nhiên đối với độc giả tiếp xúc chúng từ văn chương và ban đầu có thể bỏ lỡ những chi tiết phức tạp và cuộc chơi mong muốn. Không phải việc không có điều gì hài hước trong thư từ (cũng có nhiều khoảnh khắc hài hước và mỉa mai), cũng chẳng phải việc Calvino từng tỏ vẻ nghiêm trang hay khoa trương; tôi cũng không cho rằng những thư từ này mang tính nghiêm trọng trong khi văn chương ông không phải vậy. Nhưng cái ý nghĩa truyền đạt trực tiếp, của một người cố hết sức có thể nhằm làm rõ nhiều vấn đề, phức tạp lẫn đơn giản, khá khác biệt với cái được sáng tạo ra từ cái đầu dày đặc ý tưởng nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi của Calvino và thực chất là trong nhiều bài tiểu luận của ông. Trong nghệ thuật của ông, tính hóm hỉnh và mỉa mai là những cách thức phản ánh những vấn đề khó khăn của thế giới này trong khi vẫn bám chặt vào đầu óc minh mẫn của mình – những công cụ của lí tính trong một thế giới cuồng điên. Calvino nói trong một lá thư, “Tôi chuộng kiểu mô phỏng tựa như tên hề về thực tại đương thời” (ngày 18 tháng Một, 1957). Những tên hề thường buồn bã và tất cả đều tỉnh táo; nhưng mối liên hệ của chúng với thực tại thì lại quanh co. Lối viết của Calvino là một phần trong dự án văn chương vĩ đại của việc ám chỉ và gợi ý, tạo ra những hình dạng và hình ảnh đáng nhớ, thay vì cung cấp thông tin hay đưa ra những lời giải thích. Trong những lá thư, Calvino chỉ kể chuyện thay vì cho người nhận thư biết ý của mình – và đạt được thành công to lớn mà thường là sâu sắc.

Vì lẽ này, mặc dù chúng ta xâm phạm đời tư của Calvino chỉ đơn thuần bằng cách nhìn vào mấy bức thư này, nhưng đó thực là một đời tư vô cùng đặc biệt đã hiện ra: không phải cái tôi thật sự của nhà văn – tại sao cách viết của ông lại không biểu tượng cho cái tôi này, như ông vẫn nghĩ là nó có – mà chỉ là cái tôi đơn sơ của ông. Chúng ta nghe trộm không chỉ những bí mật của ông mà còn là sự cống hiến của ông cho tính sáng sủa rõ ràng. Tất nhiên Calvino quá sâu sắc nên đã để ý đến khả năng rằng chính ý tưởng về cái tôi đơn sơ là văn chương. Nhưng nó có thể là văn chương kể sự thật, giống câu chuyện được sinh ra tại San Remo. Hãy xem xét những câu như sau. “Tôi không phải là con người đầy nhiệt huyết”, Calvino viết thế trong một bức thư lúc ông tỏ ra hết sức tức giận. Ông khẳng định, tôi có lí do chính đáng để đoan chắc vậy, rằng “lòng căm hờn, oán giận về những lời lăng mạ, sự tôn nghiêm bị tổn thương” không phải là “cái tách trà” của ông [về nghĩa đen là bánh mì cho hàm răng của tôi]. “Tôi nghĩ người ta phải cảm thấy bị xúc phạm cực độ… tôi không thể làm vậy”. Nhưng ông vẫn còn tức giận, và cần giữ bình tĩnh cũng như cần để cho xúc cảm của mình phơi bày ra ngoài. “Có lẽ sự cần mẫn là cách có được lòng nhiệt huyết nơi tôi”, cuối cùng thì ông nói thế. “Đó là lí do tại sao tôi xoay xở để có thể trở nên cần mẫn chỉ trong những khoảnh khắc lạ lùng và vô cùng ngắn ngủi” (ngày 20 tháng Ba, 1964). Ở đó: ông tìm ra được giọng điệu thích hợp, và việc vận dụng một chút đến cách tự chế nhạo mình giúp ông duy trì được trạng thái cân bằng.

Những điều minh tỏ của Calvino bao lấy nhiều chủ đề khác nhau – ông không có một lí thuyết thống nhất về văn chương hay bất kì thứ gì khác – nhưng chúng thường hội tụ lại ở tác động của mình. Chúng ta giờ đây hiểu được những điều mà trước đây chỉ hiểu phân nửa; chúng ta thấy rằng những điều trông lạ lùng là một chính sách; chúng ta nhận ra rằng sự bối rối của ta với của Calvino là một và như nhau. Có một ví dụ tuyệt hảo cho tác động này nằm trong cụm câu hỏi có liên quan mật thiết nhau về biểu tượng của thực tại trong văn chương, khái niệm về thiên đường, và những việc khổ nhọc của chủ nghĩa Cộng sản Ý. Có lẽ đáng ngạc nhiên là mỗi câu hỏi như thế lại phần nào trở thành một phiên bản cho những câu hỏi khác.

“Mô phỏng tựa tên hề” về thực tại sẽ mô tả thế giới này thật buồn bã, nực cười, có lẽ khó mà sống nổi ở đó – “trong bối cảnh này lúc nào”, Calvino cho biết trong một bức thư (ngày 13 tháng Mười một, 1979), “cũng còn đó điều bất khả chấp nhận thế giới này như chính tồn tại của nó”. Nhưng ta đang sống trong nó, và đó là lí do tại sao tiếng cười là điều thiết yếu. Nó là dấu hiệu cho thấy ta không đơn thuần là những nạn nhân, rằng ta hãy còn tư duy. Đây là lí do tại sao chúng ta nỗ lực đạt được kiểu lĩnh hội khắc nghiệt nhất về cái chân thật – “để có thể căm ghét Tháp Babel chúng ta phải có Tháp Babel cụ thể hữu hình trước mắt” (ngày 3 tháng Ba, 1958) – trong khi công nhận rằng chỉ có sự gián tiếp mới mang lại hiệu quả. Đây là cách làm thế nào mà văn chương đôi lúc trở thành một “dạng trò chơi, vốn không cần các câu chuyện trùng ngôn được tìm đến, mặc dù đồng thời gợi ra chúng” (ngày 7 tháng Tám, 1952), và đây là lí do tại sao hồi kết trong Calvino lúc nào cũng mang tính mỉa mai, một tình huống mô phỏng gọn gàng của những điều không hiện diện ra. “Phần kết luận phải trông như có ý nghĩa mặc dù vẫn còn đó một yếu tố hình thức thuần tuý” (ngày 16 tháng Mười hai, 1967). “Đối với tôi… viết bao giờ cũng có nghĩa là dàn trải ra theo một hướng, đánh cược mọi thứ vào một lá bài, tuy vậy vẫn ý thức rằng còn có những hướng khác” (ngày 2 tháng Ba, 1950).

Toàn bộ điều này là một phần của cái được Calvino gọi là não trạng Khai minh của ông, là ý thức muộn màng, tự giác về những vấn đề mà lí tính tự đưa mình vào nhưng tuy thế lại trung thành với sự minh mẫn. “Thuyết duy lí của Khai minh suốt hai thế kỉ đã không làm được gì mà lại bị đánh vào chỗ đầu não và thành chỗ hứng chịu những lời phủ nhận, tuy thế nó vẫn tiếp tục tồn tại song hành mặc cho mọi lời phê phán; và có lẽ tôi đã bày tỏ sự tồn tại song hành này” (ngày 26 tháng Mười, 1964). Ở đây là một ý tưởng Khai minh xưa cũ / mới mẻ: “Con người đơn giản là cơ may tốt nhất ta biết đến mà vấn đề đó đã có được nhằm tự cung cấp bản thân những thông tin về chính nó” (ngày 7 tháng Bảy, 1970). Chúng ta cũng có thể nghĩ đến cách nói dí dỏm của Calvino khi ông liệt kê những nhà văn mình thích: “Tôi thích Chesterton bởi vì ông áy muốn trở thành một Voltaire Công giáo và tôi muốn trở thành một Chesterton Cộng sản.”

Những tên hề và những nhà duy lí không – không thể – tin vào thiên đường, và có lẽ quan trọng hơn nữa là họ luôn bị phiền muộn từ thực tế rằng mọi người khác xung quanh họ đều tin. Bên tả, trung lập, và bên hữu đều tệ như nhau trong phương diện này. Có cơ may nào dành cho những người đó, “những kẻ luôn muốn người ta không còn tư duy về mặt địa ngục và thiên đường” (ngày 2 tháng Ba, 1969)? À, họ có thể biện luận trường hợp của mình, như Calvino từng làm hồi năm 1950 trong bức thư dài gửi cho Mario Motta, sau này được công bố trên tờ tạp chí yểu mệnh Cultura e realtà. Đáp lại đề xuất của Motta rằng “mỗi người chúng ta có thể hi vọng về một thiên đường siêu nhiên”, Calvino bảo rằng chính thuật ngữ “thiên đường”, chứ đừng nói đến “siêu nhiên”, là cái “hoàn toàn xa lạ” đối với “lối tư duy thông thường” của ông. Điều này không có nghĩa là ông không thử một lối tư duy khác thường, nhưng nó không giúp ích gì. Tư duy về thiên đường đối với Calvino, dẫu cho ông có được nó như thế nào, sẽ chen vào cản trở  đường đi của tác phẩm vốn cần thực hiện trên trái đất: “một loạt thứ cần làm, một loạt các trách nhiệm, các ‘vấn đề’… Cái đẩy tôi theo hướng này dường như đối với tôi không phải là một ‘thiên đường’ cần vươn tới, mà là sự thoả mãn khi thấy nhiều thứ bắt đầu dần dần đi theo con đường đúng đắn, cảm thấy ở vị thế tốt hơn cho việc giải quyết các vấn đề khi chúng trỗi lên.” Ngay cả Dante, Calvino nói, mặc cho có các địa điểm thuộc thế giới khác trong bài thơ vĩ đại của ông ấy, nhưng vẫn lưu tâm đến “con người xét như là tồn tại của họ, trên ‘trái đất’” (tháng Bảy, 1950).

Nhưng liệu có ai lắng nghe những luận cứ như vậy không, nếu thậm chí Calvino có nói về địa ngục trong đoạn văn có lẽ là những câu chữ nổi tiếng nhất của ông? Câu trả lời phụ thuộc vào cách ta đọc những câu chữ đó như thế nào. Tác phẩm Những thành phố vô hình kết thúc theo lối này:

Hoả ngục của những người đương tại thế không phải là thứ gì đó sẽ tồn tại; nếu có một cái thì nó đã tồn tại ở đây rồi, hoả ngục nơi chúng ta sống hàng ngày, mà chúng ta tạo nên bằng cách cùng nhau tồn tại. Có hai cách thoát khỏi việc chịu đựng nó. Cách đầu tiên dễ dàng đối với nhiều người: chấp nhận địa ngục và trở thành một phần trong nó đến nỗi bạn không thể thấy nó nữa. Cách thứ nhì mang tính liều lĩnh và đòi hỏi cảnh giác và nắm bắt không ngừng: tìm kiếm và học cách nhận ra ai và cái gì, ngay giữa hoả ngục, không phải là hoả ngục, sau đó khiến chúng cam chịu, trao cho chúng không gian.

Rõ ràng là chúng ta không rời trái đất cho dù ngôn ngữ hình tượng đã rời đi, và ngôn ngữ của Calvino nếu xét về mặt ý nghĩa quan trọng thì nó trực tiếp hơn ngôn ngữ bản dịch. “Apprendimento”, như Martin McLaughlin gợi cho ta biết, có nghĩa “học hỏi” thay vì “nắm bắt”, và do vậy đề xuất đến công việc và tính kiên trì thay vì nỗi sợ kết hợp với sự lĩnh hội ý niệm. Chúng ta vẫn còn rất gần kề với sự Khai minh phi thần thánh.

Calvino nói ông đã lưu ý rằng “các nhà phê bình chăm chăm bàn đến câu cuối cùng này… như thể đó là kết luận”. Nó là kết luận, nhưng trung thành với ý tưởng về việc luôn có một lá bài khác để chơi, Calvino bổ sung rằng cuốn sách của ông “có hai kết luận, cả hai đều có trật tự và tầm quan trọng như nhau: một là về thành phố lí tưởng… cái kia là về thành phố hoả ngục” (ngày 20 tháng Một, 1973). Điều mỉa mai là thành phố lí tưởng trông như một thiên đường, bất kể vẻ ngoài của nó có tính nghiệm thử và rời rạc ra sao. Marco Polo nói:

Tôi sẽ lắp ghép lại với nhau, từng miếng, một thành phố hoàn mĩ, được làm từ những mảnh trộn lẫn với phần còn lại, làm từ những khoảnh khắc bị những khoảng thời gian làm tách biệt ra… Nếu tôi cho ông biết rằng thành phố mà cuộc hành trình của tôi hướng đến vốn gián đoạn về không gian lẫn thời gian, giờ đây đã bị phân tán, giờ đây càng lúc càng dày đặc hơn, thì ông chắc là không tin việc tìm kiếm nó có thể dừng lại.

Mặc dù vậy, chúng ta đã nắm được vấn đề. Chúng ta có thể (gần như) nói đến thiên đường bao lâu mà chúng ta nhận ra mình không phải bỏ cuộc việc tìm kiếm nó, và quá nhiều người nhận lời mời chào đó như là việc hướng chính xác theo hướng đối nghịch: hướng đến hồi kết của tất cả những cuộc tìm kiếm.

Điều khiến cho Calvino dấy nên chiêm nghiệm kéo dài ban đầu về thiên đường chính là bài điểm sách cả Motta về quyển The God that Failed, và đây là nơi những con đường của viết lách và thiên đường giao với chủ nghĩa Cộng sản. Thượng đế đề cập ở đây là Marx hoặc là cuộc Cách mạng [Nga], và Calvino không thể chịu được ý nghĩa rằng chính trị là vấn đề của niềm tin, hay nó có bất kì liên hệ nào với tông giáo. Một giả định như vậy “bao giờ cũng ở cực xa xăm nhất tách khỏi mọi thứ mà tôi đã từng viết làm nói nghĩ” (ngày 21 tháng Ba, 1960). Chính trị, như trong trích dẫn phía trên liên quan đến “những điều cần làm”, là về việc tạo ra những điều kiện tốt hơn trên trái đất (hay cố gắng tạo ra), hoặc nó không là gì cả. Chính cái ý tưởng về người cựu Cộng sản trong ý nghĩa thần học này (khác với ý nghĩa tẻ nhạt về việc không còn là thành viên của Đảng Cộng sản nữa) dường như bất công đối với Calvino, một minh chứng chỉ cho thấy sự ảo tưởng.

“Người cựu Cộng sản” là một trong những nhân vật ảm đạm nhất của thời kì hậu chiến: với phía sau họ là không khí u sầu của thời gian bị lãng phí, và trước họ là sự hiện hữu bẩn thỉu của một người nào đó được Đội quân Cứu rỗi giải thoát, đi vòng quanh đường phố với ban nhạc và dàn đồng ca, hét vang rằng họ là kẻ say sưa và gian lận. (tháng Bảy 1950)

Không phải việc bản thân chủ nghĩa Cộng sản không có mặt ảm đạm và những thứ tệ hơn. Bản thân Calvino sẵn sàng nói rằng “người Cộng sản hóm hỉnh và cởi mở” là “một thứ hiếm hoi” (ngày 10 tháng Tư, 1954), và ông sẵn sàng thừa nhận rằng “Thẻ Đảng (cùng với toàn bộ mạng lưới những mối tương quan đầy mâu thuẫn mà nó kèm theo) thường lấy mất chỗ của lương tâm tôi” (ngày 9 tháng Tám, 1957). Nhưng nó không thường xuyên thế chỗ lương tâm, và “thực tế chính sự nghèo nàn của nền văn chương chính thức của chủ nghĩa Cộng sản đã đóng vai trò làm động cơ thôi thúc tôi cố gắng mang lại ngòi bút theo thể cách sáng tạo vào tác phẩm của mình với tư cách là nhà văn; tôi tin mình luôn xoay xở được để trở thành người tự do ở bên trong Đảng” (ngày 1 tháng Tám, 1957).

Để hiểu được nước Ý (và thực ra nhiều nước khác nữa) ở thế kỉ hai mươi, ta cần xem cách thức Đảng Cộng sản làm thế nào có thể trở thành lực lượng đại diện cấp tiến về mặt ý định và thỉnh thoảng về mặt thành tựu; và làm thế nào cũng mắc phải sai lầm chết người do phụ thuộc vào Moskva. Không phải Thượng đế thất bại mà chính là tên độc tài được phong thần mang tên Stalin – hay chính xác hơn, lòng trung thành mù quáng vào thành công của Stalin là tàn tích của chủ nghĩa Cộng sản Âu châu. Calvino không phủ nhận lòng trung thành này, là thứ ông bắt đầu nhận ra như là “chứng tâm thần phân liệt”, sự gắn bó bị tách đôi ra của những người có thiện ý đối với một “hệ thống bi thảm và tàn bạo”. Nhưng ông không bao giờ trở thành một người cựu Cộng sản trừ khi xét theo nghĩa hẹp nhất. Hay có lẽ ta nên nói rằng ông không bao giờ trở thành người chống Cộng sản. Điều đó có khả năng, và Calvino thực hiện điều này rất tế nhị trong những bức thư và trong những bài tiểu luận, nhằm làm rõ quan điểm về những lỗi lầm của một người mà không tin rằng cuộc đời trước của họ không là gì ngoại trừ việc mắc sai lầm. Chính ở ý nghĩa này mà sự chiêm nghiệm về Tháp Babel thay vì Vườn Địa đàng sẽ cho nhà văn biết nhiều điều.

Để ví dụ về việc làm thế nào mà sự sáng tỏ của những bức thư này liên quan đến sự sáng tỏ được hoán chuyển, mang tính mỉa mai của một câu chuyện ngụ ngôn, mà ta có thể nhìn vào một trong những truyện thời kì đầu của Calvino, mang tên “Making Do” (Chỉ cần vậy thôi). Địa điểm là một khu làng nơi mọi thứ đều bị cấm đoán ngoại trừ việc chơi trò đánh trỏng. Không ai than phiền, ai nấy đều tận hưởng cuộc chơi. Rồi tình trạng tan chảy xuất hiện, hay là thời điểm của sự mở rộng tự do, và quan chức ở đó quyết định “không còn nguyên cớ nào để cấm đoán mọi thứ nữa”. Giờ đây mọi người được phép làm bất kì điều gì họ muốn. Tuy vậy, những gì họ muốn lại là tiếp tục chơi trò đánh trỏng, và khi các quan chức cố gắng ngăn chặn điều này, thì câu chuyện kể rằng, “bà con nổi dậy giết sạch bọn quan chức ấy”. Những từ ngữ cuối cùng của câu chuyện là, “Sau đó ngay tức thì, không một chút chậm trễ, bà con quay trở lại tiếp tục chơi trò đánh trỏng”.

Xét theo phương diện về thái độ thù hằn với sự thay đổi và dù vậy lại là lời chào mời mặc nhiên để có thể thực hiện những điều tốt hơn, câu chuyện đó có mối tương đồng gần gũi với câu chuyện rất lâu sau của ông có nhan đề “Thuyền dừng tại Antilles”, trong đó Donald Duck, người từng lênh đênh trên thuyền cùng với Francis Drake, bị người cháu trai làm phiền để tìm lời giải thích về thời điểm mà đoàn thuỷ thủ của tàu Anh và tàu Tây-ban-nha, thay vì đánh nhau, chỉ ngồi quan sát và chờ – đợi cơn gió hay có lẽ là đợi phát minh động cơ hơi nước. Đó là tất cả những gì xảy ra: không có gì cả. Hồi giữa những năm 1950, Calvino đang nghĩ đến Đảng Cộng sản Ý, mà bao quát hơn là nghĩ đến Chiến tranh lạnh, và sự thù địch giữa Nga và Trung-quốc. Và cả hai câu chuyện đó tất nhiên có thể được xem như ám chỉ đến một loạt những thực tại mà bản thân Calvino có lẽ không biết được, bởi vì như việc kèm với nơi sinh của ông tại San Remo, thì những trường hợp đó đều hư cấu nhưng tiếng vang vọng của nó trong thế giới này lại có thật. Việc Calvino phản đối phần dịch theo tiếng Pháp tựa đề cuốn “Hiệp sĩ không hiện hữu” của ông thành Le chevalier irréel đã làm cho điểm này trở nên hoàn hảo: “Tôi không bao giờ bảo rằng vị hiệp sĩ đó không có thật. Tôi nói rằng anh ta không hiện hữu. Điều đó rất khác biệt” (ngày 9 tháng Sáu, 1961).

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130522

Nguồn:

Calvino, Italo. “Introduction.” Italo Calvino: Letters, 1941-1985. Princeton: Princeton University Press, 2013.

Italo Calvino - Letters 1941-1985

Michael Wood là giáo sư ngữ văn và văn chương đối chiếu tại trường Đại học Princeton. Những cuốn sách gần đây nhất của ông là Yeats and Violence (Yeats và bạo lực) và A Very Short Introduction to Film (Dẫn nhập ngắn vào phim ảnh).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s