[Từ điển triết học Cambridge] apeiron

Duy Đoàn chuyển ngữ

Apeiron, thuật ngữ Hi-lạp nghĩa là ‘cái vô hạn’ hoặc ‘cái bất tận’, sau tiến triển thêm để biểu thị ‘cái bất định’. Anaximandros trình làng thuật ngữ này cho triết học bằng cách nói rằng nguồn của vạn vật là apeiron. Có một mối bất đồng ý kiến về việc ông ta dùng thuật ngữ này ý chỉ cái vô tận về mặt không gian, vô tận về mặt thời gian, hay bất định lượng. Có vẻ ông ta có ý dùng thuật ngữ này để chuyển tải ý nghĩa đầu tiên, nhưng hai nghĩa còn lại cùng tình cờ áp dụng được vào cái vô tận về mặt không gian. Sau Anaximandros, Anaximenēs tuyên bố không khí vô hạn chính là nguyên lí đầu tiên của mình, và Xenophanēs làm cho mặt đất phẳng mở rộng xuống dưới không có ranh giới nào, và có thể hướng ra ngoài theo bề ngang cũng không có giới hạn nào. Parmenidēs lập luận rằng “cái-tồn-tại” phải được giữ bên trong những ranh giới xác định. Nhưng môn đệ của ông Melissos một lần nữa lập luận rằng cái-tồn-tại phải vô tận – về thời gian lẫn không gian – bởi vì nó có thể vô thuỷ vô chung. Một môn đệ khác của Parmenidēs, Zenon xứ Elea, lập luận rằng nếu có nhiều bản thể, thì các nghịch lí sẽ trỗi dậy, bao gồm những hệ quả rằng các bản thể vừa hữu hạn vừa vô hạn (apeira) về mặt con số, và chúng quá nhỏ đến mức không có được kích thước và quá lớn đến mức có kích thước vô hạn. Phản bác nhất nguyên luận, Anaxagóras lập luận ủng hộ lượng bất định các nguyên tố vốn có kích thước vô hạn ở mỗi nguyên tố, và Philolaos, triết gia theo phái Pythagoras, đã lập những cái hữu hạn (perainonta) và những cái vô hạn (apeira) là những nguyên lí từ đó vạn vật được cấu thành. Các nhà nguyên tử luận Leukippos và Dēmokritos hình dung về một vũ trụ vô tận, một phần đầy (một lượng vô hạn các nguyên tử) và một phần rỗng; và trong vũ trụ này có hằng hà sa số (apeiroi) các cõi sống. Cuối cùng Aristotelēs đi đến một nhận thức trừu tượng về apeiron như là ‘cái vô hạn’, ông tuyên bố giải quyết được những nghịch lí về cái vô tận bằng cách cấp phát những lượng thực sự có thể được phân chia vô hạn về mặt tiềm năng, nhưng không về mặt hiện thực (Physics III. 4-8). Sự phát triển khái niệm apeiron đã chứng tỏ làm thế nào mà các triết gia Hi-lạp mở rộng thành những ý niệm triết học trừu tượng hơn bao giờ hết từ những quan niệm tương đối cụ thể. 

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20131004

Nguồn:

Graham, Daniel W. “Apeiron.” The Cambridge Dictionary of Philosophy.  Robert Audi chủ biên. Phiên bản thứ 2. New York: Cambridge University Press, 1999.

The Cambridge Dictionary of Philosophy (1999)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s