João Guimarães Rosa – Bờ thứ ba của dòng sông

João Guimarães Rosa

Bờ thứ ba của dòng sông

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Barbara Shelby

Cha tôi là người có ý thức trách nhiệm, nề nếp và bộc trực. Và theo như lời mấy người đáng tin cậy mà tôi dò hỏi được, thì ông có những phẩm chất này từ hồi mới lớn hoặc ngay từ lúc bé thơ. Theo kí ức chính tôi, ông không vui nhộn hơn cũng chẳng sầu muộn hơn những người quen khác. Có lẽ có chút trầm lặng hơn. Chính mẹ tôi, chứ không phải cha, mới là người cai quản ngôi nhà. Bà la mắng chúng tôi hàng ngày – chị tôi, anh tôi, và tôi. Nhưng ngày nọ cha tôi bỗng đặt hàng một chiếc thuyền.

Ông rất nghiêm túc về con thuyền. Nó được làm đặc biệt dành cho ông, bằng gỗ cây trinh nữ. Nó đủ cứng cáp để trụ suốt hai mươi hay ba mươi năm và kích cỡ vùa đủ cho một người. Mẹ tôi càu nhàu vụ này dữ lắm. Phải chăng chồng bà bất thần sẽ đi đánh cá? Hay đi săn? Cha không nói gì hết. Nhà chúng tôi cách con sông chưa đầy một dặm, xung quanh đó thật bí ẩn, tĩnh mịch, và quá rộng đến mức chúng tôi không thể nhìn sang bờ bên kia.

Tôi không thể quên cái ngày người ta giao đến chiếc thuyền có mái chèo kia. Cha tôi không biểu lộ vui mừng hay cảm xúc nào khác. Ông chỉ đội nón như vẫn thường lệ và chào tạm biệt chúng tôi. Ông không mang theo thức ăn mà cũng chẳng gói ghém thứ gì. Chúng tôi tưởng mẹ sẽ chửi rủa om sòm, nhưng bà không nói gì. Bà trông nhợt nhạt và tự cắn môi mình, nhưng tất cả những gì bà nói là:

“Nếu ông đi, thì đi luôn đi. Đừng bao giờ quay về!” 

Cha không đáp lại. Ông nhìn tôi với vẻ dịu dàng và ra hiệu bảo tôi đi bộ cùng với ông. Tôi sợ cơn thịnh nộ của mẹ, tuy vậy vẫn háo hức tuân theo lời cha. Chúng tôi cùng đi tới con sông. Tôi cảm thấy tự tin và phấn khích, đến mức tôi bảo:

“Cha ơi, cha dẫn con  lên thuyền luôn nha?”

Ông chỉ nhìn tôi, làm động tác ban phúc lành cho tôi, rồi ra dấu bảo tôi quay về. Tôi vờ như đi về, nhưng khi ông quay lưng đi, tôi tuồn ra sau bụi rậm để quan sát ông. Cha lên thuyền và chèo đi. Bóng con thuyền lướt ngang dòng nước  như một con cá sấu, dài và tĩnh lặng.

Cha không quay lại. Ông cũng chẳng đi đâu, thực sự vậy. Ông chỉ chèo và thả thuyền trôi đây đó ngoài kia trên sông. Ai nấy đều thất kinh. Điều chưa bao giờ xảy ra, điều không thể nào xảy ra được, lại đang diễn ra. Họ hàng, hàng xóm, và bạn bè của nhà tôi đều ghé qua bàn luận hiện tượng này.

Mẹ tôi xấu hổ. Bà gần như chẳng nói gì và cư xử điềm tĩnh. Kết quả là hầu như ai cũng nghĩ cha tôi hoá điên rồi. Tuy thế, vài người cho rằng cha có thể đang thực hiện lời hứa với Chúa hay với vị thánh nào đó, hoặc có thể ông mắc phải chứng bệnh kinh khủng nào đó, có lẽ là bệnh phong, và họ cho rằng ông bỏ đi như thế vì gia đình, đồng thời vẫn muốn ở gần gia đình mình.

Mấy người lang thang dọc con sông, và những người sống gần hai bờ sông đều nói lại rằng cha chưa bao giờ đặt chân lên đất liền, bất kể ngày hay đêm. Ông chỉ chèo thuyền vòng vòng con sông, cô độc, vô định, như một kẻ cơ nhỡ. Mẹ và họ hàng nhà tôi đồng ý rằng thực phẩm mà ông chắc chắn có giấu trên thuyền rồi sẽ sớm hết và khi ấy ông sẽ rời con sông đó và đi tới nơi nào khác (điều này ít nhất ổn hơn chút) hoặc ông sẽ ăn năn và trở về nhà.

Những điều như vậy quá xa vời sự thật! Cha có nguồn cung cấp bí mật: tôi. Hàng ngày tôi lén lấy thức ăn và mang tới cho cha. Đêm đầu tiên sau khi ông bỏ nhà đi, tất cả chúng tôi thắp lửa bên bờ sông và cầu nguyện và gọi với tới ông. Tôi đau đớn tột cùng và cảm thấy cần làm gì thêm nữa. Ngày hôm sau tôi tới con sông với ổ bánh mì ngô, một nải chuối, và vài cục đường nâu thô. Tôi chờ đợi sốt ruột một hồi lâu, rất lâu. Rồi tôi thấy con thuyền, từ xa tít, một mình nó, lướt đi thật êm trên bề mặt nước phẳng lặng. Cha ngồi ở đuôi thuyền. Ông thấy tôi nhưng không chèo về hướng tôi cũng như không làm cử chỉ nào hết. Tôi cho cha thấy thức ăn và đặt nó trong hốc đá trên bờ; ở đó thức ăn sẽ an toàn trước bọn thú, trước cơn mưa và trước sương đêm. Tôi làm vậy ngày này qua ngày nọ, cứ như thế suốt. Sau đó tôi biết được, và thật kinh ngạc, rằng mẹ biết tôi đang làm gì và bà để thức ăn ở chỗ mà tôi có thể dễ dàng lấy được. Bà có nhiều xúc cảm nhưng không biểu lộ ra.

Mẹ nhờ anh trai bà đến giúp việc nông trại và chuyện buôn bán. Bà cho giáo viên tới dạy dỗ bọn trẻ ở nhà để bù lại khoảng thời gian mà chúng tôi đã mất. Một ngày nọ, theo yêu cầu của bà, một vị linh mục vận lễ phục, đi xuống bờ sông, và cố gắng xua đuổi bọn tà ma nhập vào người cha. Ông ấy la lên rằng cha có bổn phận phải ngừng lại trò báng bổ dai dẳng kia đi. Ngày khác mẹ thu xếp cho hai người lính tới và cố đe doạ ông. Hết thảy đều vô ích. Cha chèo thuyền ra xa, thỉnh thoảng xa tới mức hầu như không thể thấy cha đâu cả. Cha không bao giờ đáp lại bất kì ai và không ai đến gần được ông. Khi có tay phóng viên đi xuồng tới để chụp ảnh cha, thì cha chèo thuyền sang phía bên kia dòng sông và lẩn vào khu đầm lầy, vốn là nơi ông biết rõ như lòng bàn tay còn người khác sẽ nhanh chóng lạc lối. Ở đó trong cái mê cung riêng tư của ông, dài hàng dặm, với tán lá rậm trên đầu và cói mọc đầy khắp nơi, ông được an toàn.

Chúng tôi phải quen với chuyện cha ở ngoài kia trên con sông đó. Chúng tôi phải thế nhưng chúng tôi không thể, chúng tôi không bao giờ có thể. Tôi nghĩ tôi là người duy nhất hiểu được ở chừng mực nào đó những gì cha chúng tôi muốn và những gì ông không muốn. Điều tôi không hiểu chút nào là làm thế nào ông chịu đựng được khổ ải như vậy. Bất kể ngày đêm, mưa nắng, dù là đợt nóng hay đợt lạnh thấu xương vào giữa năm, với chiếc nón cũ kĩ trên đầu và bộ quần áo ít ỏi trên người, tuần này qua tuần nọ, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ, hờ hững trước cảnh hoang và cái trống trải đi qua đời ông. Ông không bao giờ đặt chân lên mặt đất hay mặt cỏ, lên hòn đảo hay lên bờ ở đất liền. Chắc chắn thỉnh thoảng ông neo thuyền lại ở một nơi bí mật, có lẽ ở mũi đất chỗ hòn đảo nào đó, để ngủ một chút. Ông không bao giờ thắp lửa hoặc thậm chí quẹt diêm lên và ông lại không có đèn pin nào. Ông chỉ lấy rất ít thức ăn tôi để lại trong hốc đá kia – mà theo tôi dường như nhiêu đó không đủ để sống. Ông đang trong tình trạng sức khoẻ ra sao? Rồi khi sức lực ông dần cạn kiệt, thì làm sao mà chèo chống con thuyền được? Và làm sao ông sống được qua những cơn lũ hàng năm, khi nước sông dâng tràn và cuốn theo nó đủ thứ nguy hiểm – nhánh cây, xác chết động vật – mà rất có thể sẽ bất thình lình đâm vào con thuyền bé nhỏ của ông?

Ông không bao giờ nói chuyện với bất kì người nào. Và chúng tôi không bao giờ nói về ông. Chúng tôi chỉ nghĩ. Không, chúng tôi chưa bao giờ đặt cha mình ra khỏi tâm trí mình được. Nếu có khoảng thời gian ngắn ngủi nào đó mà chúng tôi dường như có làm thế, thì đó chỉ là cơn tạm lắng rồi sau đó bị đánh thức đột ngột khi nhận ra hoàn cảnh đáng sợ của ông.

Chị tôi lấy chồng, nhưng mẹ không muốn có tiệc cưới. Đây hẳn là chuyện buồn, vì chúng tôi nghĩ đến ông mỗi khi ăn được món ăn ngon đặc biệt nào đó. Cũng như chúng tôi nghĩ đến ông khi nằm trên những chiếc giường ấm áp vào một buổi đêm giá lạnh, dông bão – nghĩ đến ông ngoài kia, cô đơn và không có gì chở che, cố gắng tát nước ra khỏi thuyền chỉ bằng đôi tay và một quả bầu. Đôi lúc có người bảo rằng tôi càng lúc càng trông giống cha. Nhưng tôi biết rằng lúc ấy tóc và râu của cha chắc hẳn bờm xờm lắm, còn móng tay ông hẳn là dài lắm. Tôi hình dung ông mỏng manh và gầy gò, với tóc đen và làn da cháy nắng, và gần như trần truồng mặc dù tôi thỉnh thoảng có để lại vài bộ đồ cho ông.

Dường như ông không để tâm đến chúng tôi chút nào. Nhưng tôi cảm thấy rất thương và kính trọng ông, và bất kì khi nào họ khen tôi vì một việc làm tốt nào đó, tôi thường bảo:

“Cha dạy tôi hành xử như thế đó.”

Đó không hoàn toàn chính xác nhưng đó là phần chân thật trong lời nói dối. Như tôi nói, cha dường như không để tâm đến chúng tôi. Nhưng thế thì tại sao ông lại ở quanh quẩn ngoài kia? Tại sao ông không đi ngược lên hay đi xuôi xuống dòng sông, để vượt ra khỏi khả năng nhìn thấy chúng tôi hoặc khả năng chúng tôi nhìn thấy ông. Chỉ mình ông biết câu trả lời.

Chị tôi sinh một bé trai. Chị khăng khăng đòi cho cha thấy cháu nội. Một ngày đẹp trời nọ, tất cả chúng tôi đi xuống bờ sông, chị tôi trong bộ đầm cưới màu trắng, và chị nhấc bổng em bé lên. Chồng chị cầm dù che bên trên. Chúng tôi kêu cha thật to và đợi chờ. Ông không xuất hiện. Chị tôi khóc; tất cả chúng tôi ôm nhau mà khóc.

Hai vợ chồng chị tôi chuyển đi thật xa. Anh tôi lên thành phố sống. Thời gian đổi thay, thật nhanh chóng như gió thoảng mây bay. Cuối cùng mẹ cũng dọn đi; bà đã già và tới sống cùng con gái mình. Tôi còn ở lại đằng sau, kẻ còn sót lại. Tôi không bao giờ có thể nghĩ đến chuyện kết hôn. Tôi cứ ở đó với hành trang của đời mình. Cha tôi cứ lang thang một mình và trơ trọi giữa dòng sông, và ông cần tôi. Tôi biết ông cần tôi, mặc dù chưa bao giờ cha cho tôi biết lí do ông làm vậy. Khi tôi cứ suốt ngày đi hỏi mọi người thẳng thừng về chuyện này, toàn bộ họ đều bảo là họ nghe nói rằng cha trước đây có giải thích chuyện này cho người đóng thuyền. Nhưng giờ thì người đó đã mất và không ai biết hay nhớ bất kì điều gì.  Một cuộc chuyện trò có phần ngốc nghếch nào đó, lúc trời mưa đặc biệt nặng hạt và kéo dài không ngớt, cho rằng cha tôi thông tuệ như Noah và đã đóng thuyền khi dự báo được cơn lũ lụt mới sắp xảy đến; tôi mù mờ nhớ người ta nói như vậy. Trong bất kì trường hợp nào, tôi cũng không kết tội cha vì những gì ông làm. Tóc tôi dần chuyển sang màu muối tiêu.

Ở tôi chỉ có những điều buồn bã để nói mà thôi. Tôi đã làm điều gì xấu xa, tôi đã gây ra tội lỗi to lớn gì? Cha luôn ở xa và luôn vắng mặt: và con sông, lúc nào cũng là con sông đó, cứ liên tục thay đổi chính mình. Lúc nào cũng là con sông đó. Tôi bắt đầu bệnh này kia do tuổi già, lúc này thì cuộc sống chỉ diễn ra lây lất. Tôi mắc phải nhiều cơn đau bệnh và khắc khoải. Tôi bị thấp khớp triền miên. Còn cha? Tại sao, tại sao cha lại làm vậy? Cha hẳn là đang mắc bệnh trầm trọng lắm. Cha già lắm rồi. Một ngày nọ, khi sức cùng lực kiệt, ông có thể để con thuyền lật nhào; hoặc ông có thể để con thuyền trôi xuôi theo dòng nước, cứ trôi đi mãi, cho đến khi lao vào con thác rơi xuống mớ hỗn độn sục sôi bên dưới. Điều đó bóp nghẹt tim tôi. Cha đang ở ngoài kia và tôi mãi mãi bị cướp mất sự thanh thản trong lòng mình. Tôi phạm phải tội lỗi mà không biết là gì, và nỗi đau đó là vết thương mở toang bên trong tôi. Có lẽ tôi sẽ biết – nếu mọi thứ khác đi. Tôi bắt đầu đoán xem chuyện gì không ổn.

Ra ngoài đó! Tôi đã phát điên chăng? Không, trong nhà tôi thì từ đó chưa bao giờ được cất lên, chưa bao giờ suốt hàng bao năm trời. Không ai gọi ai là điên cả, bởi chẳng ai điên. Hoặc có lẽ ai cũng điên. Tất cả những gì tôi làm là tới đó và vẫy khăn. Do vậy cha sẽ có thể thấy tôi. Tôi hoàn toàn tự chủ bản thân. Tôi đợi. Cuối cùng cha cũng xuất hiện từ đằng xa, ở đó, lúc ấy ở ngoài kia, một dáng hình lờ mờ đang ngồi ở đuôi thuyền. Tôi gọi với tới ông nhiều lần. Và tôi nói những điều mình vô cùng háo hức để nói ra, để tuyên bố trịnh trọng và còn thề thốt nữa. Tôi cất tiếng nói lớn hết mức có thể:

“Cha ơi, cha đã ở ngoài đó lâu quá rồi. Cha già rồi… Hãy quay trở lại, cha không phải làm thế nữa đâu… Quay lại đi cha rồi con sẽ ra ngoài đó thay cha. Ngay bây giờ, nếu cha muốn. Bất kì lúc nào. Con sẽ lên thuyền. Con sẽ thế chỗ cha.”

Và khi tôi nói điều này ra, tôi nghe tim mình đập rõ ràng hơn.

Cha có nghe tôi. Ông đứng dậy. Ông khua mái chèo và cho con thuyền đi về phía tôi. Ông đã chấp nhận lời đề nghị của tôi. Và đột nhiên tôi run rẩy, tận sâu trong lòng. Bởi ông đã giơ tay vẫy – lần đầu tiên sau bao nhiêu năm dài đằng đẵng. Và tôi không thể… Trong nỗi kinh hoàng, tóc tai dựng đứng cả lên, tôi chạy, tôi tháo chạy điên cuồng. Bởi ông dường như đến từ thế giới khác. Và tôi cầu xin, cầu  xin, cầu xin sự tha thứ.

Tôi cảm nghiệm được cái cảm giác lạnh lẽo dễ sợ đến từ nỗi sợ hãi chết người, và tôi lâm bệnh. Không ai từng thấy hay nghe nói về cha lần nào nữa. Tôi có phải là người không, sau một thất bại như thế? Tôi trở thành cái mà lẽ ra không bao giờ như vậy. Tôi trở thành cái sẽ câm lặng. Tôi biết giờ thì quá trễ rồi. Tôi sợ mình sẽ rút ngắn đi cuộc sống ở thế giới trên cạn này. Nhưng khi cái chết tới, tôi muốn chúng mang tôi đi và đặt tôi lên chiếc thuyền nhỏ trên dòng nước trôi liên tục này giữa hai bờ sông dài; và tôi, xuôi dòng, mất hút trên con sông, trong lòng sông…nơi con sông đó…

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130729

Nguồn:

Rosa, João Guimarães. “The Third Bank of the River.” Oxford Anthology of the Brazilian Short Story. K. David Jackson chủ biên. New York: Oxford University Press, 2006.

Oxford Anthology of the Brazilian Short Story

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s