Ferric C. Fang & Arturo Casadevall – Tại sao ta lại gian lận

 

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall

Tại sao ta lại gian lận

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tay đua xe đạp Lance Armstrong đã lên tiếng xin lỗi vì dùng chất kích thích cải thiện phong độ để giành được bảy danh hiệu Tour de France. Anh ta cho việc gian lận này là do lòng kiên quyết “chiến thắng bằng mọi giá”. Nhà tâm lí học Marc Hauser tại trường Harvard University, người từng viết bài báo nhan đề “Costs of Deception: Cheaters Are Purnished…” hiện đang thất nghiệp sau công việc ở U.S. Office of Research Integrity (Sở liêm chính trong nghiên cứu tại Hoa-kì), kết luận rằng ông đã “nguỵ tạo dữ liệu, chi phối kết quả ở nhiều thí nghiệm khác nhau, và mô tả cách thực hiện những nghiên cứu theo những phương cách thực sự thiếu chính xác.” Mười sáu ngân hàng đã đồng ý trả tiền phạt hoặc đang bị điều tra vụ thao túng Libor, một dạng lãi suất mà các ngân hàng có thể dùng để vay tiền từ những ngân hàng khác, và đây được coi là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử thị trường.

Những trường hợp này chỉ là một phần trong dòng chảy dường như bất tận các vụ bê bối gian lận xuất hiện trên báo đài, gây tác động đối với thể thao, khoa học, giáo dục, tài chính và những địa hạt khác. Mặc dù thật dễ chịu khi nghĩ rằng hầu hết mọi người về căn bản đều thành thật, nhưng việc gian lận – được định nghĩa là hành vi thiếu trung thực nhằm đạt lợi ích nào đó – thực sự là hiện tượng phổ biến đáng kinh ngạc. Theo khảo sát năm 1997, giáo sư ngành quản lí Donald McCabe thuộc trường Rutgers University và Linda da Klebe Treviño, giáo sư về hành vi tổ chức ở trường Pennsylvania State University, đã tiết lộ rằng khoảng ba phần tư trong só 1,800 sinh viên ở chín trường đại học bang đã thừa nhận gian lận trong thi cử hoặc trong những bài luận trên lớp. Năm 2005, nhà xã hội học Brian Martinson thuộc Health Partners Research Foundation ở Bloomington, Minnesotta và những đồng nghiệp của ông đã báo cáo rằng một phần ba số khoa học gia đã thú nhận có can dự vào những công việc nghiên cứu khả nghi trong suốt ba năm qua.

Gian lận không giới hạn ở con người; nó còn được ghi nhận trong khắp thế giới sự sống, ở bất kì nơi đâu mà có sự cạnh tranh giành lấy những nguồn tài nguyên hạn chế. Mặc dù đâu đâu cũng có, nhưng hành vi gian lận có thể gây tổn hại rất nhiều cho cá nhân và xã hội. Những kẻ gian lận bị bêu xấu và có thể mất công ăn việc làm. Công việc lừa đảo làm lãng phí nguồn tài nguyên. Những người theo luật lại bị tước đoạt phần thưởng mà họ xứng đáng có. Còn có những tổn thất khác ngoài ý muốn. Những đồng đội của Armstrong bị buộc phải làm theo kế hoạch dùng thuốc kích thích và bị đe doạ khi họ cố vạch trần sự thật. Những nghiên cứu khoa học thiếu trung thực có thể làm những nhà nghiên cứu khác lầm đường lạc lối, có thể dẫn đến những chính sách công sai lầm và có thể gây hại cho bệnh nhân khi những quyết định lâm sàng lại dựa trên nguồn thông tin sai sót.

Những vấn đề như vậy đã dẫn tới nhiều ràng buộc hiệu quả đối với chuyện gian lận – nhưng những cách kiểm soát hiện có trong xã hội con người có thể cần tinh chỉnh. Khi cố gắng hiểu rõ hơn về hành vi gian lận, thì các nhà khoa học đã khám phá ra rằng tính sáng tạo, nỗi sợ mất mát và việc quan sát hành vi thiếu trung thực có thể thúc đẩy chuyện gian lận hoặc làm cho chuyện gian lận có nhiều khả năng xảy ra hơn. Những xúc phát này, cùng với nhận thức ngày càng tăng cho rằng chuyện gian lận có thể lây nhiễm, có thể giúp cắt nghĩa “dịch bệnh” lừa dối xảy ra gần đây trong giới học thuật và nó còn giúp đưa ra các chiến lược nhằm làm giảm độ lan truyền của hành vi thiếu trung thực. Công trình khoa học không nhằm làm miễn nhiễm với chuyện gian lận mà nó giúp ta hiểu được lí do tại sao con người lại gian lận và có thể làm gì với chuyện này.

Những nguồn gốc của sự lừa dối

Về bản tính, chuyện gian lận đã tiến hoá như một cách để một số sinh vật có được lợi thế hơn so với các sinh vật khác mà không phải bỏ ra công sức. Đối với một người, thì việc tính toán đơn giản thế này: Liệu tôi có thể khi không có được điều gì đó mà không bị bắt hay bị phạt? Ở mọi cấp độ, sẽ có một số sinh vật sống liều lĩnh. Nhà vi mô sinh vật học E. Peter Greenberg của trường University of Washington phát hiện một số vi khuẩn Pseudomonas đã khai thác những món hàng công cộng do các vi khuẩn hợp tác khác sản sinh ra mà không san sẻ phần của mình. Tương tự vậy, nhà sinh vật học hệ thống Alexander van Oudenaarden thuộc Massachusetts Institute of Technology phát hiện rằng một số tế bào nấm men Saccharomyces đã gian lận bằng cách dùng sản phẩm của enzyme chuyển hoá đường được hình thành nhờ sức lao động của các tế bào khác.

Đi ngược lên theo chuỗi thức ăn (food chain), loài cá lau dọn (cleaner fish) nhỏ li ti cũng nổi tiếng lạm dụng các mối quan hệ để trục lợi cho riêng mình. Chẳng hạn loài cá lau dọn Labroides ăn mấy con kí sinh bám vào loài cá vẹt Chlorurus, và cá lau dọn thường phục vụ loài cá lớn hơn theo từng cặp đực-cái hợp tác với nhau. Tuy nhiên cá lau dọn lại thích ăn chất nhầy tiết ra từ da cá vẹt. Khi một con cá lau dọn lấy được chất nhầy đó thay vì ăn bọn kí sinh, nó đã lừa không cho loài cá vẹt được lợi theo thoả thuận. Nhà sinh vật học Redouan Bshary thuộc trường Đại học Neuchâtel ở Thuỵ-sĩ và những đồng nghiệp đã quan sát được loài cá vẹt thường phản ứng lại với hành vi như thế bằng cách bỏ đi chỗ khác, thế là cả con cá gian lận lẫn bạn đồng hành nghiêm túc của nó vuột mất đi phần thức ăn. Để trừng phạt, con cá lau dọn bị thua thiệt thỉnh thoảng sẽ rượt theo bạn đồng hành của nó. Thế lưỡng nan xuất hiện để ngăn trở hành vi gian lận của cá lau dọn, dựa vào sự kiện rằng bọn cá lau dọn có nhiều khả năng gian lận hơn nếu ăn một mình.

Tuy nhiên nếu chỉ đơn giản cân bằng giữa cái giá phải trả và lợi ích, như bọn cá làm, thì không thể giải thích được về mặt tâm lí học cho hiện tượng này ở loài người. Để có ước đoán gần hơn, ta phải nhìn vào loài linh trưởng khác, vốn có lớp vỏ não mới (neocortex, lớp vỏ ngoài bộ não chịu trách nhiệm cho ý thức, tư duy và ngôn ngữ) lớn và vô cùng phức tạp. Ngược lại cấu trúc này có kích cỡ nhỏ và trơn ở những loài động vật có vú nhỏ và vắng mặt ở một số loài vật khác. Các nhà linh trưởng học, tâm lí học và khoa học thần kinh từ lâu đã nghi ngờ rằng những thách thức do những nhóm xã hội linh trưởng đặt ra đã dẫn đến quá trình tiến hoá ấn tượng ở vùng vỏ não mới của linh trưởng, vốn là thứ chịu trách nhiệm cho bước nhảy vĩ đại về phía trước về mặt trí tuệ.

Một biểu thị quan trọng cho trí tuệ xã hội là khả năng lừa dối. Việc lừa dối có chiến thuật là điều thường thấy ở những loài linh trưởng. Nhà động vật hành vi học Hans Kummer thuộc trường Đại học Zurich đã mô tả rõ ràng hành vi gian lận ở loài khỉ đầu chó ở Ethiopia: những con khỉ cái ở tuổi vị thành niên giao phối với con khỉ đực tuổi vị thành niên và chúng núp đằng sau những tản đá để giấu những hành động của mình trước những con đực đầu đàn. Nhà linh trưởng học Frans de Waal thuộc trường Emory University đã ghi nhận những ví dụ về lừa dối ở loài tinh tinh sống trong môi trường giam hãm. Năm 2004, những nhà tâm lí học Richard W. Byrne thuộc trường University of St. Andrews ở Scotland và Nadia Corp, hiện công tác tại trường Keele University ở Anh, đã chứgn tỏ rằng kích cỡ lớp vỏ não mới tiên đoán được mức độ loài linh trưởng thực hành việc lừa dối. Ở những loài này, lớp vỏ não mới càng lớn, thì những cá nhân trong xã hội đó sẽ càng dùng nhiều những chiến thuật thiếu trung thực nhằm thao túng xã hội.

Scientific American Mind - Why we cheat 01

Một cách bất công, những tế bào men (trái) lấy đi những chất hoá học do các tế bào khác tạo ra. Cá lau dọn (cá nhỏ, ở giữa) có thể lấy trộm chất nhầy từ cá vẹt (không có trong hình) để làm bữa tối thay vì tỏ ra giúp ích bằng cách ăn những con kí sinh. Trong số loài khỉ đầu chó (phải), thì những con cái vị thành niên đã lừa dối con đực đầu đàn bằng hành động giao phối với con đực trẻ hơn ở đằng sau mấy tảng đá.

Mọi người cùng gian lận một ít

Đáng ngạc nhiên là con người dễ sa vào chuyện gian lận khi thời cơ thích hợp. Năm 2008, nhà kinh tế hành vi Dan Ariely thuộc trường Duke University và đồng nghiệp của ông đã mô tả những gì xảy ra khi họ yêu cầu các sinh viên đại học giải các bài toán để đạt được phần thưởng bằng tiền mặt. Khi các nhà nghiên cứu thay đổi hoàn cảnh thí nghiệm sao cho các sinh viên nghĩ rằng người giám thị không thể phát hiện việc gian lận, thì lúc ấy số điểm kiểm tra trung bình mà các sinh viên tự báo cáo tăng lên đáng kể. Các nhà nghiên cứu xác định được những điểm số ấy không phải được thổi phồng lên từ một vài sinh viên gian lận nhiều, mà thay vào đó là từ nhiều sinh viên gian lận chút ít.

Dường như hiển nhiên khi cho rằng con người, cũng như các loài vật khác, bị cái lợi tiềm tàng thúc đẩy dẫn tới hành vi gian lận. Nếu những kẻ gian lận chỉ đơn giản tính toán giữa công sức và lợi ích, thì ta có thể tiên đoán con người hẳn sẽ gian lận càng nhiều càng tốt chứ không chỉ một chút ít thôi. Tuy nhiên trong nghiên cứu của Ariely, trung bình các sinh viên báo cáo lại sáu câu trả lời đúng trong khi họ chỉ có bốn câu đúng thôi, dù cho họ có thể nâng điểm số của mình lên tối đa 20 câu đúng. Ngoài ra, không có mối liên hệ đơn giản nào tồn tại giữa độ lớn của giải thưởng và khả năng thực hiện hành vi gian lận. Khi đội ngũ của Ariely tăng giải thưởng tiền mặt lên, thì số lượng hành vi gian lận thực sự giảm xuống. Ariely cho biết các sinh viên cảm thấy tội lỗi khi họ gian lận nhiều hơn hoặc khi họ nhận được số tiền lớn hơn nhờ vào hành vi thiếu trung thực. Tức là, lương tâm con người đã đặt giới hạn cho mức độ gian lận mà họ sẽ can dự vào. Một khả năng khác là các sinh viên nghĩ rằng họ ít bị chú ý hơn nếu họ chỉ gian lận một ít thôi.

Tuy vậy, không phải ai cũng có thể có hành vi gian lận ngang bằng nhau. Năm 2011, Ariely và nhà kinh tế học hành vi Francesca Gino thuộc trường Harvard Business School báo cáo lại rằng những người đạt điểm số cao hơn ở những bài kiểm tra tâm lí học về tính sang tạo thì thường có khuynh hướng can dự vào việc thiếu trung thực nhiều hơn – sự nối kết này có lẽ không gây ngạc nhiên khi ta biết được tính sáng tạo và việc lừa dối có chiến thuật đều là sản phẩm của lớp vỏ não mới. Tuy thế Gino và Ariely tin rằng hai điều đó không chỉ có mối tương liên về mặt giải phẫu học mà còn liên kết nhau về mặt nhân quả. Họ cho rằng những người sáng tạo có nhiều khả năng tự lừa dối mình hơn: họ nảy ra được nhiều cách giải thích duy lí sáng tạo hơn để gian lận như một cách tự làm cho bản thân cảm thấy tốt hơn khi thực hiện điều đó. Như Proust nhận định trong tác phẩm À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất), “Không chỉ bởi việc nói dối với người khác, mà còn bởi nói dối với bản thân mà chúng ta không còn nhận ra mình đang nói dối.” Hoặc như George bảo với Jerry 75 năm sau trong loạt phim truyền hình Seinfield, “Đó không phải lời nói dối nếu bạn tin nó.” Mỉa mai thay, tính sáng tạo và trí thông minh mà chúng ta xem là của riêng con người lại có thể nảy sinh cùng với khả năng lừa dối của chúng ta. Chúng ta là những người như ta đang tồn tại chính là vì chúng ta có hành vi gian lận.

Giới tính cũng đóng vai trò xác định ai sẽ lừa bịp bạn mình. Cùng với nhà bệnh lí học thực vật (plant pathologist) Joan W. Bennet thuộc trường Rutgers University, chúng tôi gần đây đã quan sát được rằng trong số những nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học sự sống (life sciences), thì giống đực có nhiều khả năng giận lận hơn. Hành vi sai trái xuất hiện ở những người đó tại tất cả các cấp độ trong hệ thống thang bậc thuộc giới học thuật, từ sinh viên đến giáo sư, nhưng nam giới chiếm trội hơn trong số những người phạm tội. Cũng như họ phạm nhiều tội ác hơn trong xã hội nếu xét trên tổng thể, thì nam giới dường như có nhiều khả năng hơn để trở thành kẻ bịp bợm trong giới học thuật. Mặcdù chúng tôi chưa biết chính xác lí do tại sao nam giới lại có thể đi chệch con đường luân lí nhiều hơn, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đã có được những thấu hiểu về những điều thúc đẩy hành vi gian lận.

Ngoài lợi ích tiềm năng, thì nỗi sợ mất mát cũng có thể gây ra sự thiếu trung thực. Thực tế, nhà nghiên cứu tiếp thị Scott Rick, hiện công tác tại trường University of Michigan, và nhà tâm lí học hành vi George F. Loewenstein, hiện đang công tác tại trường Carnegie Mellon University, đã lưu ý rằng nỗi kinh sợ thậm chí là yếu tố thúc đẩy mãnh liệt hơn cả lòng ham muốn giải thưởng. Trong lời bình về bài nghiên cứu năm 2008 của Ariely và đồng nghiệp, Rick và Loewenstein nhận định rằng nhiều trường hợp thiếu trung thực ở thế giới thực xảy ra khi người ta thấy mình lâm vào tình huống sắp sửa mất tiền bạc, danh tiếng hay sự nghiệp.

Scientific American Mind - Why we cheat 02

Gian lận khi kiểm tra là điều phổ biến đáng ngạc nhiên. Cách ngăn trở tốt nhất là hướng đến tự nhận thức bản thân. Người ta sẽ không sao chép bài người kết bên nếu điều đó làm họ cảm thấy bản thân tồi tệ. Lời gợi nhắc về luân thường đạo lí trước lúc bắt đầu kiểm tra có thể ngăn chặn được nhiều hành vi dòm lén bài người khác.

Chúng tôi tin rằng nỗi lo âu về việc mất mát là một yếu tố quan trọng làm phát sinh chuyện gian lận trong lĩnh vực khoa học. Cùng với nhà khoa học thần kinh và cây bút y khoa R. Grant Steen thuộc tổ chức Medical Communications Consultants ở Chapel Hill, North Carolina, chúng tôi khảo sát hơn 2,000 bài báo khoa học bị rút lại, hầu hết trong lĩnh vực khoa học sự sống. Năm ngoái chúng tôi báo cáo rằng phần lớn trường hợp rút bài đó là do cách nghiên cứu không đứng đắn, thường thấy nhất là lừa đảo. Thậm chí sau khi điều chỉnh lại con số các bài báo khoa học đang tăng nhanh, chúng tôi phát hiện tỉ lệ rút bài vì lừa đảo đã tăng gần 10 lần trong hai thập niên qua. Xu hướng này song hành với áp lực và sự cạnh tranh ngày càng tăng để có được những nguồn trợ cấp nghiên cứu và các công việc học thuật. Cái môi trường xuất-bản-hay-là-chết trong giới học thuật đã gây tác động đến chuyện nếu một khoa nào đó không đủ số bài báo hay chi phí thì có thể mất đi khoảng không gian nghiên cứu, địa vị và công việc. Kết quả là nhiều hành vi gian lận trong giới học thuật có thể bắt nguồn từ mối lo lắng về kết cuộc có thể xảy đến cho sự nghiệp hơn là vì thanh thế của việc xuất bản.

Nhà sinh lí học Eric Poehlman thuộc trường University of Vermont, một trong những nhà khoa học hiếm hoi phải ngồi tù vì có hành vi nghiên cứu sai trái, đã phát biểu rằng ông “rất, rất lo lắng”về khả năng hậu thuẫn cho các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của chính ông. “Tôi đã nằm trong guồng rồi, và không thể thoát ra được,” ông nói với thẩm phán liên bang tại buổi xử án hồi tháng Sáu năm 2006. Trong một nghiên cứu công bố năm ngoái [2012], nhà tâm thần học Donald Kornfeld, giáo sư danh dự (emeritus professor) ở College of Physicians and Surgeons, thuộc trường Columbia University, kết luận rằng điều thúc đẩy chính yếu cho hành vi sai trái của những nhà nghiên cứu tập sự là nỗi sợ họ sẽ thất bại trong việc thăng tiến sự nghiệp. Khả năng mất mát có thể xảy đến đã tạo ra cái mà Rick và Loewenstein gọi là “siêu động lực” (hypermotivation) để gian lận, là điều khiến cho nhiều người vượt qua những ràng buộc đạo thức thông thường.

Lừa dối xảy ra tràn lan

Gian lận này có thể sinh ra gian lận nọ nếu không có gì ngăn chận tiến trình. Một khi người ta đã vượt qua được rào cản ban đầu để thực hiện hành vi gian lận, thì những trở ngại sau này đối với hành vi thiếu trung thực có thể chỉ còn là những chuyện nhỏ để họ vượt qua lần nữa. Ariely gọi phản ứng này là hiệu ứng “quỉ tha ma bắt” (“what the hell” effect), giống như “quỉ tha ma bắt, tôi đã làm hỏng chế độ ăn kiêng rồi, do vậy tôi cũng có thể ăn món tráng miệng.” Trong nghiên cứu về những bài khoa học bị rút lại, chúng tôi quan sát hành vi sai trái lặp đi lặp lại của những nhà khoa học mà đối với họ lừa đảo đã trở thành một thói quen. Trường hợp cực độ nhất gần đây là vụ bác sĩ gây mê Yoshitaka Fujii, trước đây công tác tại trường Đại học Toho ở Tokyo, là người được cho rằng đã nguỵ tạo dữ liệu trong 183 bài báo khoa học.

Một cách khác mà việc gian lận có thể lan truyền là thông qua hành vi bắt chước mù quáng. Khi thấy người khác gian lận mà không để lại hậu quả nào rõ ràng thì điều đó sẽ càng khuyến khích người khác làm tương tự. Người ta chỉ cần theo dõi khách bộ hành đứng đợi ở lối qua đường hay những hành khách chen hàng ở trạm xe buýt là thấy được những ví dụ cho hiện tượng này. Năm 2011, hai nhà tâm lí học Agata Blachnio và Malgorzata Weremko thuộc trường Catholic University of Lublin ở Ba-lan đã mô tả một thí nghiệm trong đó các sinh viên làm bài kiểm tra chính tả trong căn phòng được người ta bí mật gắn tấm gương một chiều. Có quyển từ điển và quyển từ đồng nghĩa trong phòng, nhưng người ta yêu cầu sinh viên không được dùng chúng. Khi có mặt một người phụ tá trong phòng đóng giả làm người gian lận, thì khả năng các sinh viên khác cũng gian lận tăng lên gấp ba lần. Thực tế, hành vi thiếu trung thực mà không bị phát hiện có thể làm tăng nhận thức cho rằng người ta phải gian lận để có thể giữ được thế cạnh tranh.

Những quan sát như vậy khiến cho Ariely suy ra rằng việc gian lận có thể “lây nhiễm”. Với vai trò là những bác sĩ chuyên về bệnh lây nhiễm, chúng tôi thấy ẩn dụ này thật sự hấp dẫn. Loại bệnh truyền nhiễm xã hội này có thể giúp cắt nghĩa tại sao việc gian lận trong một nhóm người tương đối nhỏ lại có khả năng lây lan cao đến vậy. Chẳng hạn, 125 sinh viên Harvard gần đây bị điều tra về hành vi gian lận ở khoá học nhập môn về chính phủ. (Hơn nửa số sinh viên bị đình chỉ học tập đến một năm.) Về mặt thống kê thì không thể có chuyện gần phân nửa trong số 279 sinh viên của lớp học đó là những kẻ tâm thần bất ổn nếu dựa trên mức độ phổ biến thấp của chứng tâm thần bất ổn – khoảng 3 phần trăm ở nam giới và 1 phần trăm ở nữ giới. Một giải thích hợp lí hơn là sự truyền nhiễm. Việc bẻ cong luật lệ diễn ra khắp nơi có thể làm cho sinh viên đi đến kết luận rằng cộng tác với những sinh viên khác cũng ổn thôi. (Lớp học có tên gọi “Nhập môn về Quốc hội Mĩ”, do vậy có lẽ các sinh viên chỉ đơn giản là đồng cảm với tài liệu lớp học này.)

Scientific American Mind - Why we cheat 03

Băng qua đường không theo đèn hiệu giao thông có thể lây nhiễm sang người khác. Nếu một người liều mình ra ngoài đường, thì bạn cũng có thể làm tương tự. Nếu không thì người đó sẽ đúng giờ, còn bạn theo luật thì lại trễ giờ. Thật tệ cho mấy chiếc xe hơi khi chúng phải dừng lại vì bạn. Hoặc thật tệ cho bạn nếu xe không dừng.

Giống như căn bệnh lây nhiễm sơ sài nhưng không được điều trị và có thể tiến triển sang tình trạng nghiêm trọng hơn, thì những hành vi thiếu trung thực nhỏ nhặt mà không lãnh hậu quả có thể dẫn tới hành vi sai trái tồi tệ hơn. Luk Van Parijs từng là thực tập sinh sau tiến sĩ, một nhân tài trẻ đầy hứa hẹn, trong phòng thí nghiệm của nhà khoa học đoạt giải Nobel David Baltimore ở California Institute of Technology [Học viện Công nghệ California]. Theo bài phỏng vấn Balitmore công bố hồi năm 2010, Van Parijs đã có hành vi cắt xén bớt này kia ở Caltech, nhưng lúc ấy Baltimore không để ý đến hành vi này. Sau khi Van Parijs bắt đầu điều hành phòng thí nghiệm cho riêng mình ở M.I.T., thì hành vi thiếu trung thực này tăng lên. Năm 2009, Office of Research Integrity phát hiện ông đã giả mạo dữ liệu trong nhiều dự án có trợ cấp, bài báo và nhiều thuyết trình nghiên cứu. Năm bài báo bị rút, và Van Parijs mất việc.

Thậm chí những hành vi thiếu trung thực đơn lẻ có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài đối với xã hội. Ví dụ nổi tiếng nhất là bài báo bị rút năm 1998 trên tập san Lancet của Andrew Wakefield, nhà nghiên cứu tràng vị học (gastroenterology) ở Royal Free Hospital tại Luân-đôn, cho biết có mối liên kết giữa chứng tự kỉ, bệnh đường ruột và chủng ngừa. Nghiên cứu đó, sau này những biên tập viên tờ BMJ gọi là “màn lừa đảo tinh vi”, đã giúp tiếp nhiên liệu cho phong trào chống chủng ngừa thời hiện đại mà thậm chí ngày nay vẫn còn ăn mòn lòng tin của cộng đồng đối với vaccine và dẫn tới những trường hợp mắc bệnh lây nhiễm mà lẽ ra có thể ngăn chặn được.

Tiêm chủng sự thành thật

Nhà tâm lí học Leda Cosmides và nhà nhân học John Tooby thuộc trường University of California, Stana Barbara, cho biết con người có khả năng lừa dối và tài năng đặc biệt trong việc phát hiện kẻ gian lận. Suốt hơn hai thập niên họ đã biện luận rằng con người tìm đến những vi phạm luật lệ xã hội tìm kiếm những vi phạm luật lệ xã hội nhằm xác định những kẻ gian lận cụ thể trong những khung cảnh ở đó việc gian lận có thể xảy ra nhất, như lúc một thanh niên 17 tuổi vào cửa hàng rượu hay tham gia một buổi tiệc có phục vụ rượu. Một phần của năng lực kiểm soát hành vi thiếu trung thực chính là khả năng tiến hành nghiên cứu có thể dùng để đặt ra nhiều chiến lược hiệu quả hơn để giảm bớt những hành vi đó. Mặc dù có xu hướng tự nhiên nhằm tận dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn để ngăn chặn hành vi gian lận, nhưng hầu như không có chứng cứ ủng hộ ý tưởng cho rằng các hình phạt khe khắt hơn sẽ hiệu quả hơn các hình phạt trung bình. Thay vào đó, cách tiếp cận hấp dẫn hơn là nên giáo dục nhằm đưa vào và củng cố thêm những rào cản cá nhân trước việc thiếu trung thực.

Theo Ariely, khả năng tự nhận thức bản thân là ràng buộc quan trọng đối với sự thiếu trung thực. Người ta không gian lận khi nó làm cho họ cảm thấy bản thân tồi tệ. Khi họ có gian lận, họ có thể tạo ra những cách lí giải phức tạp để tự làm mình cảm thấy ổn hơn. Do vậy, những gợi nhắc về luân thường đạo lí hoặc kêu người ta kí vào lời tuyên bố chứng nhận là họ sẽ không gian lận, đó là những cách tác động đáng kể làm giảm hành vi gian lận. Ariely cho rằng việc di chuyển dòng kí tên từ phía cuối lên đầu mẫu khai thuế có thể khiến cho người trả thuế trung thực hơn. Những dấu hiệu thể hiện trên thiết bị đo tốc độ là cách hiệu quả trong việc điều chỉnh hành vi bởi vì bằng cách trưng ra sự vi phạm, chúng sẽ làm cho người lái xe xấu hổ khi thấy bảng giới hạn tốc độ.

Để giảm bớt siêu động lực để gian lận trỗi lên từ nỗi sợ mất mát, chúng ta cần hệ thống thưởng-phạt vốn sẽ cải thiện cảm giác cá nhân về sự an toàn trong những khung cảnh mà ở đó chuyện gian lận là một vấn đề cần giải quyết. Trong môi trường học thuật, việc làm cho những thành viên trong ngành bớt phụ thuộc vào nguồn tiền trợ cấp nghiên cứu có thể làm giảm những cám dỗ phải nâng cao hay bịa ra những kết quả. Việc nhận ra thành quả của đội ngũ thay vì của từng cá nhân cũng có thể hạn chế bớt những động cơ dẫn đến hành vi sai trái.

Scientific American Mind - Why we cheat 04

Những tấm biển điện tử thông báo tốc độ sẽ khuyến khích người lái xe để tâm đến việc giới hạn tốc độ bởi nếu không họ sẽ xấu hổ vì mấy tấm biển đó sẽ trưng ra cho những người gần đó thấy họ đi nhanh cỡ nào. Gợi nhắc tuân thủ luật lệ là chiến thuật hữu hiệu để hạn chế gian lận.

Giáo dục đạo đức, có mặt trong trường học và sở làm, sẽ nhấn mạnh cái giá phải trả cho việc gian lận và những tác động gây hại. Năm 2006, Commission on Public Relations Education (Uỷ ban về giáo dục quan hệ công chúng) đã khuyến nghị các trường đại học nên cung cấp những khoá giảng đạo đức chuyên dụng, nhưng hầu hết các trường vẫn chưa thực hiện. Việc giáo dục như vậy có thể giảm bớt mức phổ biến của gian lận trong các trường và giúp sinh viên hiểu rõ điều gì sẽ cấu thành việc đạo văn.

Giám sát và thực thi các hình phạt dành cho kẻ gian lận là những công cụ quan trọng nhằm hạn chế mức lan truyền của hành vi này. Cũng như các bài kiểm tra khi chẩn đoán sẽ làm lộ diện những căn bệnh lây nhiễm, những công nghệ phức tạp có thể xác định chất kích thích của vận động viên, và khảo sát kĩ lưỡng dữ liệu, cùng với những công cụ thống kê, có thể làm lộ diện hành vi gian lận của các nhà khoa học. Thêm vào đó, những người tố giác có thể đóng vai trò như những sinh vật thử nghiệm trong môi trường dịch bệnh nhằm phát hiện ra những dấu hiện ban đầu của hành vi gian lận. Armstrong, Hauser, Poehlman và Van Parijs đều bị người trong cuộc tố cáo. Ở Toà án Tối cao, thẩm phán Louis Brandeis từng nhận xét, “Người ta bảo rằng anh mặt trời có thể tẩy uế; ánh điện là vị cảnh sát hiệu quả nhất.” Theo đó, vấn đề về hành vi sai trái cần phải được thừa nhận và bàn luận công khai.

Trong dịch bệnh học, cá nhân có thể được “tính miễn nhiễm của nhóm” bảo vệ trước căn bệnh, nhờ đó mà hầu hết các thành viên trong một cộng đồng đều kháng cự lại tác nhân lây nhiễm. Do vậy, những bậc cha mẹ cho con tiêm chủng cũng đang bảo vệ những đứa trẻ chưa tiêm chủng. Tương tự vậy, những người trong khung cảnh xảy ra vấn đề gian lận có thể được chủng ngừa việc gian lận bằng những gợi nhắc về luân thường đạo lí và về những trường hợp trong đó kẻ gian lận bị bắt gặp và bị trừng phạt.

Bởi vì hành vi sai trái nhỏ nhặt có thể dẫn tới hành vi trầm trọng hơn nhiều, nên cần phải xem xét nghiêm túc cả những hành vi thiếu trung thực nhỏ nhoi. Đây là nền tảng cho lí thuyết hình sự “cửa sổ vỡ” (broken windows) nổi tiếng năm 1982 của James Q. Wilson quá cố. Chú ý đến những hành vi phạm luật ít nghiêm trọng hơn như các hành vi phá hoại có thể ngăn được những kẻ phạm tội lặt vặt này phát triển thành những tội phạm ghê gớm hơn, cũng giống như điều trị những bệnh lây nhiễm ngoài da có thể ngăn chúng tiến triển thành nhiễm trùng máu. Có lẽ nếu thiên hướng ăn xén ăn bớt của Van Parijs trước đó bị phát hiện và đề cập tới lúc anh ta còn là thực tập sinh sau tiến sĩ, thì có thể anh ấy vẫn còn trong giới học thuật hiện giờ.

Kì cùng thì việc đấu tranh chống lại gian lận rất có nhiều khả năng cần cách tiếp cận đa diện nhằm phát huy nền văn hoá đạo đức hơn. Những yếu tố này có thể bao gồm  việc điều chỉnh phương thức thưởng-phạt để công nhận thành quả của làm việc nhóm và của sự cộng tác với nhau, thực hiện hình phạt nhất quán đối với kẻ sai trái, thiết lập nên những cách bảo vệ thiết thực đối với những người tố giác và cải thiện những phương pháp phát hiện gian lận. Mặc dù gian lận có thể chỉ có lợi ích ngắn hạn, như phần thưởng tài chính hay uy tín, nhưng nó lại hao tốn tiền bạc của nhiều người và của xã hội. Armstrong bị tước danh hiệu và cấm thi đấu thể thao suốt đời. Hauser bị sa thải khỏi ghế giáo sư tại Harvard. Khi họ và nhiều người khác đã học được từ nỗi đau buồn của mình, thì việc lừa dối luôn có cái giá phải trả.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130715

Về tác giả:

FERRIC C. FANG là giáo sư ngành xét nghiệm y học (laboratory medicine), vi sinh vật học (microbiology), y học và bệnh lí học (pathobiology) tại trường University of Washington. Ông nghiên cứu về sinh bệnh học (pathogenesis) và là chủ biên của tập san Infection and Imnunity.

ARTURO CASADECAL hiện đang giữ ghế Leo and Julia Forchheimer ở khoa Vi sinh vật học và Miễn dịch học (Immunology) tại trường Albert Einstein College of Medicine. Ông nghiên cứu về sinh bệnh học ở nấm và những cơ chế của hành vi kháng thể, và ông là chủ biên cho tập san trực tuyến mBio.

Đọc thêm:

  • Machiavellian Intelligence: Social Expertise and the Evolution of Intellect in Monkeys, Apes, and Humans. Richard W. Byrne and Andrew Whiten. Oxford University Press, 1989.
  • How Many Scientists Fabricate and Falsify Research? A Systematic Review and Meta-Analysis of Survey Data.Daniele Fanelli in PLOS ONE, Vol. 4, No. 5, Article e5738, 11 pages; May 2009.
  • The (Honest) Truth about Dishonesty: How We Lie to Everyone—Especially Ourselves. Dan Ariely. HarperCollins, 2012.
  • Winner Takes All. Arturo Casadevall and Ferric C. Fang in Scientific American, Vol. 307, No. 2, page 13; August 2012.
  • Misconduct Accounts for the Majority of Retracted Scientific Publications. Ferric C. Fang, R. Grant Steen and Arturo Casadevall in Proceedings of the National Academy of Sciences USA, Vol. 109, No. 42, pages 17,028–17,033: October 16, 2012.
  • Males Are Overrepresented among Life Science Researchers Committing Scientific Misconduct. Ferric C. Fang, Joan W. Bennett and Arturo Casadevall in mBio, Vol. 4, No. 1, page e00640-12; January 22, 2013.

 

Nguồn:

Fang, Ferric C., Arturo Casadeval. “Why we cheat.” Scientific American Mind, số tháng 5-6/2013, trang 31-37.

 2013.05, 06 - Scientific American Mind

Advertisements

2 comments on “Ferric C. Fang & Arturo Casadevall – Tại sao ta lại gian lận

  1. Pingback: Tại sao ta lại gian lận - Tâm Lý Học Tội Phạm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s