Rocco Capozzi – Những tiếng nói mới trong nền văn học hiện đại Ý

Rocco Capozzi

Những tiếng nói mới trong nền văn học hiện đại Ý

Duy Đoàn chuyển ngữ

Ở Ý kể từ thập niên 1980 đã bắt đầu phổ biến hiện tượng văn chương đề cập đến khái niệm hậu hiện đại về chuyện làm lại hoặc trở lại những lối kể chuyện kinh điển. Ở đây chỉ nhắc đến một vài ví dụ, như Sogni di sogni của Tabucchi (Những giấc mơ của những giấc mơ, 1992) trình hiện một tác phẩm hư cấu siêu văn chương (metaliterary) mang chất khôi hài dựa trên những giấc mơ mà những người nổi tiếng có lẽ kinh qua, trong khi Itaca per semptre (Mãi mãi Itaca, 1998) của Luigi Malerba (1927-?), một câu chuyện kể lại tác phẩm Odyssey của Homer, cho người đọc thấy Penelope ở vai trò trung tâm cuốn tiểu thuyết khi cô nàng tranh chấp về mặt tâm lí với người chồng của mình. Nàng buộc Ulysses giải thích lí do tại sao chàng đi biền biệt suốt thời gian dài mới về nhà và tại sao nàng lại là người cuối cùng được cho biết nhân dạng đích thực của kẻ hành khất già đã hạ sát nhiều người theo đuổi nàng. Malerba đặt câu hỏi, liệu có phải Ulysses không tin cậy Penelope bằng con trai chàng và bà vú già của chàng? Liệu Ulysses giờ đây đã sẵn sàng rời quê hương một lần nữa, đi theo lời tiên tri vốn buộc anh phải sống một cuộc đời lang thang đây đó? Những đoạn đối thoại xúc cảm của Malerba và sự trao đổi qua lại được Malerba dàn dựng tuyệt đẹp giữa Penelope, Ulysses, và con trai họ Telemacus đã khiến Itaca per sempre thành một dạng văn học siêu hư cấu cực kì thú vị.

Từ đầu thập niên 1990, Alessandro Baricco, một chuyên gia nhạc cổ điển, đã toả sáng như một trong những tác giả thành đạt ăn khách nhất và triển vọng nhất thuộc thế hệ các nhà văn mới ở Ý. Hai tác phẩm đầu tay của ông, Castelli di rabbia (Những toà lâu đài của cơn giận dữ, 1991) và Oceano mare (Đại dương biển, 1993) đạt được doanh số bán rất tốt từ những độc giả yêu thích tài năng Baricco ở những câu chuyện để kể theo lối song song nhau về những nhân vật bất thường trong những khung cảnh kì lạ và siêu thực, thường có biển làm hậu cảnh. Trong Oceano mare, biển và quán trọ Almayer có vai trò như những điểm hội tụ cho mối tương tác giữa các nhân vật dị thường và bí ẩn, chẳng hạn như cô gái trẻ quản lí quán trọ đó, người hoạ sĩ nghĩ rằng anh ta có thể vẽ biển bằng nước biển, một nhà khoa học mong muốn biết được đâu là nơi kết thúc của biển, một người thuỷ thủ với quá khứ u tối, một bà nam tước gần lìa đời, một người phụ nữ ngoại tình, một người vô hình ở phòng số 7, và vị linh mục người hay viết những lời cầu nguyện bất thường. Mỗi nhân vật tìm kiếm một điều gì đó khác với quyền năng của biển. Những chiêm nghiệm thú vị về bản tính đối lại với khoa học, về sự viết, nghệ thuật, và những giấc mơ được trộn lẫn với những đoạn đối thoại ngắn ngủi xảy ra giữa các nhân vật khi họ chợt gặp nhau đây đó trên bờ biển hay trong quán trọ.

City (Đô thị, 1999), một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Baricco, diễn ra tại một thành phố vô danh ở Mĩ. Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh Shatzy Shell đang nói chuyện điện thoại ở đài truyền hình, đang tổ chức bỏ phiếu để quyết định xem liệu nhân vật nọ có nên chết trong một bộ phim truyền hình nổi tiếng hay không. Rõ ràng đó là những ám chỉ có chủ ý về sự cường điệu của giới truyền thông xung quanh tình tiết “Who shot JR” (Ai bắn JR?) trên loạt phim truyền hình Mĩ Dallas (nổi đình nổi đám rất dữ dội ở Ý). Những nhân vật chính của ba câu chuyện song song là Gould, một đứa bé thần đồng xuất thân từ một gia đình li dị nhau, và là người tham dự vào những lớp đại học; Shatzy Shell, người viết một cuốn sách về miền viễn tây nước Mĩ và kết cuộc trở thành người chăm sóc Gauld; và một tay đấm bốc, Larry Lawyer, người có những trận đấu huyền thoại từ cái thời của máy phát thanh radio. City là một biểu thị xuất sắc cho tài nghệ của Baricco trong việc vận dụng cách trình hiện nhiều câu chuyện đan xen và hoà vào nhau ở nhiều thời điểm khác nhau trong cuốn tiểu thuyết.  Nhà văn này có tuyệt kĩ ở cách hoà lẫn quá khứ và hiện tại, hư cấu và siêu hư cấu (metafiction), ở cách thêm vào những cuộc thảo luận hóm hỉnh về nghệ thuật, phim ảnh, và văn chương và nỗi ám ảnh đương thời về sự tiêu thụ. Ông cũng dùng đến những cảnh hồi tưởng và cách đóng khung ngưng đọng hình ảnh tương tự với những kĩ thuật được dùng trong điện ảnh. Cuốn tiểu thuyết miền viễn tây của Shatzy về một tay cảnh sát trưởng đuổi bắt một tên xấu ở một thị trấn nọ nơi thời gian ngừng lại sau khi đồng hồ ở đó ngưng tích-tắc lại một cách bí ẩn, và nó liên kết cuộc đời của Gould với Shatzy. Tài năng nổi bật ở Baricco nằm chỗ dù cho có đưa vào cảnh đóng khung ngưng đọng hình ảnh, những khúc cắt ngang, những cảnh hồi tưởng, và sự xen kẽ liên tục của những câu chuyện, nhưng người đọc vẫn không bao giờ mất dấu lạc lối ở những cốt truyện hồi hộp được ông dựng lên.

Được dịch sang nhiều thứ tiếng và nhận được nhiều bài điểm sách tích cực ở nước ngoài cũng như trong nước Ý, Seta (Lụa, 1996) của Baricco là tác phẩm nổi danh nhất và từng ca ngợi nhiều nhất cho đến giờ. Đó là một cuốn sách mỏng được dịch sang hơn mười lăm ngôn ngữ, một câu chuyện hư cấu về một người Pháp chuyên đi mua bán tằm ở thế kỉ mười chín, Hervé Joncour. Trong lúc bệnh dịch sát hại nhiều con tằm Âu châu và Trung Đông, nhân vật này đã tới Nhật để mua thêm tằm. Ở Nhật, cuối cùng thì anh ta cũng mua được món hàng quý giá ấy, nhưng trên hết là anh phải lòng với một người phụ nữ trẻ bí ẩn mà thậm chí anh chưa bao giờ nói chuyện cùng. Lụa thật sự không thể gọi là tiểu thuyết hay truyện vừa. Có thể nó là một dạng biến thể của hai thể loại đó thì đúng hơn. Có cốt truyện, có sơ đồ câu chuyện, và có sự phát triển của một vài nhân vật, nhưng ở đây còn có lòng nhiệt thành khám phá, có cái huyền bí của một nhân vật chính vô ngôn, có sự thích thú cái bí ẩn, tất cả các yếu tố đồng thời nổi bật lên và tan vào nhau cùng với cấu trúc câu chuyện. Cuốn sách được viết theo văn phong trữ tình, với những câu chữ có ý bắt lấy hoặc nhấn lấy cái cảm giác xa cách của các nhân vật chính, cũng như niềm thích thú và vẻ tươi mát nơi thế giới mới bất an. Lụa điển hình cho một biệt lệ trong sản phẩm của Baricco, đặc biệt bởi có cốt truyện thưa thớt mà hiệu quả, đó là không xoắn xuýt các cốt truyện bên trong lại với nhau, như những tác phẩm khác của ông.

Niccoló Ammaniti là một trong những nhà văn đầu tiên theo phong trào văn chương “Giovani Cannibali” (Những kẻ ăn thịt đồng loại trẻ tuổi), và ông bắt đầu khai thác các thể loại văn chương giật gân, máu me, và loại rẻ tiền câu khách bằng cách dùng các mô tả về tình dục, bạo lực, và nhạc metal. Ammaniti trình làng bằng ấn phẩm tập truyện ngắn với nhan đề Fango (Bùn lầy, 1996), một tác phẩm làm ông nổi tiếng ngay tức thì. Những độc giả không phải người Ý khi tiếp xúc tập truyện này sẽ gặp chút khó khăn mới có thể nhận ra rằng Fango (đặc biệt là truyện mở đầu, “L’utimo capodanno”, [Đêm giao thừa cuối cùng]), vốn chất đầy đủ thể loại bạo lực và những cảnh bùng nổ đặc trưng ở những bộ phim như Fargo (do anh em nhà Coen đạo diễn), có những mối nối kết ấn tượng với nhiều bộ phim Mĩ lúc bấy giờ như Donnie Brasco, Pulp Fiction, hay Reservoir Dogs. Sau đó, tác phẩm Ti prendo e ti porto via (Tôi sẽ đến và mang em đi, 1999) của Ammaniti đã san sẻ những điểm tương đồng với tác phẩm City của Baricco ở cách hành văn điệu nghệ khi dùng những cách ngắt quãng, nhập vào nhau, và dùng những câu chuyện song song chồng lên nhau. Tác phẩm kể về một cậu thanh niên bé nhỏ và nhút nhát Pietro Moroni, người thường xuyên bị bạn bè trong trường ăn hiếp, và một gã dân chơi bốn mươi tươi Graziano Biglia, một tay lừa tình huyền thoại ở mấy vũ trường và bãi biển xung quanh khu nghỉ mát mùa hè ở Rimini. Cuộc đời hai người họ hội tụ lại ở vài thời điểm trong một thị trấn nhỏ phía bắc Rome. Một người phụ nữ mang tên Flora Palmieri là chất xúc tác mang hai người lại với nhau, cũng như những nhân vật lạ lùng hay mờ ám khác, tất cả họ dường như xuất thân từ những gia đình tan vỡ. Flora là trinh nữ ở độ tuổi trung niên, dạy học trong trường của Pietro. Cô ta bị Graziano dụ dỗ rồi bỏ rơi. Ở phần cuối tiểu thuyết, Pietro giết  Flora vì đã làm cậu thất vọng. Pietro, Graziano, và Flora, tất thảy đều học được từ kinh nghiệm đau thương rằng người ta hứa hẹn để sau đó nuốt lời.

Trong khi ở tác phẩm Fango, Ammaniti lợi dụng những mô tả đồ hoạ về bạo lực, thì Ti prendo e ti porto via lại dùng thường xuyên những mô tả tục tĩu và khiêu dâm, đặc biệt khi câu chuyện dõi theo những chuyến phiêu lưu tình ái ướt át của Graziano. Tuy nhiên, trong văn phong của Ammaniti, những yếu tố phô bày thẳng thừng về mặt hình ảnh như vậy được biểu hiện với vẻ tự nhiên phản ánh mức độ cực kì vô tâm của những độc giả đương thời khi đứng trước bạo lực hoặc những thứ mà mãi tới gần đây vẫn còn được xem là ngôn ngữ tục tĩu. Do vậy, Ammaniti chứng tỏ cho độc giả của mình thấy làm thế nào mà bạo lực và những hình ảnh dục tình công khai từ truyện tranh, hoạt hình, điện ảnh, và phương tiện truyền thông đại chúng nói chung tràn ngập ngôn ngữ văn chương của chúng ta.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130919

Nguồn:

Capozzi, Rocco. “New voices of Italian Fiction.” The Cambridge Companion to Italian Novel. Chủ biên Peter Bondanella & Andrea Ciccarelli. New York: Cambridge University Press, 2003.

The Cambridge Companion to Italian Novel

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s