Italo Calvino – Từ ngữ thành văn và bất thành văn

 

Italo Calvino

Từ ngữ thành văn và bất thành văn

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của William Weaver

Bài nói chuyện này được trình bày tại New York Institute for the Humanities, trong chương trình James Lecture, vào ngày 30/3/1983.

Khi người ta yêu cầu tôi thực hiện một bài nói chuyện, không về một chủ đề đặc biệt nào, mà để tôi tự do chọn lựa chủ đề để nói, tôi cảm thấy phần nào lúng túng.

Thường khi tôi viết tôi cảm thấy bản thân mình được bảo vệ đằng sau cái đối tượng cứng cáp được gọi là văn bản viết, nó sẽ tuỳ thuộc công chúng khi đọc nó, hoặc nếu họ thấy không hài lòng, cứ buông nó ra bất kì lúc nào. Còn một bài nói chuyện thì ngược lại, tôi phải đối diện không chỉ với cử toạ mà còn với vấn đề bên trong tôi: Cử toạ này sẽ kì vọng điều gì từ những lời của tôi? Khi tôi phải diễn thuyết bằng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của chính mình, một vấn đề khác trỗi dậy: Liệu những ngôn từ tôi đang nghĩ có giống với những cái tôi đang nói và với những cái thính giả sẽ tiếp nhận không?

Để khắc phục những khó khăn này, tôi bắt đầu để xung quanh mình mấy cuốn từ điển, như thể từ chúng mà giải pháp sẽ xuất hiện ra. Chẳng hạn, tôi có thể tìm từ “lecture” và xem thử từ đó gợi ra cho tôi điều gì.

“Lecture” theo từ điển Webster nghĩa là: “a) một bài nói chuyện truyền tải kiến thức được thực hiện trước cử toạ và thường được chuẩn bị trước; b) văn bản của một bài nói chuyện như vậy.” Do đó, tôi ở đây, đang chuẩn bị bài nói chuyện của mình cho tử tế, và những trang giấy tôi đang giữ trong tay mình là cái văn bản tôi đã viết ra. Không thể ứng biến, tôi buộc phải đọc, cảm thấy dễ chịu bởi từ nguyên Latin của từ “lecture”, cũng do Webster đưa ra. Ở bất kì trường hợp nào, tôi không bao giờ có thể thoát khỏi số phận của mình: ở ngoài công chúng cũng như trong đời sống riêng tư tôi luôn giữ trang viết cách mũi mình mấy cm. Trong suốt chuyến đi để gia nhập các vị đây, trên phi cơ băng ngang đại dương, và sau đó khi ngồi trên xe taxi băng qua Manhattan, tôi đọc lại văn bản của mình, cũng để thực hành phần phát âm; và thi thoảng tôi ngước mắt lên khỏi trang giấy, nhìn quanh quất, khám phá ra một thế giới khác hoàn toàn so với thế giới bên trong trang viết; mỗi lần tôi bắt đầu đọc lại, tôi càng thấy khốn hoặc, và cứ mỗi lần thì văn bản đó lại trông khác trước. Tình trạng gián đoạn này giữa trang viết, vốn bất động và ổn định, với cái thế giới phong phú di động bên ngoài trang giấy chưa bao giờ thất bại trong việc làm tôi sửng sốt: thậm chí giờ đây, ở hội trường này, mỗi lần tôi ngước mắt lên nhìn cử toạ, tôi nghe mình có một cảm giác bối rối quen thuộc, và tôi tự hỏi: Tại sao tôi lại viết những thứ tôi đã viết?

Đây sẽ là chủ đề của bài nói chuyện của tôi: điều gì xảy ra vào cái lúc tôi ngước mũi khỏi trang giấy viết và nhìn xung quanh, một thời điểm lặp đi lặp lại vô số lần trong ngày, có lẽ đó là thời điểm then chốt,  thời điểm của sự thật.

Tôi thuộc về phần đó của nhân loại – thiểu số ở cấp độ hành tinh, nhưng tôi nghĩ là đa số trong hội trường này – vốn là những người bỏ hầu hết thời gian thức giấc ở trong một thế giới đặc biệt vô cùng, một thế giới được tạo dựng bởi những đường kẻ ngang nơi mà cùng một lúc từ ngữ này tiếp nối từ ngữ kia, và mỗi câu và mỗi đoạn văn chiếm lĩnh vị trí trật tự của mình, một thế giới có lẽ rất phong phú, thậm chí phong phú hơn nhiều so với thế giới phi văn tự, nhưng trong bất kì trường hợp nào cũng cần một sự điều chỉnh đặc biệt để ta tự thích ứng với nó. Khi tôi di chuyển từ thế giới văn tự sang cái kia, cái mà chúng ta lúc này gọi là thế giới này, dựa trên ba chiều kích, năm giác quan, có bốn tỉ người cư ngụ, thì đối với tôi chuyện này có nghĩa là lần nào cũng lặp lại sự kiện chào đời của tôi, lại đi xuyên qua vết thương tổn của nó, để định hình một thực tại khả niệm từ nhiều cảm giác lộn xộn, để chọn lại một chiến lược nhằm đối diện cái bất ngờ mà không bị nó tiêu huỷ đi.

Sự chào đời mới mẻ này đối với tôi lần nào cũng được đánh dấu bởi những nghi thức đặc biệt báo hiệu ngõ vào một cuộc sống khác: chẳng hạn, nghi thức đeo kính vào bởi vì tôi là một gã cận thị và tôi đọc không cần cặp kính – trong khi đối với đa số viễn thị như các vị thì nghi thức hẳn là ngược lại, tháo cặp kính mà các vị dùng để đọc.

Bất kì lễ nghi nào cũng đều muốn nói đến sự thay đổi ở thái độ của tâm trí chúng ta: khi đọc tôi cần hiểu nhanh mọi câu chữ, ít nhất cái nghĩa đen của nó, và một khi đã hiểu được nó, tôi cảm thấy sẵn sàng để tuyên bố phán đoán: những gì tôi đọc là thật hoặc giả, đúng hoặc sai, dễ chịu hoặc khó chịu. Trong cuộc sống bình thường của tôi thì ngược lại, vô số trường hợp thoát khỏi nhận thức của tôi, từ cái tổng quát nhất đến cái đơn giản nhất và vụn vặt nhất: tôi thường đối diện với những tình huống mà tôi không thể có ý kiến và tôi thích treo lại phán đoán một bên hơn.

Khi tôi chờ cái thế giới phi văn tự trở nên rõ ràng hơn, luôn có một trang viết mở ra trước mắt, nơi tôi có thể đắm mình trở lại trong nó; tôi làm điều đó không chút chậm trễ và cảm thấy thoả mãn vô cùng bởi vì ít nhất, cho dù cái tôi hiểu chỉ là một phần nhỏ của cái toàn thể, thì tôi vẫn có thể trân ái cái ảo giác rằng tôi đang giữ cho mọi thứ trong tầm kiểm soát.

Tôi nghĩ mình cảm thấy giống vậy hồi còn trẻ, nhưng lúc đó cái ảo giác của tôi là những thế giới văn tự và phi văn tự hẳn sẽ làm sáng tỏ nhau; những trải nghiệm trong cuộc sống và những trải nghiệm trong sách vở bổ sung nhau, và khi có tiến bộ trong một lĩnh vực thì tôi sẽ tiến bộ được ở lĩnh vực còn lại. Ngày nay tôi có thể nói rằng tôi biết nhiều về thế giới văn tự hơn trước: bên trong sách vở, cảm nghiệm vẫn có thể có được, nhưng địa hạt của nó kết thúc ở phần lề trắng trên trang giấy. Ngược lại, những gì xảy ra xung quanh tôi luôn làm tôi ngạc nhiên, làm tôi sợ hãi, để lại trong tôi nhiều nỗi âu lo. Tôi đã thấy được nhiều đổi thay trong đời mình, ở thế giới rộng lớn này, ở xã hội xung quanh, nhiều sự thay đổi ngay trong bản thân mình, và tuy thế tôi không thể tiên đoán được bất kì điều gì, cho tôi, cho những người tôi biết, chứ đừng nói chi đến tương lai của nhân loại. Tôi không thể tiên đoán mối quan hệ tương lai giữa hai giới tính, giữa hai thế hệ, những phát triển tương lai của xã hội, của những đô thị, của những đất nước, loại hoà bình nào hoặc loại chiến tranh nào sẽ xuất hiện, đồng tiền sẽ có ý nghĩa gì, món nào trong số những đồ vật hàng ngày xung quanh ta sẽ biến mất và những cái nào sẽ hiện ra, dạng xe cộ và động cơ nào sẽ hiện hữu, tương lai của biển, của sông, của động vật, của thực vật sẽ ra sao. Tôi biết rằng tôi san sẻ sự vô tri của mình với những người ở tình trạng ngược lại, những người giả vờ biết: những nhà kinh tế, những nhà xã hội học, những nhà chính trị; nhưng cái thực tế tôi không cô độc lại không làm tôi vui lên chút nào.

Tôi có thể tự làm mình vui lên bằng cách nghĩ văn chương luôn hiểu được thứ gì đó nhiều hơn các lĩnh vực khác, nhưng điều này làm tôi nhớ rằng những người cổ đại thấy được ở các bộ môn nhân văn một trường phái của sự thông thái, và tôi nhận ra ngày nay thật khó lòng mà đạt được cái ý tưởng về sự thông thái đó.

Vào lúc này các vị sẽ hỏi tôi: Nếu anh thấy thế giới đích thực của anh là trang viết, cái thế giới duy nhất nơi đó anh cảm thấy thoải mái, tại sao anh muốn rời nó, và tại sao anh lại liều lĩnh dấn vào cái thế giới rộng lớn mà anh không thể làm chủ? Câu trả lời rất đơn giản: để viết. Bởi vì tôi là người viết. Tôi phải đưa mắt khám phá xung quanh, bắt lấy những khoảnh khắc đang diễn ra, rồi lại oằn mình trên bàn viết và tiếp tục với công việc tạm thời bị đứt quãng của mình. Chính là để bắt đầu lại cái công xưởng từ ngữ của mình mà tôi phải kéo lên nguồn nhiên liệu mới từ những cái giếng nơi thế giới phi văn tự.

Nhưng ta hãy nhìn sâu vào tình huống này hơn nữa. Liệu những sự vật thực sự giống thế này? Những triết lí dẫn đầu hiện thời bảo: Không, anh sai rồi. Hai kết luận tương phản đối với hai dòng chảy triết học ám ảnh tâm trí nhà văn. Một bên nói: Thế giới không tồn tại, chỉ có ngôn ngữ tồn tại thôi. Bên kia bảo: Ngôn ngữ chung không mang ý nghĩa gì cả; thế giới này là thứ ta không thể hình dung theo đúng nghĩa đen của nó.

Với kết luận đầu, ngôn ngữ vững chắc đứng canh chừng thế giới những bóng hình; với kết luận sau, chính cái thế giới đứng đó như con nhân sư câm lặng bằng đá trên vùng sa mạc từ ngữ đang dịch dời trong cơn gió.

Dòng chảy đầu tiên có nguồn từ Paris của ngày nay; cái thứ nhì lưu chuyển từ bước ngoặt thế kỉ ở Wien, nhưng đã đi qua nhiều lần phục hồi và ngày này cũng phổ biến rộng khắp ở đất nước tôi. Cả hai trường phái triết học này đều khẳng quyết mạnh mẽ rằng mình đúng. Cả hai đều đem đến một thách thức cho nhà văn: ở trường phái đầu, là việc dùng một ngôn ngữ chỉ có trách nhiệm với chính nó; ở trường phái kia, là việc dùng một ngôn ngữ nhằm đạt tới sự tĩnh lặng của thế giới. Điều này nghĩa là tôi không theo bên nào hết, tôi cũng không tin bên nào. Thế thì tôi tin vào điều gì?

Hãy để tôi xem thử trong một lúc liệu mình  có thể có được sự thoả mãn nào đó bởi tình huống khó khăn này. Trước nhất, nếu chúng ta cảm thấy quá căng thẳng ở mối bất tương thích giữa cái văn tự và cái phi văn tự, chính là vì chúng ta bây giờ ý thức nhiều hơn hẳn về việc thế giới văn tự là gì, chúng ta thậm chí không thể quên rằng nó được tạo ra bởi từ ngữ, rằng ngôn ngữ được dùng theo những kĩ thuật và những chiến lược của bản thân nó, rằng các ý nghĩa và các mối quan hệ giữa những ý nghĩa được tổ chức thuận theo những hệ thống riêng biệt; chúng ta ý thức rằng khi một câu chuyện được kể ra cho ta nghe (và gần như mọi văn bản viết đều kể một câu chuyện, hoặc nhiều câu chuyện, ngay cả một cuốn sách triết học, ngay cả bản chi tiêu của công ti, ngay cả công thức nấu ăn) thì câu chuyện này được một cơ cấu làm cho chuyển động, giống như những cơ cấu khác của những câu chuyện khác.

Sự nhận thức này là một tiến bộ lớn lao: chúng ta giờ đây tránh được bất kì sự rối rắm nào giữa những thứ mang tính ngôn ngữ học và những thứ không phải, do đó chúng ta có thể ý thức chuẩn xác hơn về bất kì mối quan hệ khả dĩ nào giữa hai thế giới này.

Bây giờ tôi chỉ phải làm việc kiểm tra ngược lại, để xem thử việc thế giới bên ngoài vẫn ở đó, và không phụ thuộc vào từ ngữ, trong chừng mực nào đó không thể quy giản thành từ ngữ, và không lời nói, không chữ viết nào có thể tát cạn nó. Tôi chỉ phải xoay lưng lại với những từ ngữ được gửi gắm trong những cuốn sách, đắm mình vào thế giới bên ngoài, và tôi sẽ hoà nhập vào phần tinh tuý của sự tĩnh lặng, cái tĩnh lặng vốn ngập tràn ý nghĩa… Làm thế nào tôi có thể vươn tới nó?

Để tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một số người chỉ đơn thuần mua báo mỗi sáng. Tôi không ngây thơ đến thế. Tôi biết rằng trong những tờ báo thì tôi chỉ có thể lấy được sự hiểu biết về thế giới do người khác tạo ra, hoặc đúng hơn là được tạo ra bởi một bộ máy vô danh chuyên chọn lọc từ vô vàn những mớ sự kiện hỗn độn để lấy những sự kiện vốn có thể được tóm vào trong cái rây “tin tức”.

Những người khác, để thoát khỏi những thế giới văn tự, họ bật truyền hình. Nhưng tôi biết rằng tất cả những hình ảnh, thậm chí tường thuật trực tiếp, đều thuộc về một bài nói được dựng sẵn, không khác gì mấy tờ báo. Do vậy, đừng mua báo, đừng bật TV, hãy ra ngoài tản bộ.

Nhưng mọi thứ tôi thấy trên những con đường thành thị đã có được vị trí của nó theo mẫu hình của thông tin thuần nhất. Thế giới tôi thấy như thế này, cái mà chúng ta thường nhìn nhận như thế giới này, tự phô bày ra trước đôi mắt tôi – ít nhất là phần lớn – vốn đã được định rõ, gắn nhãn, được xếp vào danh mục. Nó là một thế giới đã bị những từ ngữ chinh phục, lập thuộc địa, một thế giới chống đỡ lớp vỏ ngôn từ nặng trịch. Những sự việc của đời sống chúng ta đã được phân loại, được xét đoán, và được bình luận hết cả rồi, thậm chí trước khi xảy ra. Chúng ta sống trong một thế giới nơi mọi thứ đã được đọc cả rồi thậm chí trước khi nó bắt đầu hiện hữu.

Tôi thấy lập luận của tôi dẫn mình đến ngõ cụt. Nếu thế giới phi văn tự thật sự được viết ra hoàn toàn, thì tôi sẽ không bao giờ phá vỡ cái vỏ văn tự xung quanh mình, cho dù tôi có ngước mắt khỏi trang sách hay nhìn xuống; tôi không thể kì vọng bất kì sự đổi thay nào.

Không chỉ mọi thứ ta thấy mà chính đôi mắt ta cũng thấm đẫm ngôn ngữ viết. Qua nhiều thế kỉ, thói quen đọc đã làm thay đổi Homo sapiens thành Homo legens. Nhưng Homo legens này không sapiens hơn tổ tiên của họ. Người không đọc có thể thấy và nghe nhiều thứ mà chúng ta không thể nhận biết được lúc này: dấu vết của những con mãnh thú họ đang săn, những dấu hiệu cho biết sắp có mưa hoặc gió. Họ có thể cho biết giờ giấc trong buổi ban ngày bằng cách nhìn bóng cây hoặc trong buổi ban đêm bằng cách nhìn vị trí của các ngôi sao ở chân trời. Và về việc nghe, ngửi, nếm, và chạm, thì khả năng ưu việt của họ so với chúng ta là điều không thể phủ nhận.

Dù sao, tôi không đến đây để đề xuất chuyện phục hồi việc mù chữ nhằm khôi phục lại cái tri thức của những bộ lạc thời đồ đá. Tôi tiếc mọi thứ mà ta đã mất đi, nhưng tôi nhớ rằng những thứ đạt được vượt trội so với những thứ mất đi. Điều mà tôi đang cố khám ra là điều mà chúng ta có thể thật sự làm được ngày nay.

Tôi phải đề cập đến những khó khăn đặc biệt của mình với tư cách là một người Ý trong mối quan hệ với thế giới này và với ngôn ngữ. Người đàn ông đang nói chuyện vói các vị là một nhà văn đến từ một đất nước vốn gây ra rất nhiều chuyện nản lòng cho những ai cố hiểu nó. Ý là một nơi ở đó nhiều câu chuyện bí ẩn cứ xảy ra, được bàn luận và bình luận rộng rãi hàng ngày nhưng chưa bao giờ được giải quyết; nơi mà mọi sự kiện đều che giấu một mưu đồ bí mật nào đó mà bản chất của nó vẫn còn được ẩn giấu mặc dù sự thật về việc là một bí mật thì không phải là một bí mật gì; là nơi mà không câu chuyện nào đi đến hồi kết bởi vì những khởi đầu của nó hãy còn mập mờ, nhưng giữa phần khởi đầu và phần kết chúng ta có thể tận hượng vô số chi tiết. Ý là một nơi ở đó những thay đổi trong xã hội, những thói quen, hành vi hiện đang diễn ra rất nhanh, có lẽ quá nhanh đến mức không cho chúng ta hiểu được mình đang đi hướng nào, và dù sao mọi thứ xảy ra đều kèm theo những lời báo trước về sự thoái hoá hay thảm hoạ hoặc kèm theo những lời tuyên bố về thắng lợi liên tục của chúng tôi ở nghệ thuật sống sót thuộc truyền thống chúng tôi, trong việc chọn lối đi và khả năng tận dụng.

Do vậy những câu chuyện mà những nhà văn người Ý chúng tôi có thể kể đều nổi bật một mặt ở cái ý nghĩa về sự bí ẩn và mặt khác ở nhu cầu kiến tạo: vạch ra chính xác những đường nét của tính cân đối và hình học – tức là cách mà chúng tôi phản ứng với vùng cát lún mình đang đứng bên trên.

Đối với ngôn ngữ, một loại bệnh dịch đã tấn công nó. Người Ý càng lúc càng trừu tượng, giả tạo, hàm hồ; những thứ đơn giản nhất không bao giờ được nói trực tiếp, những danh từ cụ thể không còn được sử dụng nữa. Đầu tiên các nhà chính trị, các viên chức, các trí thức là những người bị căn bệnh này tấn công, rồi nó trở thành bệnh dịch khắp nơi, khi ý thức chính trị và trí tuệ lan ra những đám đông lớn hơn. Nhiệm vụ của nhà văn là đấu tranh chống lại cái dịch này, làm cho ngôn ngữ trực tiếp, cụ thể vẫn tồn tại, nhưng ngôn ngữ thường nhật, vốn từng là nguồn sống mà các nhà văn có thể dựa vào, nay lại không thoát khỏi sự truyền nhiễm đó.

Do vậy, tôi nghĩ người Ý chúng tôi đang trong tình huống lí tưởng để nối kết những khó khăn hiện tại của mình trong việc viết tiểu thuyết với những chiêm nghiệm toàn thể về ngôn ngữ và thế giới.

Một xu hướng quốc tế quan trọng trong văn hoá của thế kỉ chúng ta, cái mà chúng ta có thể gọi là cách tiếp cận hiện tượng học trong triết học, hiệu ứng gián cách (estrangement effect) trong văn chương, chúng thôi thúc chúng ta phá vỡ bức bình phong của những từ ngữ và ý niệm và nhìn thế giới như thể nó hiện ra lần đầu trước mắt ta. À, giờ hãy để tôi cố gắng tạo ra khoảng trống trong tâm trí của mình, và nhìn đăm đăm vào một phong cảnh, giữ nó thoát khỏi mọi nối kết văn hoá. Điều gì xảy ra? Thị giác của chúng ta được lập trình để đọc và tôi để ý rằng mình đang cố đọc phong cảnh đó, cánh đồng đó, vùng biển động đó.

Một chương trình như thế không có nghĩa rằng đôi mắt ta dõi theo một chuyển động trực giác theo chiều ngang từ trái sang phải, rồi lại từ trái lần nữa, lập lại cùng chuyển động đó đi xuống phía dưới chậm hơn chút, và cứ thế. (Dĩ nhiên đôi mắt mà tôi đang nói về đã được lập trình cho những trang sách kiểu Tây phương; đối với đôi mắt Nhật chúng ta nên giả định một chương trình chạy theo chiều dọc.) Việc đọc, còn hơn một hoạt động thị giác, là một tiến trình liên quan đến cả tâm trí lẫn đôi mắt, một tiến trình của sự dẫn xuất, hay đúng hơn là một sự trích xuất ra cái cụ thể từ những thao tác trừu tượng, giống như việc nhận ra các dấu hiệu đặc trưng, tách mọi thứ ta thấy thành những yếu tố tế vi, tập hợp chúng lại thành những mảng có nghĩa, khám phá những thứ có quy tắc ở xung quanh ta, những khác biệt, những sự tái lặp, những biệt lệ, những cái thay thế, những cái dư thừa.

Sự so sánh giữa thế giới và sách có một lịch sử lâu dài, kể từ thời Trung cổ và thời Phục hưng. Cuốn sách của thế gian được viết bằng ngôn ngữ nào? Theo Galileo, nó là ngôn ngữ của toán học và hình học, một ngôn ngữ của lí tính và sự chuẩn xác tuyệt đối. Đó có phải là cách chúng ta có thể đọc thế giới ngày nay không? Có lẽ nó có thể là vậy, nhưng chỉ dành cho những thứ xa tít tắp: các thiên hà, các chuẩn tinh, các siêu tân tinh. Với thế giới thường nhật của chúng ta, thay vào đó nó dường như được viết ra bằng một tấm khảm nhiều ngôn ngữ, giống như một bức tường đầy những hình vẽ graffiti, toàn những nét chữ nghệch ngoạc cái này chồng lại cái nọ, giống như một bản văn trùng tả (palimpsest) với miếng giấy da bị cào và được viết đi viết lại nhiều lần, giống như một tác phẩm bính thiếp (collage) của Schwitters, một sự sắp xếp các chữ cái, những trích dẫn đa tạp, những cụm từ lóng, những bản dữ liệu in (printout) của máy tính. Liệu chúng ta có nên cố gắng mô phỏng ngôn ngữ thế giới trong bài viết của mình? Một số nhà văn quan trọng nhất của thế kỉ chúng ta đã từng làm vậy: chúng ta có thể tìm thấy những ví dụ từ Ezra Pound, hoặc từ Joyce, hoặc từ một trang sách gây chóng mặt nào đó của Carlo Emilio Gadda, lúc nào cũng bị lôi kéo bởi sự ám ảnh việc nối kết mọi chi tiết với toàn thể vũ trụ.

Nhưng mô phỏng là cách đúng chăng? Khởi điểm của tôi là sự tương phản bất khả dung hoà giữa thế giới văn tự và phi văn tự; nếu hai ngôn ngữ của hai thế giới đó hoà vào nhau, thì lập luận của tôi sẽ biến thành nhiều mảnh. Thách thức thực sự đối với một nhà văn là nói về cái mớ hỗn độn rối nùi của thế kỉ chúng ta bằng cách dùng một ngôn ngữ minh bạch đến mức nó có thể vươn tới tầng mức ảo giác, như Kafka đã làm.

Ở Pháp, khi Francis Ponge viết những bài thơ văn xuôi về những thứ xoàng xĩnh như một miếng xà-bông hoặc một cục than, thì vấn đề triết học về “vật tự thân” bắt đầu trở thành điểm đặc trưng cho việc nghiên cứu văn chương.

Để khôi phục lại mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới, có lẽ thao tác đầu tiên là cái đơn giản nhất: dán chặt sự chú ý của chúng ta vào một đối tượng, một đối tượng bất kì, cho đến cái tầm thường và quen thuộc nhất, và mô tả nó chi li, như thể nó là vật mới mẻ nhất và đáng lưu tâm nhất trên thế gian này.

Một trong những bài học chúng ta có thể rút ra từ thi ca của thế kỉ chúng ta là việc đầu tư toàn bộ sự chú ý của chúng ta, toàn bộ tình yêu của chúng ta dành các chi tiết, vào một thứ gì đó rất đỗi xa cách với bất kì hình ảnh con người nào, một món đồ, một cái cây, một con thú, rồi nhận diện trong nó cái cảm thức của chúng ta về hiện thực, luân lí của chúng ta, cái tôi của chúng ta, như William Carlos Williams từng làm với cây hoa anh thảo, Marianne Moore với con ốc anh vũ, Eugenio Montale với con lươn.

Lưu tâm hiện thời của tôi về những mô tả là vì thực tế, tôi phải thú nhận, rằng cuốn sách tôi đang viết bao hàm nhiều mô tả. Tôi cố gắng làm cho việc mô tả trở thành một câu chuyện mà vẫn cứ là một bản mô tả. Trong mỗi truyện ở cuốn sách này, có một nhân vật chỉ tư duy trong chừng mực những gì anh ta thấy được, và ngờ vực mọi ý nghĩ đến với mình bằng bất kì phương tiện nào khác.

Vấn đề của tôi trong việc viết cuốn sách này là tôi không phải là cái có thể được gọi là người quan sát; tôi rất đãng trí, do vậy điều đầu tiên tôi phải làm là tập trung sự chú ý thị giác của mình vào một thứ gì đó rồi mô tả nó, hoặc thay vào đó làm hai việc cùng lúc bởi vì, không phải là một người quan sát, nếu tôi quan sát, chẳng hạn như, một con kì nhông ở sở thú và tôi không viết về nó ngay lập tức, tôi sẽ quên nó.

Tôi phải nói rằng hầu hết những cuốn sách tôi đã viết và những cuốn tôi định viết đều bắt nguồn từ ý nghĩ rằng tôi không thể viết một cuốn sách dạng đó: khi tôi tự thuyết phục bản thân rằng một cuốn sách như thế hoàn toàn vượt ra ngoài những khả năng của mình về tính khí hoặc kĩ năng, thì tôi ngồi xuống và bắt đầu viết nó.

Đó là cái xảy ra với cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi, Se una notte d’inverno un viaggiatore (Nếu một đêm đông có người lữ khách): tôi bắt đầu hình dung mọi loại tiểu thuyết mà mình sẽ không bao giờ viết bởi vì tôi không thể; đoạn tôi cố viết chúng và có lúc tôi nghe trong bản thân mình nguồn sinh lực của mười tiểu thuyết gia khác nhau mà tôi tưởng tượng nên.

Một cuốn sách khác mà tôi đang viết nói về năm giác quan, nhằm chứng minh rằng con người đương thời đã đánh mất đi cách dùng chúng. Khi viết nó, tôi gặp vấn đề là khứu giác của tôi không được thính lắm. Tôi thực sự không có thính giác tốt, tôi không phải là người sành ăn uống, xúc giác của tôi không nhạy bén, và tôi cận thị. Đối với từng cái trong số năm giác quan, tôi phải nỗ lực để làm chủ được một loạt những cảm giác và những sắc thái khác nhau. Tôi không biết liệu tôi có làm được không, nhưng những nỗ lực của tôi, trong trường hợp này cũng như trong những trường hợp khác, không đơn thuần nhằm vào việc làm ra một cuốn sách mà còn nhằm vào việc thay đổi bản thân, mục tiêu của tất thảy những nỗ lực của con người.

Bạn có thể nói rằng bạn chuộng những cuốn sách truyền tải một kinh nghiệm có thật, thực tế và chắc chắn. Ờ, tôi cũng vậy. Nhưng theo kinh nghiệm của mình, niềm thôi thúc viết luôn được nối kết với khao khát một thứ nào đó mà ta muốn sở hữu và làm chủ, một thứ gì đó vượt thoát khỏi chúng ta. Bây giờ, bởi tôi biết rất rõ loại thôi thúc này, tôi có ấn tượng rằng tôi cũng nhận ra nó ở những nhà văn lớn mà những tiếng nói của họ dường như đã chạm vào tôi từ trên đỉnh ngọn của một trải nghiệm tuyệt đối. Điều mà họ thành công trong việc truyền tải cho ta là cách tiếp cận với trải nghiệm, không phải là chuyện tới được đó; điều này giữ nguyên vẹn tất thảy những cám dỗ của lòng ham muốn. Đó có thể là cách mà những tác gia lớn trao cho chúng ta cái cảm giác chính xác về sự hiểu biết mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất kì nơi nào khác.

Bằng cách nào đó, tôi nghĩ chúng ta luôn viết về một điều gì đó mình không biết, chúng ta viết để trao cho cái thế giới phi văn tự một cơ hội tự bày tỏ mình thông qua chúng ta. Tuy vậy thời điểm mà sự chú ý của tôi đi thơ thẩn từ trật tự ổn định của những dòng chữ sang chốn phức tạp miên man mà không câu chữ nào có thể chứa đựng hoàn toàn, lúc ấy tôi đến gần nhận thức rằng ở phía bên kia của những từ ngữ đó có điều gì đó mà từ ngữ muốn nói đến.

Các nhà thơ và các nhà văn mà chúng ta nể phục đã tạo dựng trong các tác phẩm của họ một thế giới mà chúng ta cảm thấy ý nghĩa vô cùng, đối nghịch với một thế giới mà họ cũng cảm thấy thiếu ý nghĩa và quan điểm. Khi tin rằng điệu bộ của họ không khác gì chúng ta cho lắm, chúng ta ngước mắt lên từ trang sách để nhìn vào bóng tối.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20131204

Nguồn:

Calvino, Italo. “The Written and the Unwritten Word.” Bản dịch Anh ngữ của William Weaver. The New York Review of Books, 5/1983: http://www.nybooks.com/articles/archives/1983/may/12/the-written-and-the-unwritten-word/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s