BFI – 10 bộ phim tuyệt vời về mùa hè

Tác giả: Samuel Wigley

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Hè tới, và cuộc sống trông dễ chịu. Monsieur Hulot khởi hành trên chiếc xe ọp ẹp để đi du lịch ở bãi biển (Les Vacances de M. Hulot, 1953). Mười hai vị bồi thẩm đoàn do dự đã toát mồ hôi ướt đẫm hết áo trong một phiên toà ở New York (12 Angry Men, 1956). Sandra Dee đánh bóng tấm ván lướt sóng của mình (Gidget, 1959)…

Đây là quãng thời gian nóng nực, Jack Lemmon và Walter Matthau cố gắng xoa dịu cơn nóng bằng cách mở cửa tủ lạnh (The Odd Couple, 1967). Julie cứ theo Céline sau khi thấy cô nàng quẩn quanh đó với vẻ bối rối ở khu công viên nọ vào một buổi chiều huyền ảo tại Paris (Céline and Julie Go Boating, 1974). River Phoenix và những người bạn xuất phát đi tìm phần cơ thể bị thất lạc của cậu bé nọ (Stand by Me, 1986). Jesse Eisenberg nén lòng kiêu hãnh mình lại để làm công việc thời vụ tại một công viên giải trí ở địa phương (Adventureland, 20009)…

Với ý tưởng đưa mùa hè lên màn ảnh, một loạt những hình ảnh như thế ồ ạt xuất hiện ra, đó là những bộ phim thể loại tiệc tùng trên bãi biển hồi thập niên 1950 xô đẩy nhau với những cảnh nô đùa theo đợt sóng mới ở vùng nông thôn Pháp (Jules et Jim, 1962; Pierrot le fou, 1965). Có nhiều bộ phim dành cho thanh thiếu niên nói về lứa tuổi sắp trưởng thành suốt kì nghỉ hè dài đằng đẵng, và những bộ phim nói về tâm trạng người ta trở nên cáu bẳn khi phải chịu cái nóng oi bức nơi những thành phố lớn (Dog Day Afternoon, 1975; Falling Down, 1992). Có những bộ phim diễn ra ở phương đông, với bối cảnh nhiệt đới ở Việt-nam và Thái-lan, nơi đó người ta dễ có cảm giác nóng ẩm đến mức lúc nào bạn cũng đầm đìa mồ hôi (At the Height of Summer, 2000; Blisfully Yours, 2002).

Danh sách này liệt kê những bộ phim tuyệt vời về mùa hè và nó không hẳn là danh sách chung quyết: những bộ phim mùa hè giống như những kì nghỉ hè vậy, ai cũng có sở thích riêng. Nhưng đây là 10 bộ phim có thể làm bạn cảm giác được sức nóng của mùa hè, cảm giác được những buổi ban ngày dài đằng đẵng và những buổi đêm oi bức, cùng cảm giác về tự do và những khả năng có thể xảy ra trong đời.

Partie de campagne (1936)

Đạo diễn: Jean Renoir

Partie de campagne

Thập niên 1930 là quãng thời gian Jean Renoir can dự nhiều nhất vào những hoạt động chính trị tại Pháp, ông đạo diễn một loạt bộ phim phản ánh tư tưởng duy tâm xã hội của Mặt trận Bình dân (Front populaire). Nhưng khi nhìn thoáng qua thì bộ phim năm 1936 của ông, Partie de campagne, bắt nguồn từ truyện ngắn của Guy de Maupassant, trông giống cuộc rút lui khỏi thời hiện tại trở về lại với cảnh đồng quê điền dã thế kỉ 19 – một cõi sống quen thuộc với cha ông, hoạ sĩ Peirre-Auguste Renoir.

Câu chuyện giản dị về một gia đình tư sản Paris đi nghỉ hè tại vùng nông thôn, nơi đó cả bà mẹ lẫn cô con gái đều nhanh chóng được hai chàng Romeo địa phương để ý tới. Đây thực tế là một tác phẩm phi thường thể hiện sự khai phá điện ảnh trong đó xúc cảm của Renoir dành cho con người, những gương mặt, ánh sáng và độ sâu trường ảnh phát xuất từ mọi khung hình. Để cho âm thanh đừng trở nên khô khốc, hãy xem một khoảnh khắc nổi tiếng khi đó hai gã si tình kia giật mạnh mở cánh cửa chớp hướng ra khu vườn, ở đó Henriette (Sylvia Bataille) đang chơi xích đu – bất chợt dòng ánh nắng cuồn cuộn tràn vào và góc nhìn được mở toang ra là những chi tiết làm người xem say đắm không khác chi một sản phẩm điện ảnh.

Cơn mưa mùa hẹ làm gián đoạn cảnh đó, và – chỉ trong 40 phút – người ta thường nghĩ Partie de campagne là bộ phim chưa hoàn chỉnh, nhưng nhà phê bình David Thomson đề xuất ý rằng: “Nếu tình cờ đây là bộ phim đầu tiên mà bạn xem được, thì bạn có thể tự động đi đến kết luận rằng, Tại sao bất kì một bộ phim nào lại có thể diễn ra dài hơn?”

Summer with Monika (1953)

Đạo diễn: Ingmar Bergman

Summer with Monika

Thuỵ-điển gần như sở hữu toàn bộ cả mùa hè điện ảnh hồi thập niên 1950, với nhiều bộ phim gây nên cơn khuấy động ở ngoại quốc bằng nhiều câu chuyện ngây thơ tính dục của những nam thanh nữ tú đến tuổi trưởng thành dưới ánh nắng vùng Scandinavia. Giống như One Summer of Happiness (1951) của Arne Mattsson, Summer of Monika – một bộ phim đột phá về thương mại dành cho Ingmar Bergman – đã giúp định ra hình ảnh Thuỵ-điển như một đất nước giải phóng về mặt tính dục, nơi đó việc tắm tiên cũng như tự vấn lương tâm là những chuyện thường ngày ở huyện.

Bộ phim bắt đầu ở khu ngoại ô Stockholm tương đối tẻ nhạt, nơi đó những tình nhân trẻ tuổi Harry (Lars Ekborg) và Monika (Harriet Andersson) bị bó hẹp lại trong những công việc nhạt nhẽo, không lối thoát. Nhưng Harry nhanh chóng lấy trộm chiếc thuyền của cha mình và cả hai người bèn đi tận hưởng mùa hè thư thả tại một quần đảo Thuỵ-điển – sự thay đổi nhịp độ và khung cảnh mà Bergman đã mang đến bằng đoạn phim phi thường, như mơ chiếu những quang cảnh bên mạn thuyền, khi chiếc thuyền máy hướng từ bến cảnh đô thị chuyển sang vùng nước mông mênh đầy tự do. Không phải tất cả đều thơ mộng như vẻ ban đầu, khi mà sự nhàm chán và những mỏ neo trách nhiệm của người trưởng thành nhanh chóng tóm lấy cặp tình nhân này – nhưng phần giữa của phim Summer with Monika bao giờ cũng thâu gom được cái cảm giác về triển vọng thiếu thực tế của mùa hè.

Được người ta nhớ đến như là một đạo diễn phần nào u sầu với những bộ phim chính kịch tâm lí, Bergman đã có những tác phẩm xuất sắc đầu tay làm theo lối tiêu biểu cho mùa hè: Summer Interlude (1951), Smiles of a Summer Night (1955) và cảnh dã ngoại torng Wild Strawberries (1957).

Rear Window (1954)

Đạo diễn: Alfred Hitchcock

Rear Window

Có lẽ đây không phải lựa chọn hiển nhiên cho một bộ phim mùa hè, nhưng trong số nhiều thành tựu đạt được với Rear Window, Alfred Hitchcock cũng tạo nên bộ phim tuyệt nhất từng thực hiện nói về việc nhân vật bị mắt kẹt trong nhà khi mặt trời toả ánh nắng.

New York đang trải qua một đợt nóng bức, và nhiếp ảnh gia L. B. “Jeff” Jeffries bị bó buộc trong căn hộ Greenwich Village với cái chân bó bột sau một tai nạn ở trường đua. Nhiều người dưỡng bệnh ở vị trí anh sẽ coi phim hoặc tìm khối cách giết thời gian, nhưng trong những ngày này khi mà DVD chưa ra đời thì người đàn ông chán chường này bắt đầu thói quen quan sát những người hàng xóm của mình trong mấy căn hộ đối diện, dần dần quen thuộc với nhịp sống và công việc hàng ngày của họ trước khi bắt đầu nghi ngờ một trong số những người đó – Lars Thorwald (Raymond Burr thủ vai) – đã mưu sát chính vợ anh ta.

Bộ phim là một ẩn dụ ấm áp và hóm hỉnh về hành vi xem phim ảnh, và về bản năng của ta khi truy tìm ý nghĩa và những câu chuyện thường nhật. Phim của Hitchcock cũng nắm bắt được cảm giác về những buổi chiều nóng bức đó khi bạn buộc phải đi ngủ với cửa sổ mở toang và những âm thanh trong đêm tối từ đường phố cứ vọng lên.

The End of the Summer (1961)

Đạo diễn: Ozu Yasujirō

The End of Summer

Hết thảy những bộ phim chính kịch yên ả mang khung cảnh gia đình của Ozu Yasujirō đều nói về dòng thời gian trôi đi, sự đổi thay nơi vạn vật, và nỗi u hoài không tránh được tiếp theo đó. Kết quả là những mùa màng trong năm được khắc hoạ rõ nét trong tác phẩm của ông, trong đó thời điểm chớm thu hay thời điểm mùa xuân ùa về đánh dấu năm tháng lặng lẽ trôi, khi những cuộc sống gia đình gặp phải những cơn chấn động thoảng qua do cái chết, hôn nhân, và chuyện lũ trẻ bỏ nhà đi. Bạn có thể tạo thành bộ lịch trong năm từ những nhan đề của Ozu: Early Spring (Đầu xuân, 1956), Late Spring (Cuối xuân, 1949), Early Summer (Đầu hè, 1951), Late Autumn (Cuối thu, 1960), An Autumn Afternoon (Một buổi chiều thu, 1962)…

Đối với những ai sống quen thuộc với cái nóng êm dịu và những buổi đêm dài, thì còn có nhan đề nào có thể ảm đạm hơn nhan đề trong bộ phim áp chót của Ozu, The End of Summer [Kết thúc mùa hè]? Trừ khi nó là bản dịch trực tiếp từ tiếng Nhật, ‘Mùa thu cho gia đình Kohayagawa’, nhan đề này ràng buộc những thay đổi trong một cuộc sống gia đình vào sự kiện thế giới tự nhiên hao mòn theo chu kì khi những màn đêm buông xuống mỗi lúc một sớm hơn báo hiệu mùa đông đang gần kề. Thực tế, nhiều chi tiết trong phim The End of Summer cho thấy đạo diễn có tinh thần sôi nổi, khôi hài, khi nhân vật gia trưởng Manbei Kohayagawa đang tuổi về già (Ganjiro Nakamura thủ vai) lại chọc ghẹo mấy đứa con gái ngoan ngoãn của mình bằng cách trở về thời trai trẻ, thắp lên lại những ngọn lửa xưa cũ và buông mình vào những trò chơi trẻ con. Đây là một trong những bộ phim đầy khoái cảm của Ozu, ngập tràn những cảm giác về cái nóng ẩm khó chịu và tiếng vo ve đều đều của lũ côn trùng, tuy vậy lại nhuốm đầy điềm báo cho biết cái mùa ngây ngô này của Kohayagawa cũng có thể là những năm nhàn tản cuối cùng trong cuộc đời ông.

Jaws (1975)

Đạo diễn: Steven Spielberg

Jaws

Hòn đảo Martha’s Vineyard, ngoài bờ biển Massachusetts, vào mùa hè. Thoát khỏi bữa tiệc bãi biển của dân hippie, một cô gái đi băng băng dọc theo bãi cát với dáng điệu ve vãn, một người bạn mới đuổi theo tiếng gọi ái tình. “Chúng ta đi đâu đây?” chàng trai hỏi. “Đi bơi,” cô gái trả lời. Màn đêm buông xuống, ánh trăng lấp lánh trên mặt biển, và tên sát thủ khổng lồ đang dưới biển sâu chực chờ giáng xuống đòn kết liễu bi thảm cho buổi đêm hè yên vui này.

Bộ phim li kì Jaws về chuyện cá mập tấn công của Steven Spielberg là một bộ phim mùa hè theo nhiều lối khác nhau, không chỉ giới hạn ở chuyện đi bơi của những người đi nghỉ mát hăng hái mà còn tạo dựng khuôn mẫu cho thể loại hồi hộp của ấn phẩm bom tấn mùa hè từ trước đến nay. Khi một cảnh sát (Roy Scheider thủ vai), một nhà khoa học (Richard Dreyfuss thủ vai) và một ngư dân (Robert Shaw thủ vai) khởi hành ra biển khơi để tìm giết con cá mập trắng khổng lồ đã tấn công những người tắm biển trong kì nghỉ lễ, Spielberg đã tăng cường tình huống căng thẳng cho một Moby-Dick thời hiện đại, khi loài người và loài cá chiến đấu nhằm giành lấy uy quyền tối cao.

The Green Ray (1986)

Đạo diễn: Eric Rohmer

The Green Ray

Giống như một vài đạo diễn kể từ thời Ozu, Eric Rohmer là nhà làm phim của những mùa màng – ông lắng đọng mùa hè nườc Pháp lại thành những bản phim chính kịch mang chất cuồng tưởng khúc về những giác quan như trong phim Claire’s Knee (1970) và Pauline at the Beach (1982), tạo một ấn tượng uy nghi cho thành phố Clermont-Ferrand giá lạnh trong bộ phim My Night with Maud (1969) và trong loạt phim Những câu chuyện bốn mùa (1990-1998), một bản trường ca gồm bốn bộ phim cho bốn mùa trong năm.

Nhưng mùa hè là nơi con tim ông đặt hết mình vào. “À! Hãy để thời điểm tới khi con tim rung động,” là câu trích mở đầu (của Rimbaud) cho bộ phim năm 1986 The Green Ray của Rohmer, và ‘thời điểm’ ở đây chắc chắn là những tháng ngày nóng bức vào tháng Bảy và tháng Tám, trong đó mùa hè với chất phóng khoáng và tự do của mình đã làm cho điều tình cờ và tình yêu nảy nở từ đó.

Delphine vừa mới li hôn và cô đơn ở chốn Paris vắng lặng bóng người khi hè về, thế là cô thẫn thờ đi chu du từ nơi này sang nơi khác trong kì nghỉ hè của mình, tham dự buổi ăn trưa ngoài trời nơi này, tìm một người bạn nơi kia, nhưng không sao có được sự mãn nguyện mà cô đang tìm kiếm một cách mơ hồ. Chỉ đơn giản đặt lại nhan đề ‘Summer’ [Mùa hè] ở Mĩ, bộ phim của Rohmer đã vạch ra những vấn đề của con tim ngập ngừng bật lên trên bức chân dung đẹp tự nhiên của vùng bờ biển nước Pháp, hướng đến đường chân trời nhằm tìm ra sự cứu rỗi gần như bao cả tầm vũ trụ dưới hình thức ‘tia sáng xanh’ như chính tựa đề phim gợi nhắc, đó là thứ ánh sáng lung linh màu ngọc lục bảo xuất hiện thoáng qua mà người ta bảo rằng nó được phát ra từ mặt trời lúc chớm bình minh.

Do the Right Thing (1989)

Đạo diễn: Spike Lee

Do the Right Thing

 Lấy bối cảnh ở những ngày tháng nóng bức tại New York, bộ phim năm 1989 đầy trang cãi của Spike Lee đã ghi nhận những sự kiện nho nhỏ và những mối căng thẳng dẫn tới náo loạn tại Bedford-Stuyvesant, Brooklyn, diễn ra xung quanh tiệm bánh pizza của một tay người Mĩ gốc Ý đầy bảo thủ Sal Frangione (Danny Aiello thủ vai). Ernest R. Dickerson đã thực hiện những cảnh quay tô bật những sắc màu chính yếu, do đó ta có thể cảm nhận được sức nóng cận kề, suốt buổi ban ngày và khi thâm nhập vào những buổi đêm bạo lực. Đây cũng là bộ phim khiến bạn muốn ra ngoài tụ tập ngay trên bậc thềm với một số nhân vật, rồi cùng tranh luận và quan sát cõi sống trôi qua trước mắt.

Nhưng trong khi người xem bị lôi cuốn bởi những mô tả sáng sủa và rộn ràng của Lee về đời sống khu phố, thì Do the Right Thing cũng là bộ phim về cơn tức giận, như bức bích hoạ đả phá thể hiện nỗi bất mãn sôi sùng sục ở một thành phố hiện đại. Nó tạo nên sự kiện giật gân khi lần đầu tiên công bố, và tỏ ra quá kích động để các giải thưởng Oscar có thể chạm vào: bộ phim độc đáo đến mức táo bạo của Lee không được ứng cử cho hạng mục phim hay nhất. Thay vì vậy, đó là năm của Driving Miss Daisy – một bức khắc hoạ êm đềm hơn, phản động hơn về những mối quan hệ chủng tộc.

Dazed and Confused (1993)

Đạo diễn: Richard Linklater

Dazed and Confused

Mùa hè, mùa bãi trường. Thực vậy, đó là khoảng thời gian bãi trường bất tận trong bộ phim gợi xúc cảm mạnh mẽ năm 1993 của Richard Linklater về lứa tuổi sắp trưởng thành trong những ngày cuối cùng ở trường trung học đối với một nhóm những thanh thiếu niên Texas trước khi bước vào mùa hè dài, nóng nực… và giai đoạn trưởng thành sau đó.

Lấy bối cảnh năm 1976, một vài năm sau bản đơn ca kinh điển School’s Out của Alice Cooper đã tóm gọn trong ba phút toàn bộ cảm giác phấn khởi khi hết học kì, bộ phim của Linklater đã dùng dàn diễn viên – trong đó có những ngôi sao tương lai như Ben Affleck, Milla Jovovich và Matthew McConaughey – cho hỗn hợp nhân vật quen thuộc như bọn cầu thủ, bọn ngốc và bọn bỏ học. Nhưng điều làm cho Dazed and Confused nổi bật so với những phim thanh thiến niên khác là lòng trắc ẩn của Linklater đối với từng vai diễn và sự tập trung đầy lôi cuốn vào những chi tiết thuộc về một thời xa xưa và bầu không khí của những buổi chiều tối nóng nực mùa hè. Làm gợi lại những phim The Last Picture Show (1971) và American Graffiti (1973), toàn bộ những cơn nhộn nhạo của những buổi tiệc bia, những nghi thức trêu ghẹo bọn đàn em và những lần rảo rảo quanh thị trấn kiếm trò vui, tất thảy những điều ấy dần dần ngập tràn một cảm giác bi ai – đối với những nhân vật vô tư trong phim – rằng không có mùa hè nào sẽ lại như mùa hè này.

My Summer of Love (2004)

Đạo diễn: Pawel Pawlikowski

My Summer of Love

Nói đùa về ‘mùa hè’ ở Anh quốc là điều quen thuộc, nhưng cảnh đầu phim My Summer of Love của Pawel Pawlikowski đã cho thấy một thứ mà ta không thường gặp ở những bộ phim Anh quốc: sương mù khí nóng, trỗi lên trên khung cảnh đồng quê nơi những ngọn đồi và cánh đồng vùng Yorkshire, những cột điện báo trải ra kéo dài liên tục khắp khoảng giữa khung hình. Khác xa với chất hiện thực rối bù của những vở kịch tả thực khác, đạo diễn người Ba-lan đã nắm bắt được một mùa hè mang chất Anh khi mà trời vừa đủ nóng để có thể tắm nắng bên sườn đời, để nhảy xuống làn nước mát ở con sông trong khu rừng, hoặc bỏ ra hàng giờ ở trong một khu vườn khi mặt trời vừa tắt nắng.

Đây là câu chuyện về một thiếu nữ (Natalie Press thủ vai), bị khai trừ bởi người anh trai sùng đạo từng vào tù ra khám, cô tìm thấy được tình bạn nơi người hàng xóm ăn nói khéo léo, Tamsin (Emily Blunt thủ vai). Do cha mẹ của Tamsin thường xuyên vắng mặt suốt mùa hè, nên bộ đôi này có thể ra vào căn nhà miền quê của cha mẹ Tamsin, kể cho nhau những câu chuyện, cùng chơi những trò này kia và phải lòng nhau – vần quanh mối quan hệ tình ái này là những điều mộng tưởng, tán tỉnh và những lời nói dối. Gần một thập niên trôi qua, cành điền dã hớp hồn người xem của Pawlikowski vẫn còn hiên ngang nằm trong số những bộ phim hay nhất về mùa hè.

Our Beloved Month of August (2008)

Đạo diễn: Miguel Gomes

Our Beloved Month of August

Nếu vẫn chưa đủ đô, hãy nghĩ đến bộ phim thú vị này, lấy bối cảnh những ngày hè nóng điên dại ở vùng đồi núi miền trung Bồ-đào-nha, tựa như phiên bản Nashville (1975) của Bồ-đào-nha vậy. Giống bộ phim của Robert Altman, đây là phim nói về một đám đông tự do tự tại trong khung cảnh lễ hội âm nhạc đang diễn ra, hoà quyện chất hư cấu với những yếu tố trông giống phim tài liệu ở cách thể hiện tự nhiên lẫn cách tập trung vào thời điểm cụ thể. Các nhân vật cứ lượn ra lượn vào, bộ phim lúc thì hướng về buổi trình diễn âm nhạc, lúc thì dừng lại ở một nghi lễ địa phương nào đó, và đạo diễn Miguel Gomes dường như chỉ lưu tâm đến cách làm thế nào đó mà thâu gom được mớ sinh hoạt phong phú này thành từng phần một.

Đây cũng là bộ phim nói về việc làm phim, trong đó nhân vật đạo diễn mang tên Gomes (Armando Nunes thủ vai) tới một ngôi lành để quay phim kinh dị dựa trên truyện cô bé quàng khăn đỏ. Nhưng kế hoạch này phá sản – thay vào đó đoàn phim chuyển sang quay khu cộng đồng nơi ấy đang tận hưởng một mùa hè thư thái. Dần dần, câu chuyện trỗi lên từ kiểu nửa phim truyện nửa tài liệu ấy, trong đó có Tânia (Sónia Bandeira thủ vai) là ca sĩ của một trong những ban nhạc pop Âu châu tại lễ hội, cô nàng mê tít người anh họ mình. Đạo diễn Miguel Gomes sau này nhận được nhiều tán thưởng hơn vì chính bộ phim huyền ảo bối cảnh ở châu Phi Tabu (2012), nhưng Our Beloved Month of August chính là bộ phim đầu tiên làm cho người xem công nhận một tài năng mới, độc nhất và hẳn là lập dị.


Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130709

Nguồn:

Wigley, Samuel. “10 great summer films.” BFI, 6/2013. http://www.bfi.org.uk/news-opinion/news-bfi/lists/10-great-summertime-films

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s