Vladimir Nabokov – Nghệ thuật chuyển dịch

 

Vladimir Nabokov

Nghệ thuật chuyển dịch

Duy Đoàn chuyển ngữ

Ta có thể nhận ra ba cấp độ sai trái trong cõi kì dị nơi xảy ra những cuộc luân hồi từ ngữ. Đầu tiên, cấp độ thấp hơn hết thảy, bao gồm những lỗi hiển nhiên, nguyên nhân là do thiếu hiểu biết hoặc có những tri thức lầm lạc. Đây là nhược điểm thuần tuý con người và do vậy có thể thứ tha được. Bước kế tiếp dẫn xuống Địa ngục xảy ra ở dịch giả nào cố tình bỏ qua những từ ngữ hay những đoạn văn mà họ không bận tâm đến chuyện hiểu hoặc những chỗ đó có vẻ tối nghĩa và tục tĩu đối với những độc giả mà họ mơ hồ hình dung trong đầu; dịch giả chấp nhận cái nhìn trống rỗng cuốn từ điển trao cho mình mà không một chút băn khoăn nào; hoặc đem chuyện tìm tòi nghiên cứu ra làm đối tượng của sự cứng nhắc: việc họ sẵn sàng biết ít hơn tác giả cũng ngang với việc họ nghĩ rằng mình biết nhiều hơn. Mức độ thứ ba, tệ nhất, của sự táng tận lương tâm sẽ đạt tới được khi một kiệt tác được cán và đập dẹp ra thành một dạng hình thù, tô điểm đẹp đẽ một cách ghê tởm theo một kiểu cách nhằm thuận theo những quan điểm và định kiến của một công chúng cụ thể nào đó. Đây là tội ác, cần phải trừng phạt bằng cách cho khoá chân tay vào cột gỗ giống như trừng phạt bọn đạo văn ở cái thời người ta bắt đầu dùng khoá cài giày.

Những sai lầm ngớ ngẩn trong hạng mục đầu tiên tiếp theo đó còn được chia thành hai lớp. Việc không đủ vốn kiến thức ngoại ngữ trong văn bản có thể biến một thành ngữ quen thuộc thành một phát biển đáng chú ý nào đó mà chính tác giả thực sự không bao giờ có ý tạo ra. “Bien être general” [nghĩa tiếng Anh là “general well-being” – “khoẻ mạnh toàn diện” ] trở thành câu khẳng quyết hùng hồn “it is good to be a general” [“thật tốt khi là một vị tướng”]; mà đám đông dũng cảm còn cho là ngọc quý, làm sinh ra vị dịch giả tiếng Pháp của “Hamlet”. Tương tự vậy trong bản tiếng Đức của Chekhov, một vị giáo viên nọ, ngay khi ông bước vào lớp học, bị buộc phải chúi đầu vào “tờ báo của ông,” điều này khiến cho nhà phê bình khoa trương nào đó bình luận về hoàn cảnh thê lương cho việc dạy dỗ công chúng ở nước Nga thời tiền Xô-viết. Nhưng Chekhov thực thụ chỉ đơn giản đề cập “cuốn sổ điểm” của lớp mà giáo viên sẽ phải mở ra để kiểm tra bài học, điểm số và những học sinh vắng mặt. Và ngược lại, những từ ngữ vô hại trong một cuốn tiểu thuyết tiếng Anh như “first night” [“đêm đầu tiên”] hay “public house” [“quán rượu”] thì trong bản dịch tiếng Nga lại trở thành “đêm thành hôn” và “nhà thổ”. Những ví dụ đơn giản này cũng đủ rồi. Chúng buồn cười và chói tai, nhưng chúng không chứa đựng mục đích nguy hại nào cả; và phần lớn câu chữ bóp méo thế này vẫn có thể tạo ra ý nghĩa nào đó trong bối cảnh nguyên gốc.

Loại sai sót ngớ ngẩn khác trong hạng mục thứ nhất bao gồm loại sai lầm tinh vi hơn, đó là sai lầm mà nguyên nhân do sự tấn công của chứng mù màu do ngôn ngữ gây nên bất thần làm dịch giả mù quáng. Bất kể do bị thu hút bởi điều xa vời khi điều hiển nhiên trong tầm tay (Người Eskimo thích ăn gì hơn – kem hay ăn mỡ động vật? Kem) hay bất kể đặt trong vô thức phần diễn dịch của họ dựa trên ý nghĩa lệch lạc nào đó vốn là thứ lặp lại những cuốn sách hằn sâu trong tâm trí dịch giả, thì họ xoay xở để làm méo mó đi từ ngữ chân thành nhất hay ẩn dụ vô vị nhất theo cách thức ít ai ngờ đến và đôi khi còn khá thông minh. Tôi biết một thi sĩ rất cẩn trọng vật lộn với bản dịch của một văn bản méo mó hơn nhiều nhằm diễn dịch “is sicklied o’er with the pale cast of thought” theo một cung cách như chuyển tải một ấn tượng về ánh trăng nhợt nhạt. Ông ta làm vậy bằng cách mặc nhiên cho rằng “sickle” chỉ đến hình thể trăng non. Và tính khôi hài dân tộc, được đưa vào vận hành bằng sự giống nhau giữa những từ tiếng Nga mang nghĩa “hình cung” và “củ hành,” đã làm cho một vị giáo sư Đức dịch “khúc uốn cong nơi bờ biển” (trong một truyện cổ của Pushkin) bằng “vùng biển củ hành” (the Onion Sea).

Tội lỗi thứ nhì, và nghiêm trọng hơn nhiều, của việc bỏ đi những đoạn văn gây khó hiểu vẫn có thể thứ tha được khi dịch giả bản thân cũng bị những đoạn đó gây lúng túng; nhưng một kẻ tự mãn thật đáng khinh khi mặc dù hắn khá thông hiểu ý nghĩa nhưng lại lo sợ nó có thể đánh đố tay ngốc xuẩn nào đó hoặc có thể làm suy đồi vị công tử nào đó! Thay vì hân hoan nép mình trong vòng tay của cây bút vĩ đại, thì hắn cứ lo lắng về việc vị độc giả bé nhỏ kia sẽ chơi đùa trong góc nhà với thứ gì đó nguy hiểm hay bẩn thỉu. Có lẽ ví dụ duyên dáng nhất của tính khiêm tốn thời Victoria mà tôi có thể bắt gặp được là ví dụ nằm trong bản dịch tiếng Anh của “Anna Karenina”. Vronsky đã hỏi Anna có chuyện gì xảy ra với nàng. “I am beremenna” [“Em beremenna rồi”] (đoạn in nghiêng của dịch giả), Anna trả lời, làm cho độc giả ngoại quốc tự nhủ thật là một căn bệnh Đông phương lạ lùng và dễ sợ làm sao; tất cả vì dịch giả nghĩ câu “I am pregnant” [“Em mang thai rồi”] có thể gây sốc cho tâm hồn trong trẻo nào đó, và nghĩ rằng tốt hơn nên để chữ Nga ngay tại vị trí đó.

Nhưng che đậy và làm cho bớt gay gắt có vẻ chỉ là những tội lỗi vặt vãnh nếu so với những tội lỗi thuộc hạng mục thứ ba; vì tại đây gã xuất hiện với dáng đi khệnh khạng và vung ra đôi cổ tay áo nạm đầy ngọc ngà, tay dịch giả lươn lẹo kia khi sắp xếp khuê phòng của Scheherazade theo sở thích bản thân và với nét tao nhã chuyên nghiệp thì hắn cố gắng cải thiện vẻ ngoài của những nạn nhân của mình. Do vậy đó là quy luật với những bản dịch tiếng Nga của Shakespeare khi cho Ophelia những đoá hoa đắt tiền hơn là mớ cỏ dại nghèo hèn, mà nàng tìm thấy. Bản chuyển dịch tiếng Nga của những câu sau

There with fantastic garlands did she come [Nơi đó có nàng cùng những vòng hoa dị thường]

Of crowflowers, nettles, daisies and long purples [Nào là mao lương, tầm ma, cúc trắng, lan tím thân dài]

nếu dịch ngược lại sang tiếng Anh thì sẽ thành thế này:

Nơi đó có nàng cùng những vòng hoa đáng yêu nhất

Nào hoa tím, cẩm chướng, hồng, huệ tây.

Vẻ tráng lệ của phần trưng bày hoa đã phát ngôn cho chính mình; nhân đó nó lược bỏ đi những phần lạc đề của Hoàng hậu, ban cho bà ta nét quý phái mà đáng buồn là bà ta không có và gạt bỏ ra luôn những kẻ chăn cừu phóng túng; việc có bất kì ai làm thế nào có thể tạo ra một bộ sưu tập thực vật như thế bên bờ sông Helje hay Avon lại là vấn đề khác.

Nhưng không có câu hỏi nào như thế được đặt ra nơi độc giả nghiêm nghị người Nga, trước tiên bởi vì anh ta không biết văn bản gốc, thứ nhì bởi vì anh ta cóc cần biết đến thực vật, và thứ ba bởi vì việc duy nhất làm anh ta hứng thú về Shakespeare là những gì các nhà bình giải Đức và những kẻ cực đoan bản xứ đã khám phá ra trên con đường của “những vấn đề vĩnh hằng”. Do vậy không ai để tâm đến chuyện gì xảy ra với lũ chó nhỏ của Goneril khi dòng

Tray, Blanch and Sweetheart, see, they bark at me [Con Khôn, con Trắng, con Ngoan, đó, chúng đang sủa ta đấy]

được biến hoá một cách dứt khoát thành

Một đàn chó đang sủa dưới chân ta

Toàn bộ những sắc màu cục bộ, toàn bộ những chi tiết xác thực và không thể thay thế lại bị đàn chó này nuốt chửng.

Nhưng đòn trả thù thật ngọt ngào – thậm chí đó là đòn trả thù trong vô thức. Truyện ngắn Nga vĩ đại nhất từng được viết ra là truyện “Áo bành-tô” của Gogol. Đặc điểm thiết yếu của nó, cái phần vô lí tạo nên dòng chảy ngầm bi thương của một giai thoại nếu xét mặt khác sẽ là vô nghĩa, nó được nối kết theo lối hữu cơ với văn phong đặc biệt chứa được câu chuyện này: có nhiều sự lặp lại lạ thường của cùng một trạng từ lố bịch, và những lặp lại này trở thành một loại thần chú rộng lượng hoặc khôn ngoan; có những mô tả trông có vẻ vô tư đúng mức đến khi bạn khám phá ra rằng hỗn độn nằm ngay góc rẽ, và rằng Gogol đã chèn vào câu chữ vô hại này kia một từ ngữ hay một từ so sánh làm cho đoạn văn bùng nổ thành cuộc phô diễn hoang dại của những màn pháo hoa trong cơn ác mộng. Ở đây còn có sự vụng về mò mẫm mà do tác giả chủ ý nhằm chuyển dịch có ý thức những cử chỉ thô lỗ thuộc về giấc mơ của chúng ta.

Không có thứ nào trong số này còn lại ở phiên bản tiếng Anh đạo mạo, và rất ư thực-tế (xin xem – và xin đừng bao giờ xem lại – “The Mantle” do Claude Field dịch). Ví dụ sau đây để lại cho tôi ấn tượng rằng mình đang chứng kiến một vụ sát nhân và không tể làm gì để ngăn chặn:

Gogol: …căn hộ [hèn mọn chính thức] của anh ta ở tầng ba hay bốn …phô bày một vài món đồ lặt vặt hợp mốt, chẳng hạn cái đèn là thí dụ – những món đồ lặt vặt mà phải hi sinh nhiều mới mua được…

Field: …đặt vào trong đó một số món đồ nội thất phô trương mua được, v.v. …

Thọc tay vào những kiệt tác quan trọng hay nhỏ nhặt của ngoại quốc có thể cần đến bên thứ ba vô tư trong vở hài nhộn nhạo này. Lúc trước có nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga nhờ tôi dịch một bài thơ Nga sang tiếng Anh – mà bốn mươi năm trước ông ta đã phổ nhạc. Ông ấy bảo rằng bản dịch tiếng Anh phải theo sát với ngay cả những âm thanh trong văn bản – mà văn bản đó không may lại là phiên bản của K. Balmont của bài thơ “Bells” [“Những tiếng chuông”] do Edgar Allan Poe sáng tác. Có thể sẵn sàng hiểu được vô số bản dịch của Balmont trông ra sao khi tôi nói rằng tác phẩm của chính ông ta lúc nào cũng tiết lộ một sự bất tài gần như bệnh hoạn để có thể viết nên một dòng chữ du dương. Sẵn có đủ những vần thơ sáo rỗng và cứ tiếp tục thế khi ông ấy cưỡi trên bất kì ẩn dụ nào về sự quá giang mà ông tình cờ gặp được, khi ấy ông chuyển một thứ mà Poe đã cố nhiều công sức sáng tác nên thành một thứ mà bất kì tay đặt vè người Nga nào cũng có thể phụt ra trong thoáng chốc. Khi chuyển ngược nó trở lại tiếng Anh tôi chỉ quan tâm đến việc tìm ra những từ ngữ tiếng Anh có âm phát ra giống với những từ tiếng Nga. Giờ đây, nếu ngày nọ có ai đó tình cờ gặp phải phiên bản tiếng Anh của tôi về phiên bản tiếng Nga kia, hắn có thể làm chuyện ngu ngốc là dịch lại nó sang tiếng Nga để cái bài thơ chẳng còn chút Poe ấy sẽ tiếp tục bị thành ra cái kiểu Balmont mà có lẽ chỉ chấm dứt khi “Những tiếng chuông” trở thành “Lặng im”. Có một thứ còn lố bịch hơn đã xảy ra với bài thơ “Invitation au voyage” đầy mộng mơ một cách trang nhã của Baudelaire (“Mon amie, ma soeur, connais-tu la douceur…”). Phiên bản tiếng Nga có được do ngòi bút của Merejkovsky tạo nên, người này thậm chí có tài năng thi ca còn kém hơn Balmont. Nó bắt đầu thế này:

My sweet little bride. [Cô dâu bé nhỏ ngọt ngào của ta ơi.]

Let’s go for a ride;  [Chúng mình hãy cùng làm một chuyến dạo chơi;]

Ngay tức thì nó khởi nên một giọng điệu nhộn nhạo và được bọn chơi đàn ống ngoài đường phố nước Nga áp dụng vào. Tôi thích hình dung việc một dịch giả tương lai người Pháp của những bài dân ca Nga sẽ chuyển nó lại sang tiếng Pháp thành:

Viens, mon p’tit,

A Nijni [một địa danh của Nga – ND]

Và cứ thế, ad malinfinitum. [đến hung cùng tận ác]

Khi ngăn lại những kẻ lừa lọc rành rành, những kẻ đần đần và những thi sĩ bất lực, thì đại khái là tồn tại ba loại dịch giả – và điều này không liên quan gì đến ba hạng mục tà ác kia; hay nói đúng hơn bất kì loại nào trong ba loại này có thể mắc lỗi theo cùng một cách giống nhau. Ba loại này là: loại học giả háo hức muốn truyền cho thế giới có được lòng trân trọng những tác phẩm của một thiên tài ít tiếng tăm ngang bằng với lòng trân trọng của bản thân anh ta; một tay viết thuê có thiện ý; và cuối cùng là cây bút chuyên nghiệp thư giãn cùng với một cộng sự ngoại quốc. Tay học giả, tôi hi vọng, sẽ chuẩn xác và tỉ mỉ: những cước chú – nằm cùng trang với văn bản và không bị kéo ra tuốt đằng sau cuốn sách – không bao giờ có thể quá thừa hay và quá chi tiết. Một quý cô cần cù dịch thuật vào giờ thứ mười một quyển thứ mười một trong bộ tác phẩm tuyển chọn của một ai đó, tôi e rằng, sẽ kém chuẩn xác và kém tỉ mỉ hơn; nhưng vấn đề không phải là tay học giả sẽ phạm phải ít lỗi ngớ ngẩn hơn kẻ lao dịch; vấn đề là như một qui luật cả anh ta và cô ta trong vô vọng đều hoàn toàn thiếu đi bất kì dáng vẻ nào của một thiên tài sáng tạo. Cả việc có học thức lẫn có sự cần mẫn đều không thể thay thế được trí tưởng tượng và phong cách.

Giờ xuất hiện một thi sĩ thực thụ, kẻ có cả hai điều quý giá kia và là người tìm thấy được sự thư thả khi dịch một mẩu thơ của Lermontov hay Verlaine xen vào giữa việc tự mình viết ra những bài thơ. Hoặc là anh ta không biết ngôn ngữ gốc và khoan thai dựa trên cái gọi là chuyển dịch “theo nghĩa đen” được thực hiện để đưa cho anh bởi một người kém sắc sảo hơn nhưng có chút học thức hơn, hoặc là anh ta biết ngôn ngữ gốc ấy, nhưng lại thiếu đi tính chính xác của học giả và kinh nghiệm của dịch giả chuyên nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế chính trong trường hợp này là thực tế rằng anh ta có tài năng cá nhân càng nhiều, thì anh ấy càng có thể dìm kiệt tác ngoại quốc kia xuống bên dưới những gợn sóng lăn tăn lấp lánh của phong cách cá nhân riêng anh. Thay vì khoác lên tấm áo của tác giả thực sự, thì anh ta khoác cho vị tác giả đó tấm áo của bản thân anh.

Giờ thì ta có thể suy ra được những yêu cầu mà một dịch giả phải sở hữu được nhằm có thể đưa ra phiên bản lí tưởng của một kiệt tác ngoại quốc. Trước hết anh ta phải có tài năng ngang với tác giả mà anh chọn, hay ít nhất cũng phải có được cùng một loại tài năng. Ở khía cạnh này, mặc dù chỉ ở khía cạnh này thôi, Baudelaire và Poe hoặc Joukovsky và Schiller đã tạo thành những bộ đôi lí tưởng. Thứ nhì, anh ta phải biết tường tận hai quốc gia và hai ngôn ngữ có liên quan và phải quen thuộc một cách hoàn hảo với tất thảy các chi tiết liên hệ đến cung cách và những phương pháp của tác giả; cũng như với bối cảnh xã hội của những từ ngữ, kiểu cách, lịch sử và những mối liên hệ thời kì của chúng. Điều này dẫn tới điểm thứ ba: mặc dù có được khả năng thiên tài và kiến thức nhưng anh ta phải sở hữu tài bắt chước và khả năng nhập vào, đúng là phải thế,  vai của tác giả thực thụ bằng cách diễn lại những thủ thuật thể hiện phong độ và cách nói của tác giả, diễn lại cách thức và tâm trí của ông ta, bằng vẻ chân thật đạt mức cực điểm.

Gần đây tôi có cố gắng dịch một số thi sĩ Nga, những người trước đây bị mất thanh danh vì những nỗ lực dịch thuật trước kia hoặc là những người hoàn toàn chưa bao giờ được dịch. Tiếng Anh tôi có được chắc chắn mỏng hơn tiếng Nga của tôi; sự khác biệt, thực ra, là thứ tồn tại giữa căn biệt thự chung vách và khu điền trang thừa kế, giữa sự an nhàn tự ý thức và sự xa hoa theo thói quen. Tôi do đó không thoả mãn với những kết quả đạt được, nhưng việc khảo xét của tôi đã tiết lộ ra một số quy luật mà những cây bút khác có thể có lợi thế khi làm theo.

Chẳng hạn, tôi phải đương đầu với dòng mở đầu sau đây của một trong những bài thơ phi thường nhất của Pushkin:

Yah pom-new chewd-no yay mg-no-vain-yay

Tôi đã chuyển dịch những âm tiết này bằng những âm tiếng Anh gần nhất có thể tìm ra; sự cải trang mô phỏng của chúng làm chúng trở nên khá xấu xí; nhưng không sao; chữ “chew” và chữ “vain” có mối liên hệ ngữ âm với những từ tiếng Nga khác mang nghĩa đẹp đẽ và những thứ quan trọng, và giai điệu của dòng thơ này với cụm “chewed-no-yay” đầy đặn, vàng ươm nằm ngay giữa cùng những kí tự “m” và “n” cân bằng lẫn nhau ở hai bên, đối với lỗ tai người Nga là những thứ kích thích và xoa dịu nhiều nhất – một kết hợp nghịch lí mà bất kì nghệ sĩ nào cũng sẽ hiểu được.

Giờ nếu bạn lấy từ điển và tra bốn từ này thì bạn sẽ có được câu văn xuẩn ngốc, nhạt nhẽo và quen thuộc sau đây: “Tôi nhớ một thời điểm tuyệt diệu”. Cần phải giải quyết ra sao với loài chim này mà bạn vừa bắn rơi rụng chỉ là phát hiện ra rằng không phải loài chim từ thiên đường, mà là một con vẹt tẩu thoát, đang rít lên thông điệp khờ dại của nó khi đang đập cánh dưới mặt đất? Bởi không có bất kì mức độ tưởng tượng nào có thể thuyết phục độc giả Anh ngữ rằng “Tôi nhớ một thời điểm tuyệt diệu” là khởi đầu hoàn hảo cho một bài thơ hoàn hảo. Điều đầu tiên tôi khám phá ra là phần biểu đạt “được dịch theo nghĩa đen” là thứ vô nghĩa không hơn không kém. “Yah-pom-new” là hành động lao xuống dòng quá khứ sâu thẳm và mượt mà hơn là “tôi nhớ”, là kiểu rơi xuống mà đưa phần bụng ra trước như một tay thợ lặn non nớt; “chewed-no-yay” có một con “quái vật” Nga đáng yêu trong nó, và một “sự lắng nghe” được thầm thì, cùng hậu tố ở thể tặng cách (dative) của “tia nắng”, và nhiều sự liên hệ đẹp đẽ khác giữa những từ tiếng Nga. Về mặt ngữ âm và tinh thần nó thuộc về một chuỗi từ ngữ nhất định, và chuỗi tiếng Nga này không tương ứng với chuỗi tiếng Anh trong đó tìm ra được cụm “tôi nhớ”. Và ngược lại, “nhớ” dẫu cho xung đột với chuỗi “pom-new” tương ứng, nhưng lại được nối kết với một chuỗi tiếng Anh của chính nó bất kì lúc nào các thi sĩ thực thụ có dùng đến nó. Và cái từ trọng tâm trong câu thơ “What are those blue remembered hills?” của Housman trở thành “vspom-neev-she-yesyah” trong tiếng Nga, một thứ rối bù ghê rợn, toàn gồ ghề và mấp mô, vốn không thể hoà vào nối kết bên trong với từ “xanh”, như nó làm được một cách mượt mà trong bản tiếng Anh, bởi vì trong tiếng Nga thì ý nghĩa về tính xanh thuộc về một chuỗi khác với từ “nhớ”.

Mối tương quan giữa các từ và sự không tương ứng giữa các chuỗi từ ngữ trong nhiều tiếng nói khác nhau gợi ra một quy luật khác nữa, đó là ba từ chính yếu của dòng thơ làm bật tiếng nói lẫn nhau, và thêm vào một thứ mà ắt hẳn không từ nào có được theo riêng rẽ hoặc theo bất kì sự kết hợp nào khác. Điều làm cho sự trao đổi này giữa các giá trị bí mật khả dĩ không chỉ là việc tiếp xúc đơn thuần giữa các từ ngữ, mà còn là vị trí chính xác của chúng liên quan tới nhịp điệu của dòng thơ và liên quan lẫn nhau. Điều này cần phải được dịch giả xem xét tới.

Cuối cùng, có một vấn đề về vần thơ. “Mg-no-vainyay” có hơn hai ngàn vần kiểu hộp đồ chơi Jack-in-the-box và chúng vọt ra khi có áp lực nhỏ nhất, trong khi tôi không thể nghĩ đến được một vần cho nghĩa “thời điểm”. Vị trí của “mg-no-vainyay” ở cuối dòng thơ cũng không thể bỏ qua, vì nó cho biết Pushkin không ít thì nhiều ý thức biết được rằng ông sẽ không phải săn tìm bạn đời của nó. Nhưng vị trí của “thời điểm” trong dòng thơ tiếng Anh không ngụ ý sự an toàn như vậy; ngược lại ông hẳn là một gã rất ư khinh suất khi đặt nó ở vị trí đó.

Do vậy, tôi đã đương đầu với dòng thơ mở đầu đó, đầy chất Pushkin, rất cá tính và hài hoà; và sau khi xem xét nó thận trọng từ nhiều góc độ khác nhau như đã được gợi ra ở đây, tôi xử lí được nó. Quá trình xử lí kéo dài suốt phần tồi tệ nhất của buổi đêm. Rốt cuộc tôi đã dịch được nó; nhưng đưa ra phiên bản của tôi vào lúc này có thể làm cho độc giả ngờ vực rằng sự hoàn hảo sẽ đạt được chỉ bằng cách làm theo một vài quy luật hoàn hảo.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130704

Nguồn:

Nabokov, Vladimir. “Art of Translation.” The New Republic: http://www.newrepublic.com/article/113310/vladimir-nabokov-art-translation

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s