Timothy Shary – Lịch sử phát triển phim thiếu nhi

Timothy Shary

Phim thiếu nhi

Duy Đoàn chuyển ngữ

Phim thiếu nhi có thể được chia thành hai hạng mục: những phim đặc biệt dành cho trẻ em, và những phim làm về trẻ em dành cho bất kì đối tượng khán giả nào. Sự phân biệt này rất quan trọng, khi mà nhiều phim nổi tiếng có những diễn viên trẻ em, như The Exorcist (1973) và The Sixth Sense (1999) rõ ràng không có ý dành cho trẻ em. Tuy vậy chính trong những phim như thế nền công nghiệp điện ảnh đã đại diện trẻ em, phản ánh những quan niệm của xã hội về tuổi thơ. Thường thì ngay cái định nghĩa về tuổi thơ cũng tuỳ thuộc vào phim, thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp và trong những bối cảnh khác nhau.

Phim dành cho trẻ em trước Disney

Những rạp chiếu phim của nền công nghiệp điện ảnh thời kì đầu thường trưng ra những bộ phim hấp dẫn mọi lứa tuổi và mọi người dân thay vì dành đặc biệt cho trẻ em. Những người gác-dan luân lí ở đầu thập niên 1900 lo lắng về việc trẻ em tự mình đi xem phim bởi vì điều đó có thể sẽ khích lệ bọn trẻ cúp học hoặc trở nên quen thuộc với những nhân vật ương ngạnh ở trong phim lẫn trong rạp chiếu phim. Mặc dù trẻ em có xuất hiện trong nhiều bộ phim thuộc kỉ nguyên ban đầu của điện ảnh, nhưng vai trò của chúng gần như chỉ là những nhân vật phụ kèm theo những hoạt động của người lớn, chẳng hạn như nhân vật cô bé giải thoát người cha trong phim The Great Train Robbery (1903) hoặc nhiều nhân vật trẻ em là nạn nhân của những vụ bắt cóc trong những bộ phim như The Adventures of Dollie (D. W. Griffith, 1908).

Tuy vậy, theo nghiên cứu của Richard deCordova, đến thập niên 1910 thì Hollywood thực sự đã quan tâm đến đối tượng khán giả là trẻ em. Đến năm 1913, những buổi chiếu phim ban chiều cho trẻ em trở nên phổ biến ở nhiều rạp chiếu bóng, và những tổ chức như National Board of Review’s Committee on Films for Young People không chỉ xúc tiến các buổi chiếu phim như thế ở tầm quốc gia mà còn khuyến khích các hãng phim làm thêm nhiều phim thích hợp cho trẻ em, mặc dù thực ra trẻ em vẫn thích những phim nhắm đến người lớn hơn. Sau đó năm 1925, Motion Picture Producers and Distributors Association (MPPDA – Hiệp hội các nhà sản xuất và phân phối phim) dưới quyền của Will Hays (1879-1954) đã bắt đầu nỗ lực xác định những bộ phim thích hợp cho trẻ em. Tới màu thu năm 1925, MPPDA đã tổ chức những chương trình năm-mươi-hai buổi chiếu phim, với nhiều bộ phim được biên tập và đặt tựa lại để dành cho các bạn nhỏ. Những chương trình này được đưa ra bán như những lô đặc biệt dành cho các rạp hát, và chủ rạp chiếu bóng được kí hợp đồng chỉ để chiếu những bộ phim do chương trình chọn ra suốt những buổi chiếu phim chiều thứ Bảy. MPPDA đã dùng cách tiếp cận này để xúc tiến tinh thần trách nhiệm của các hãng phim và đồng thời khuyến khích trẻ em trở thành những khách hàng trung thành với điện ảnh.

Nhưng ngay khi MPPDA thiết lập nên chương trình thành công này thì họ bãi bỏ nó vào năm sau đó, để nhiệm vụ tổ chức những buổi chiếu phim cho trẻ em rơi lại vào tay chủ rạp chiếu bóng. Cố gắng ngắn ngủi nhằm tạo ra thành phần khán giả trẻ em như thế này đã không làm cho các hãng phim Hollywood, vốn chỉ muốn giữ cho lượng khán giả của mình trải càng rộng càng tốt, sản xuất ra thể loại phim ảnh mới nhắm đến trẻ em. Hollywood thậm chí còn cho những diễn viên người lớn có tên tuổi vào vai trẻ em, một việc làm có vẻ kì quặc theo chuẩn mực hiện giờ nhưng vào thời đó thì chuyện này lại có tác dụng thúc đẩy lượng khán giả đa dạng ở gia đình. Những ngôi sao như Lillian Gish (1893-1993), Richard Barthelmess (1895-1963), và đặc biệt là Mary Pickfold (1893-1979) được khai thác vẻ ngoài trẻ trung trong những câu chuyện nổi tiếng như Pollyanna (1920) và Little Annie Rooney (1925). Những diễn viên trẻ em thực sự của thập niên 1920 có được danh tiếng cho chính mình, như Jackie Coogan (1914-1984) và Baby Peggy (sinh năm 1918), được cho vào vai diễn cùng với những ngôi sao người lớn để đảm bảo thêm rằng những bộ phim đó không chỉ tập trung vào góc nhìn tuổi thơ.

Có hai thể loại phim đặc biệt dấp dẫn trẻ em suốt thời kì này, dù cho chúng không có được vị thế đáng tôn trọng như những bộ phim truyện: đó là phim ngắn nhiều kì và phim hoạt hình, được chiếu vào lúc bắt đầu chương trình chiếu phim. Các hãng phim và chủ rạp chiếu bóng có thể nghĩ rằng quãng thời gian chú ý của trẻ em thì thích hợp hơn với thời lượng thưởng thức ngắn, và họ nghĩ rằng đặt những phim ngắn ngay đầu chương trình chiếu phim giúp đảm bảo bọn trẻ sẽ thích thú trước bộ phim dài hơn được chiếu tiếp theo sau đó. Một trong những loạt phim ngắn nổi tiếng nhất rõ ràng được làm cho trẻ em (mặc dù cũng hấp dẫn với cả người lớn) là Our Gang, được nhà sản xuất Hal Roach (1892-1992) khởi chiếu vào năm 1922. Loạt phim này dùng những diễn viên trẻ em thực sự để vào vai những đứa trẻ có khuynh hướng thuộc về tầng lớp công nhân, với tính tò mò và khôi hài. Loạt hơn hai trăm phim ngắn này diễn ra khá thành công, được chiếu tới thập niên 1940. Những loạt phim ngắn khác, như những phim hài tếu thuộc loạt Three Stooges, mặc dù không có vai diễn trẻ em nhưng vẫn có sức hút lớn đối với bọn trẻ.

Phim hoạt hình là một thị trường khác hẳn. Mặc dù rất hiệu quả trong việc kể những câu chuyện tưởng tượng về những nhân vật dị thường, không phải con người, nhưng hoạt hình lại có xuất phát chậm chạp trong thời kì đầu điện ảnh. Tới thập niên 1920, chỉ một nhúm nhà làm phim hoạt hình làm phim ngắn, với loạt phim nổi tiếng nhất là Felix the Cat, và tới cuối thập niên đó thì một hoạ sĩ đầy tham vọng, Walt Disney (1901-1966), trình làng một nhân vật ngày càng phát triển lên ở kỉ nguyên điện ảnh có âm thanh: Chuột Mickey. Thành công của Disney đã mở đường cho một thế hệ các nhân vật hoạt hình mới, và tới thập niên 1930 thì tất cả các hãng phim lớn nhỏ của Hollywood đã phát triển được loạt phim hoạt hình cho chính mình nhằm thu hút toàn bộ các gia đình thời ấy. Khi Disney làm bộ phim hoạt hình Mĩ đầu tiên vào năm 1937, phim Snow White and the Seven Dwarfs, thì đó cũng là lúc bắt đầu xuất hiện cách tiếp cận mới trong việc làm phim cho trẻ em.

Phim dành cho trẻ em từ Disney trở về sau

Thành công nổi bật của Snow White – một trong những bộ phim doanh thu cao nhất thời bấy giờ –  chứng tỏ được rằng phim ảnh với sự thu hút đặc biệt dành cho trẻ em là nguồn thu nhập khả thi cho các hãng phim. Những bộ phim hoạt hình tiếp tục là thể loại chính yếu nhắm tới trẻ em trong một khoảng thời gian nhất định. Theo đó những ấn phẩm tiếp theo của Disney ra đời như Pinocchio (1940), Dumbo (1941), và Bambi (1942), tất cả đều đề cập cụ thể đến những vấn đề về quá trình phát triển thời ấu thơ. Trong khi đó, hãng MGM đã khởi sự loạt phim người thật đóng và đạt được thành công vang dội bất ngờ ở những khán giả nhỏ tuổi. Loạt phim Andy Hardy có nhân vật chính ở tuổi mới lớn và những người bạn cùng lứa của cậu ta. Như thực tế diễn ra từ thập niên 1910, thành tố then chốt trong việc nhắm tới khán giả trẻ em là nội dung phim không nhiều bằng thời lượng chiếu phim; những buổi chiếu phim chiều cuối tuần tiếp tục phổ biến ở hầu hết các khu cộng đồng tại Mĩ sau thế chiến II, và đến cuối thập niên 1950 thì các hãng phim tái xác nhận nỗ lực trong việc tận dụng thị trường đang bùng nổ tỉ lệ sinh sản và phát triển rất nhanh bằng những bộ phim phục vụ cho sở thích của giới trẻ (một khuynh hướng thậm chí còn rõ ràng hơn trong những phim dành cho tuổi thanh thiếu niên).

Bắt đầu vào năm 1950, hãng Disney hướng đến nhiều phim người thật đóng hơn, trong đó có những nhân vật nhỏ tuổi. Họ đạt được thành công lớn với Treasure Island (1950), một chuyến phiêu lưu hấp dẫn với vai chính là một cậu bé, và với nhiều phim truyện khác về tuổi nhỏ như Johnny Tremain (1957), Old Yeller (1957), Pollyanna (1960), Big Red (1962), và Mary Poppins (1964). Với việc thiết lập hệ thống đánh giá vào năm 1968, các hãng phim chịu thêm áp lực mới để sản xuất những bộ phim được đánh giá loại G dành cho dạng phim có thể hấp dẫn mọi lứa tuổi. Một lần nữa Disney dẫn đầu với nhiều bộ phim hài và phiêu lưu, như The Love Bug (1968), The Million Dollar Duck (1971), The Island at the Top of the World (1974), The Apple Dumpling Gang (1975), và Gus (1976). Những hãng phim khác gia nhập vào dòng phim gia đình với những phim như The Phantom Tollbooth (1970), Pufnstuf (1970), Tom Sawyer (1973), The Little Prince (1974), The Black Stallion (1979), và Mountain Family Robinson (1979). Trong nhiều thập niên, các bộ phim có các nhân vật nhỏ tuổi và thú vật tiếp tục tạo sự hấp dẫn đặc biệt đối với trẻ em, từ một loạt phim nói về chó Lassie (bắt đầu bằng phim Lassie Come Home năm 1943) cho đến loạt phim dựa trên chú chó luộm thuộm Benji (bắt đầu bằng phim Benji năm 1974). Phim khoa học viễn tưởng cũng đem lại ý nghĩa mới cho trẻ em vào thập niên 1970 và 1980, với việc ra mắt những loạt phim Star WarsStar Trek (lần lượt bắt đầu từ năm 1977 và 1979) và những dạng phim ngụ ngôn như The Cat from Outer Space (1978) và The Black Hole (1979).

Tuy nhiên trong thập niên 1980, các hãng phim Hollywood dường như lại mất đi hứng thú với thành phần khán giả trẻ em, khi làn sóng mới các phim dành cho thanh thiếu niên được xếp loại PG-13 đã đem đến tiềm năng lợi nhuận lớn hơn. Một lần nữa, chỉ một mình hãng Disney dường như lại vực dậy niềm hứng thú đối với thị trường trẻ em khi họ cho ra mắt hai bộ phim hoạt hình âm nhạc vào cuối thập niên đó, Oliver & Company (1988) và The Little Mermaid (1989). Những phim này mở đầu cho một bầu không khí mới mẻ thân thiện với trẻ con trong giới điện ảnh Mĩ, vốn cũng đang bắt đầu nở rộ ở thị trường giải trí gia đình. Thế là thêm nhiều tựa phim Disney và không phải Disney ra mắt tiếp theo sau đó, nhiều phim trong số đó không thực sự có nhân vật trẻ em, và những phim này có ý định thu hút trẻ em đến với rạp chiếu phim và truyền hình. Ví dụ như Teenage Mutant Ninja Turtles (1990), Beauty and the Beast (1991), Aladdin (1992), The Mighty Ducks (1992), 3 Ninjas(1992), The Flintstones (1994), Casper (1995), Pocahontas (1995), Toy Story (1995), Space Jam (1996), Mousehunt (1997), George of the Jungle (1997), A Bug’s Life (1998), The Prince of Egypt (1998), Tarzan (1999), và Stuart Little (1999).

Vào thế kỉ hai mươi mốt, các hãng phim vẫn duy trì lượng đầu ra đều đặn các phim tương tự dành cho trẻ em, hầu hết thuộc địa hạt phim hoạt hình như Shrek (2001) và The Incredibles (2004), nhưng còn có những bộ phim người thật đóng tạo được chú ý như How the Grinch Stole Christmas (2000), The Cat in the Hat (2003), Holes (2003), và loạt phim rất nổi tiếng dựa trên bộ tiểu thuyết Harry Potter (bắt đầu từ năm 2001). Nhiều phim trong số này bị phê phán vì màn tiếp thị công khai các món đồ chơi và những sản phẩm khác cho trẻ em, cũng như vì màn quảng cáo thông qua các sản phẩm kèm theo phim cùng với nhiều chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh. Nền công nghiệp truyền thông đang nhắm đến trẻ em nhiều hơn bao giờ hết, kết nối những cái được cho là ý thích tiêu thụ với những niềm vui giải trí.

Phim Mĩ về trẻ em trước thế chiến II

Như Kathy Merlock Jackson chỉ ra trong nghiên cứu tiên phong của cô về trẻ em trong phim, thì điện ảnh có xu hướng trình ra hai hình ảnh khác biệt nhau về trẻ em: hình ảnh những đứa trẻ hoang dại cần được thuần hoá, và những đứa trẻ ngây thơ cần được che chở. Trong những phim Hollywood trước thế chiến II, và đặc biệt trước thập niên 1930, hình ảnh thường thấy của trẻ em lúc ấy thường hướng về sự ngây thơ. Tuy nhiên, những diễn viên trẻ em đã không nhận được vị thế ngôi sao trước khi Jackie Coogan xuất hiện trong phim The Kid năm 1921, và do đó phim ảnh hiếm khi xoay xung quanh các nhân vật trẻ em, ngoại trừ những bộ phim do người lớn thủ vai trẻ con. Với việc sự nghiệp Coogan trỗi dậy, thì một số ngôi sao trẻ em khác cũng xuất hiện, và các hãng bắt đầu làm phim đem lại nhiều hơn những hình ảnh kiên trì của trẻ con: chúng đáng yêu và sớm phát triển, háo hức giải quyết những vấn đề trong thế giới nho nhỏ xung quanh mình, và khôn ngoan trước tuổi. Những phẩm tính này được trưng ra trong những phim của Baby Peggy (The Darling of New York, 1923; Captain January, 1924), của Virginia Grey (1917-2004) (Uncle Tom’s Cabin, 1927; Heart to Heart, 1928), và của Jackie Cooper (sinh năm 1922) (Skippy, 1931; The Champ, 1931). Cooper trở thành đứa trẻ đầu tiên được đề cử giải Oscar cho vai diễn trong Skippy, và từ đó mang lại sự công nhận cho những bộ phim được xây dựng xung quanh nhân vật chính là trẻ em.

Nước Mĩ thập niên 1930 tất nhiên cũng bị choáng váng trước Đại Suy thoái, do vậy ban đầu những bộ phim tập trung vào trẻ em có xu hướng ca tụng bản tính gan dạ của chúng trong việc đương đầu với cái nghèo và nghịch cảnh – vì lẽ đó mà có một lượng lớn quá mức các bộ phim nói về trẻ mồ côi hoặc về nạn nhân của những vụ bắt cóc. Những bộ phim thời kì Suy thoái như Let’s Sing Again (1936), One Hundred Men and a Girl (1937), và Babes in Arms (1939) cho khán giả thấy rằng trẻ em, vốn chú tâm nhiều vào gia đình mình và những mưu cầu hạnh phúc giản đơn, là thuốc giải độc cho những rắc rối u ám điển hình cho những bộ phim về người lớn thời kì đó. Không nơi đâu mà khía cạnh này lại hiển nhiên hơn trong những bộ phim của Shirley Temple (sinh năm 1928), người chợt toả sáng trên màn ảnh Hollywood bằng nguồn sinh lực trẻ thơ của mình vào năm 1934 ở tuổi lên sáu. Sau một đại cảnh trong phim Stand Up and Cheer! (1934), Temple được giao cho vai diễn một nhân vật có tên trùng với tên phim Little Miss Marker (1934) và sau đó được công nhận nhiều hơn nữa trong phim Bright Eyes (1934), củng cố thêm vai trò của bà như một đốc công và một người chuyên giải quyết vấn đề trong cuộc khủng hoảng gia đình. Tuy nhiên, như Jackson đã chỉ ra, mặc cho tất thảy những khả năng kiên cường và năng lực mà trẻ con thể hiện trong những bộ phim thập niên 1930, thì bọn trẻ tận sâu lòng mình hãy còn ngây thơ và cần tình yêu thương của người lớn xung quanh. Bằng cách đó, Hollywood giữ được quan niệm chủ đạo về gia đình hạt nhân, và cho bọn trẻ thông điệp rõ ràng là chúng không thể tự mình làm được gì trong cõi sống này.

Temple tiếp tục hàn gắn nhiều thứ trong những bộ phim dành cho bà suốt thập niên 1930, và các hãng phim đã bắt đầu làm nhiều phim hơn dựa trên các nhân vật trẻ em nổi bật. Người đương thời với Temple theo phương diện này là Jane Withers (sinh năm 1926), diễn bên cạnh Temple trong Bright Eyes và trở thành ngôi sao bằng chính năng lực của mình với những bộ phim như Ginger (1935) và Pepper (1936), trong đó bà phô bày ra tính cách mãnh liệt của mình. Những bộ phim về trẻ em ngày càng trở nên phổ biến, kết quả là dẫn tới loạt phim lố bịch nhưng ngắn ngủi được xây dựng xung quanh những ngôi sao bé con thực sự như Baby LeRoy (1932-2001), người được trao cho vai diễn lấn át ngôi sao người lớn diễn cùng mình trong những bộ phim suốt năm 1933, và Baby Sandy (sinh năm 1938), một hiện tượng điện ảnh kéo dài từ năm 1939 đến 1941.

Đến cuối thập niên 1930, những vai diễn nổi bật nhất của các nhân vật tuổi nhỏ, như chính các diễn viên trẻ em, đã chuyển sang lứa tuổi mới lớn, và các nhân vật tuổi thanh thiếu niên của Mickey Rooney (sinh năm 1920) đã thay thế những cô bé của Shirley Temple trên màn ảnh. Một trong những diễn viên thường đóng vai chính với Rooney là Judy Garland (1922-1969), và bà đã mang lại thêm tầm nhìn cho những vai diễn về lớp trẻ và là thiếu nữ thủ vai một nhân vật chính nhỏ hơn nhiều trong một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của trẻ em thời bấy giờ, The Wizard of Oz (1939). Thậm chí, những vai diễn mới lớn của Rooney, Garland, Deanna Durbin (sinh năm 1921), và một nhóm trẻ được biết với tên Dead End Kids đã tạo thành những biểu tượng chính yếu về tuổi trẻ cho Hollywood trong suốt khoảng thời gian từ cuối thập niên 1930 đến đầu thập niên 1940, và về sau những bộ phim xoay quanh câu chuyện về trẻ em đôi khi mới được chú ý tới. Thật vậy, những bộ phim như Journey for Margaret (1942), National Velvet (1944), và Miracle on 34th Street (1947) đều nổi tiếng, nhưng chúng không đưa ra được hình ảnh tượng trưng duy trì liên tục hoặc nhất quán về trẻ em trong suốt thời kì này. Với sự trỗi dậy của dòng phim thanh thiếu niên thậm chí còn nổi trội hơn vào thập niên 1950, thì điện ảnh Mĩ chỉ trình ra những hình ảnh trẻ em rời rạc và thiếu nhất quán.

Những bộ phim quốc tế về trẻ em

Hollywood thường trình ra hình ảnh trẻ em mà khán giả quốc tế có thể dễ dàng nhận ra, nhấn mạnh vào những chủ đề phổ quát như cảm giác hồi hộp trước hành động tai quái, sự vui nhộn trước biến cố rủi ro, và nhu cầu yêu thương. Phim về trẻ em được làm bên ngoài nước Mĩ thường không được thưởng thức theo cùng trải nghiệm như vậy, bởi vì những thị trường phim ảnh khác không duy trì được những nhóm diễn viên trẻ em và hiếm khi có thể sản xuất ra những loạt phim dành cho đối tượng khán giả trẻ em của riêng thị trường đó.

Với ngoại lệ của một số phim thuộc Vương quốc Anh như Goodbye, Mr. Chips (1939) và The Thief of Bagdad (1940), những phim quốc tế về trẻ em trước thập niên 1950 đặc biệt khó nghiên cứu bởi vì còn sót lại quá ít lượng ấn phẩm. Nhiều phim thiếu nhi trên toàn thế giới hầu như không được biết đến ngoại trừ những cốt chuyện nằm trong các danh mục. Những phim nước ngoài [so với Mĩ] liên quan đến trẻ em bao gồm Kono Vank? (Whose fault?, Ấn-độ, 1929), Dann schon lieber Lebertran (Đức, 1931; nhan đề ở Vương quốc Anh là I’d Rather Have Cod Live Oil), Mädchen in Uniform (Đức, 1931), La Maternelle (Pháp, 1933; còn có nhan đề khác là Children of Montmartre), Zéro de conduite (Zero for Conduct, Pháp, 1933), Bhakta Dhruva (Ấn-độ, 1934), Fétiche (The Mascot, Pháp, 1934), De Big van het regiment (Hà-lan, 1935), Durga (Ấn-độ, 1939), Sciuscià (Shoe-Shine, Ý, 1946), và Nagaya shinshiroku (The Record of a Tenement Gentleman, Nhật, 1947). Nhiều phim trong số này đã chìm vào quên lãng và rất khó tìm thấy.

Tuy nhiên, trong thập niên 1950, các phim quốc tế bắt đầu tăng cường trao đổi qua lại ở thị trường toàn cầu, nên nhiều bộ phim về trẻ em đã đạt được sự công nhận ở khắp nơi. Los Olvidados (The Forgotten Ones, Mexico, 1950) là một trong những phim đầu tiên công khai đương đầu với cái nghèo và tội ác ở trẻ em tại Thế giới thứ ba. Jeux interdit (Forbidden Games, Pháp, 1952) kể câu chuyện về một cậu bé và một cô bé đối phó với những ảnh hưởng của thế chiến II một cách sáng tạo. Pather Panchali (Ấn-độ, 1954) là phim đầu tiên nằm trong bộ ba phim dõi theo một nhân vật, Apu, từ thời thơ ấu kiên cường trong một gia đình nghèo khó cho đến giai đoạn thay đổi cuối cùng để trở thành người cha. Les quartres cents coups (The 400 Blows, Pháp, 1959) tạo ra bức chân dung đầy ý nghĩa về một cậu bé ăn cắp vặt cũng như đạt được phong cách hình ảnh trực quan rất quan trọng, chính điều đó gợi hứng cho phong trào Làn sóng mới ở Pháp (French New Wave). Toàn bộ những phim này, mặc dù xuất xứ ở nhiều nước khác nhau, nhưng lại có xu hướng nhấn mạnh cùng những chủ đề phổ quát về trẻ em: chúng là những đứa trẻ vô tư, tuy vậy cái hệ thống vận hành trong cõi sống lại làm chúng trở nên suy đồi, thế là chúng phải học cách trở nên kiên trì khi đối diện với xung đột và học cách đứng lên trên mọi hoàn cảnh xung quanh mình.

Ivanovo detstvo>(Ivan’s Childhood, Liên-xô, 1962) kể câu chuyện về một cậu bé gián điệp bị quân đội khai thác khả năng để tránh khỏi sự phát hiện, và do vậy cậu ta đối mặt với những giá trị của mình như là công cụ cho những người lớn tham gia cuộc chiến. L’Enfant sauvage (The Wild Child, Pháp, 1970) là phần khảo xét lạnh lùng của François Truffaut (1932-1984) về những trạng thái nguyên sơ ở trẻ em mà ông đã kịch tính hoá lên trong phim The 400 Blows. Cría cuervos (Cría!, Tây-ban-nha, 1975) kể câu chuyện về một bé gái phải xử lí vấn đề về những cái chết của những người thân thuộc nhất với mình. Padre Padrone (My Father My Master, Ý, 1977) dõi theo một cậu bé thông qua mối quan hệ cực kì đau khổ với người cha cho đến lúc cậu ta đào thoát khỏi ông ấy. Wend Kuuni (God’s Gift, Burkina Faso, 1982) kể câu chuyện về một đứa trẻ bị bỏ rơi được gia đình nọ nhận nuôi, sau đó cậu phải đương đầu với những bí mật bị đè nén trong quá khứ bi ai của mình. Chỉ có vài biến đổi không đáng kể, những bộ phim quốc tế về trẻ em tiếp tục thăm dò chủ đề sự vô tư thời thơ ấu bị rơi vào tình trạng thách thức trước những hoàn cảnh của người lớn.

Thậm chí với sự phát triển của Hollywood về nhiều dòng phim thanh thiếu niên khác nhau, vốn trở nên ngày càng phổ biến trong thập niên 1980 – phim hài về tính dục, phim kinh dị giết người, phim huyễn tưởng khoa học – thì lối mô tả của quốc tế về trẻ em trong phim vẫn tập trung chính yếu vào những khám phá vui đùa mà lại sâu sắc cách xâm lấn vào cuộc sống người lớn. Alsino y el cóndor (Alsino and the Condor, Nicaragua, 1982) trình hiện một đứa trẻ thích tham gia vào những cuộc vui đùa thuở nhỏ của mình hơn là cuộc xung đột quân sự đang diễn ra xung quanh. Kazoku gêmu (The Family Game, Nhật, 1983) khắc hoạ áp lực mà trẻ em Nhật phải đối mặt trong môi trường cạnh tranh nhằm có được một suất trong những ngôi trường danh giá. Skyggen af Emma (Emma’s Shadow, Đan-mạch, 1988) có nhân vật là một cô bé tự dàn dựng màn bắt cóc chính mình để cảnh báo gia đình về thái độ làm lơ không đoái hoài đến mình, rồi cô bé phát hiện mình thích sống không cần đến gia đình hơn. Badkonake sefid (The White Balloon, Iran, 1995) minh hoạ thành kiến giới tính và tuổi tác của nhiều nền văn hoá trong câu chuyện về một cô bé bị đám đàn ông người lớn và những cậu bé xung quanh bắt nạt. La Vita è bella (Life Is Beautfiul, Ý, 1997) cho thấy những nỗ lực cực độ mà một người cha phải kinh qua nhằm chở che cho cậu con trai mình tránh khỏi những trường hợp kinh hoàng của vụ Tàn sát Do-thái (Holocaust) ở thế chiến II. About a Boy (Vương quốc Anh, 2002) nêu bật những nỗ lực của một cậu bé nhằm thuyết phục người đàn ông nọ rằng cậu ta đáng được chấp nhận là người con thay thế của người đàn ông đó. Mặc dù một số phim mang phong cách khôi hài, nhưng toàn bộ đều khảo sát những vấn đề nghiêm túc và có liên quan về trẻ em trên toàn thế giới, đây là điều tương phản hoàn toàn với đa số phim về trẻ em do Hollywood sản xuất ở thế hệ điện ảnh trước đó.

Phim Mĩ về trẻ em sau thế chiến II

Hệ thống ngôi sao trẻ em vốn hoạt động rất ổn ở Hollywood trước thời chiến tranh thì sau đó lại sụp đổ nhanh chóng. Rất ít diễn viên trẻ em có nhiều bộ phim nổi tiếng gắn với tên tuổi mình sau thập niên 1950, khi mà hệ thống các hãng phim đang mất dần tính liền mạch và năng lực trong việc kiểm soát thị trường điện ảnh Mĩ. Mặc dù điều này nghĩa là có ít phim về trẻ em được làm ra hơn, nhưng những phim được sản xuất sẽ đưa ra một dãy những hình tượng ở phạm vi rộng hơn. Ví dụ, The Bad Seed (1956) lấy chủ đề về bản tính hung ác của một bé gái bằng cách xem xét liệu cái tính ác của cô bé có phải thực sự do di truyền hay không. The Miracle Worker (1962) kể câu chuyện về sự phát triển thời thơ ấu của Helen Keller, nâng cao nhận thức về những vấn đề của người khuyết tật. Oliver! (1968) mang đến câu chuyện Oliver Twist lên màn ảnh như một bộ phim ca nhạc, đưa ra sự tán dương đầy hoài niệm về những cô nhi viện. Và hãng Disney lúc này cũng tiếp tục làm một số phim về trẻ em.

Sau đó vào thập niên 1970, Hollywood sản xuất nhiều phim có nhân vật trẻ em, thu hút sự chú ý từ giới phê bình khi những phim này bao quát được nhiều vấn đề nghiêm trọng. Hai trong số những bộ phim đáng chú ý nhất là Paper Moon (1973), nhờ đó mà cô bé chín tuổi lúc ấy là Tatum O’Neal (sinh năm 1963) giành được giải Oscar diễn xuất với vai diễn một cô bé ngổ ngáo cứng cỏi, và thứ nhì là phim The Exorcist, trong đó một cô bé chịu đựng những hành hạ ma quái của thế lực quỉ dữ nào đó. Với những phim như vậy, các hãng phim rõ ràng đang thay đổi những hình tượng trước đó về sự vô tư của tuổi thơ sang những câu chuyện về bọn trẻ yếm thế bị hoàn cảnh xung quanh làm cho hư hỏng. Đây chắc chắn là câu chuyện của Taxi Driver (1976) và Pretty Baby (1978), hai bức chân dung cấp tiến về chuyện bán rẻ tài năng ở lứa tuổi thanh thiếu niên; chủ đề về tính dục của các cô gái đã tạo nên tranh cãi kịch liệt thậm chí khi được đề cập trong phim Lolita (1962).

Các hãng phim cũng bắt đầu làm nhiều phim hơn về trẻ em nhắm đến đối tượng khán giả thiếu nhi, như trong phim Escape to Witch Mountain (1975), The Bad News Bears (1976), My Bodyguard (1980), Annie (1982), và tên tuổi lớn nhất của thập niên 1980 là E.T. the Extra-Terrestrial (1982). Nhiều phim mang chất hài hước và phiêu lưu mạo hiểm, mặc dù chúng tiếp tục khảo xét về những xung đột hiện thực dành cho trẻ con, chẳng hạn như gia đình tan vỡ, tinh thần đồng đội, tình trạng bắt nạt, cái nghèo, sử dụng ma tuý, và thất lạc cha mẹ. Có lẽ khía cạnh hiện thực này sau đó sẽ giải thích cho việc các hãng phim dần rời xa khỏi những phim về trẻ em ở cuối thập niên 1980: đề cập đến tuổi thơ đang trở thành một hoạt động liều lĩnh ngày càng mỏng manh.

Sau thời kì xuất hiện những lối mô tả đa dạng và thường là tăm tối về trẻ em hồi thập niên 1970, và sự trỗi dậy chiếm ưu thế của dòng điện ảnh thanh thiến niên hồi thập niên 1980, thì sau đó Hollywood chỉ thỉnh thoảng mới khảo xét đến tuổi thơ đương đại, và gần như thực hiện việc đó theo mối tương quan với nền văn hoá người lớn. Chủ đề phổ biến lúc này là những câu chuyện hoạt kê về đứa trẻ cứ hành hạ, gây phiền nhiễu cho cha mẹ mình và những người lớn khác, như trong phim Problem Child (1990), Home Alone (1990), Dennis the Menace (1993), Richie Rich (1994), First Kid (1996), Leave It to Beaver (1997), và The Parent Trap (1998). Tuy thế, có quá ít phim nghiêm túc xem xét vai trò của trẻ em trong cuộc sống người lớn và trong nền văn hoá nói chung; trong số những phim ngoại lệ có Little Man Tate (1991), Free Willy (1993), Pay It Forward (2000), và I Am Sam (2001). Dù vậy các sản phẩm Hollywood tiếp tục xu hướng đưa trẻ em vào những câu chuyện tưởng tượng hoặc thậm chí phi lí, như trong loạt phim Harry Potter, loạt phim Spy Kids (2001-2003), Tuck Everlasting (2002), The Cat in the Hat (2003), Catch That Kid (2004), Lemony Snicket’s A Series of Unfortunate Events (2004), và Hide and Seek (2005). Vì bất kể lí do gì, thì nền công nghiệp điện ảnh Mĩ phần lớn vẫn còn do dự trước việc đề cập đến những vấn đề và những khía cạnh thực sự trong cuộc sống trẻ con.

Chuyển ngữ tại  Sài-gòn,
20130726

Đọc thêm:

  • Allen, Robert C. “Home Alone Together: Hollywood and the ‘Family Film.’” Trong cuốn Identifying Hollywood’s Audiences, Melvyn Stokes and Richard Maltby chủ biên, 109–131. London: British Film Institute, 1990.
  • De Cordova, Richard. “Ethnography and Exhibition: The Child Audience, the Hays Office, and Saturday Matinees.” Camera Obscura 23 (1990): 91–106.
  • Goldstein, Ruth, and Edith Zornow. The Screen Image of Youth: Movies about Children and Adolescents. Metuchen, NJ: Scarecrow Press, 1980.
  • Jackson, Kathy Merlock. Images of Children in American Film: A Sociocultural Analysis. Metuchen, NJ: Scarecrow Press, 1986.
  • Staples, Terry. All Pals Together: The Story of Children’s Cinema. Edinburgh: Edinburgh University Press, 1996.
  • Wojcik-Andrews, Ian. Children’s Films: History, Ideology, Pedagogy, Theory. New York: Garland, 2000.

Nguồn:

Shary, Timothy. “Children’s Films.” Schirmer Encyclopedia of Film. Barry K. Grant chủ biên. Detroit: Schirmer Reference, 2007.

Schirmer Encyclopedia of Film

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s