Dave Kehr – Về đạo diễn Jacques Tati

Jacques Tati

Dave Kehr

Về đạo diễn Jacques Tati

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cha của Tati đã thất vọng khi con trai mình không tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, phục chế và đóng khung những bức hoạ xưa cũ. Tuy thế trong những phim của Jacques Tati, nghệ thuật đóng khung – chọn lựa các đường biên, và khai thác những giới hạn của hình ảnh – đã đạt được tầm cao biểu hiện mới. Thay vì phục chế lại các bức hoạ xưa cũ, Tati phục dựng lại nghệ thuật hài kịch hình ảnh, mang đến một mật độ và nét sắc sảo mới ở các chi tiết, một nét sáng sủa mới về mặt bố cục. Ông là một trong số ít những nghệ sĩ điện ảnh – những người khác gồm có Griffith, Eisenstein, Murnau, Bresson – được cho là có thể chuyển hoá phương tiện truyền đạt ở cấp độ căn bản nhất, để phát hiện ra một lối nhìn mới.

Sau sự nghiệp ngắn ngủi làm cầu thủ rugby, Tati bước vào khu vực sân khấu tạp kĩ của Pháp vào đầu thập niên 1930; lối diễn của ông là dùng kịch câm giễu nhại những ngôi sao thể thao thời đó. Một số buổi trình diễn của ông được quay lại thành những đoạn phim ngắn vào thập niên 1930 (và ông xuất hiện với vai diễn phụ trong hai phim của Claude Autant-Lara), nhưng ông không quay lại việc đạo diễn mãi đến khi kết thúc chiến tranh, với bộ phim ngắn năm 1947 L’Ecole des facteurs. Hai năm sau, phim ngắn đó được mở rộng thành phim truyện, Jour de fête. Ở đây Tati vào vai một anh bưu tá làng, người bị choáng trước những phương pháp “hiện đại, hiệu quả” mà anh ta thấy được trong một phim ngắn nói về hệ thống bưu điện tại Mĩ, và anh bưu tá này quyết định cải tiến quá trình hoạt động của mình để nó mượt mà hơn. Chủ đề châm biếm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Tati – sự lạnh lùng của công nghệ hiện đại – đã vững chắc, mà quan trọng hơn là phong cách hình ảnh của ông cũng vậy. Nhiều cảnh hoạt kê trong Jour de fête phụ thuộc vào cách dùng những đường khung và những đối tượng tiền cảnh để làm mờ đi sự kiện hài hước – không đẩy cảnh hoạt kê đó tới bến, mà giấu nó đi và tinh lọc nó, để buộc người xem phải trực cảm, và đôi lúc phải sáng tạo, câu chuyện cười cho bản thân mình.

Tati mất bốn năm để làm bộ phim tiếp theo, Les Vacances de Monsieur Hulot (Mr. Hulot’s Holiday), bộ phim giới thiệu một nhân vật mà ông sẽ thủ vai trong suốt phần sự nghiệp còn lại của mình – một người đàn ông Pháp lập dị một cách lịch thiệp với dáng cao dong dỏng luôn ngả người về trước như thể bị sức nặng của tẩu thuốc trên môi ông kéo xuống. Sự ấm áp ở cách tạo dựng nhân vật , cộng với tính sáng tạo rực rỡ ở những cảnh hoạt kê hình tượng, đã khiến Mr. Hulot gặt hái được thành công quốc tế, tuy vậy bộ phim đã cho thấy nỗi bất mãn của Tati với ý tưởng truyền thống về một ngôi sao hài kịch. Hulot không phải diễn viên hài, theo nghĩa là nguồn cơn và nơi tập trung của sự hài hước; thay vào đó, ông là một thái độ, một biển chỉ đường, một quan điểm vén mở ra cái hài hước ở cõi sống xung quanh mình.

Mon Oncle là một bộ phim chuyển tiếp: mặc dù Hulot đã từ bỏ địa vị ngôi sao của mình, ông vẫn được người xem nhận ra giữa các nhân vật – nổi trội mà lạ thay chỉ ở bên lề. Với Playtime, được công bố sau chín năm sản xuất tốn kém và khó nhọc, ý định của Tati trở nên rõ ràng. Hulot giờ đây chỉ đơn thuần là một nhân vật trong số nhiều nhân vật khác, lượn qua lại giữa những luồng hành động rất giống với Mackintosh Man trong tác phẩm Ulysses của Joyce. Và ngay khi Tati người diễn viên từ khước cách vận dụng nhân vật của mình để dẫn lối cho người xem xuyên suốt bộ phim, thì Tati người đạo diễn cũng từ khước cách dùng lối quay cận cảnh (close-up), những góc quay nhấn mạnh, hay dùng những đoạn phim để hướng dẫn người xem đến với cái hài hước trong những hình ảnh. Playtime được cấu thành hầu hết từ những hoạt cảnh với lối quay toàn cảnh (long-shot), điều đó làm cho người xem tự do lang thang khắp khung hình, để chọn lấy những cảnh hoạt kê hoặc xảy ra ở tiền cảnh, hoặc ở hậu cảnh, hoặc chỉ xảy ra ở một bên khung hình. Bộ phim trả lại cho người xem cái nhìn thơ dại; đạo diễn không đưa ra phán đoán giá trị nào, cũng chẳng đưa ra những thứ bậc ưu tiên cần chú ý. Chúng ta được trao cho một khu vực sáng sủa, được để cho tự do phản ứng với một môi trường không bị các định kiến làm ô nhiễm.

Tuy nhiên, đối với những người quen với việc được bảo cho biết nên thấy những gì, thì họ lại thấy ngột ngạt trước cái tự do mà Playtime đem lại. Bộ phim này (được công chiếu theo nhiều phiên bản, từ bản phim 70mm với âm thanh nổi chiếu suốt ba tiếng đồng hồ cho đến phiên bản cắt xén đến phi lí của Mĩ dài 93 phút) là một thất bại về mặt thương mại. Nó làm cho Tati chìm ngập trong nợ nần cá nhân.

Bộ phim điện ảnh cuối cùng của Tati, Trafic (1971), hẳn sẽ là một kiệt tác đối với bất kì đạo diễn nào khác, nhưng đối với Tati nó rõ ràng là một sự quay lại an toàn trở về một phong cách truyền thống hơn. Dự án cuối cùng của Tati, bộ phim truyền hình 60 phút có nhan đề Parade, chưa bao giờ được chiếu tại Mĩ. Năm phim trong 25 năm không phải là hồ sơ ấn tượng ở một thể loại truyền thông mà ở đó tầm vóc thường được đo lường bằng số lượng, nhưng chỉ mỗi Playtime thôi cũng là một thành tựu để đời – một bộ phim giải phóng và tiếp thêm sức sống cho hành động nhìn vào cõi sống này.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20131009
Nhân 105 năm ngày sinh của Jacques Tati

Nguồn:

Kehr, Dave. “Jacques Tati.” International Dictionary of Films and Filmmakers. Phiên bản thứ 4. Quyển 2. Tom Pendergast & Sara Pendergast chủ biên. Detroit: St. James Press, 2000.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s