Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.”

Ở lần kỉ niệm bách niên của cái mà những kẻ tham gia gọi là “Đại chiến” (Great War), nhiều người đã hồi tưởng lại nhận định của Mark Twain rằng mặc dù lịch sử không bao giờ lặp lại chính mình, nhưng đôi khi nó có lặp lại cái nhịp điệu. Khi nước Trung-quốc đang nổi đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo do Nhật-bản điều hành ở biển Đông Hoa, hoặc do những hàng xóm kiểm soát ở vùng biển Nam Hoa, thì người ta nghe được tiếng vang vọng của các sự kiện diễn ra ở Balkan một thế kỉ trước. Liệu một biến cố giữa lực lượng hải quân hoặc không quân của Trung-quốc với của Nhật có thể làm chìm một con tàu hay làm rơi một chiếc máy bay nào không? Nếu quả vậy, liệu Hoa-kì có đáp ứng được cam kết hiệp ước của mình để chung vai sát cánh với Nhật-bản, cho dù điều đó nghĩa là họ phải nổ súng vào tàu hoặc máy bay của Trung-quốc? Nếu quả có vậy, liệu những sự kiệu đó có leo thang dẫn tới một cuộc chiến lớn hơn giữa Hoa-kì và Trung-quốc? Chuyện đó dường như (và tôi tin là thực sự) không thể xảy ra. Nhưng theo một cuộc bỏ phiếu gần đây của Pew, đa số công dân của các quốc gia khắp châu Á tin rằng những tranh chấp lãnh thổ của Trung-quốc với các nước láng giềng sẽ dẫn tới chiến tranh.

Những điều tương tự về lịch sử giống năm 1914 có thể cho ta những nguồn nhận thức dồi dào về những thử thách đương thời. Tuy nhiên, có một mối nguy hiểm là người ta có thể tìm thấy một sự tương tự quá hấp dẫn đến mức họ kết luận rằng những hoàn cảnh hiện tại “thật giống” năm 1914. Ernest May, vị đồng nghiệp tuyệt vời quá cố của tôi, đã đưa ra một liều thuốc giải thích hợp. Ông ấy ghi nhận rằng quả thật hình thức phân tích thường gặp nhất do các nhà lãnh đạo dùng tới trong những cuộc khủng hoảng là lí giải theo lịch sử từ những điều tương tự. Ông thúc giục những nhà phân tích và những nhà hoạch định chính sách hãy thực hiện nỗ lực đó có hệ thống hơn. Trong một khoá học truyền kì được dạy tại Harvard suốt nhiều năm, ông thách thức những sinh viên nào bị hấp dẫn trước một chi tiết về lịch sử và kêu họ làm theo thủ tục đơn giản sau: hãy nêu chi tiết tương tự đó ở phần tiêu đề trên trang giấy; sau đó vẽ một đường thẳng dọc xuống giữa trang và viết “tương đồng” ở đầu một cột và “khác biệt” ở đầu cột còn lại. Ở mỗi cột, hãy liệt kê ra ít nhất ba điểm cho thấy sự tương đồng và ba điểm ghi nhận sự khác biệt giữa sự tương tự đó và trường hợp hiện tại.

Bài luận này cố gắng dùng “Phương pháp May” để nhấn mạnh bảy điểm tương đồng nổi bật và bảy điểm khác biệt hữu dụng giữa những thách thức mà giới lãnh đạo Trung-quốc và Mĩ đang đương đầu với những thách thứ mà các nhà lãnh đạo thế giới đang đối mặt vào năm 1914. Mặc dù hầu hết những tương đồng làm cho khả năng xảy ra xung đột ngày nay trở nên hợp lí hơn người ta tưởng nếu không có những điểm đó, và hầu hết những khác biệt khiến cho mọi người thấy việc xung đột có vẻ kém hợp lí, nhưng một số lại có kết quả ngược lại

Tương đồng

1. “Cái bẫy của Thucydide”: xảy ra căng thẳng về cơ cấu là điều không thể tránh khi một thế lực trỗi dậy nhanh chóng và trở thành kình địch với thế lực đang nắm quyền. Như Thucydides nhận xét về Hi-lạp cổ đại, thành Athen đầy uy thế tự nhiên trở nên tham vọng hơn, quyết đoán hơn, kiêu căng hơn, và thậm chí ngạo mạn hơn. Dễ đoán là chuyện này đã làm cho các nhà lãnh đạo của Sparta dần thấy sợ hãi, âu lo, và đề phòng.

Vốn quen thuộc với địa vị ưu việt về kinh tế, thống trị về hải quân, và là một đế chế nơi mặt trời không bao giờ lặn, Anh quốc năm 1914 cảnh giác nhìn về phía Đế chế Đức thống nhất vốn đã vượt qua họ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nghiên cứu, chuyện này đòi hỏi khu vực ảnh hưởng rộng lớn hơn, và đó là việc mở rộng khả năng quân sự bao gồm cả hải quân vốn có thể thách thức quyền kiểm soát các vùng biển của Anh quốc. Trong thập niên trước cuộc chiến, điều này khiến cho Anh quốc phải bãi bỏ một thế kỉ “cô lập vinh quang” nhằm thắt chặt những ràng buộc với Pháp và sau đó là Nga. Suốt cùng thời kì đó, các nhà hoạch định quân sự Đức đã cảnh giác quan sát khi Nga tức tốc hoàn tất hệ thống đường sắt cho phép họ có thể di chuyển quân đội nhanh chóng tới đường biên giới với Đức và với đồng minh Áo-Hung đang suy yếu của Đức.

Năm 2014, cái mà đối với hầu hết người Mĩ cho là vị thế tự nhiên, trời cho khi là kẻ “số một” lại đang gặp phải những thách thức từ một Trung-quốc mới nổi đang trên đường vượt qua Hoa-kì trong thập niên tới để thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Khi Trung-quốc trở nên mạnh hơn, họ trở nên năng động hơn và thậm chí hung hăng hơn trong khu vực của mình, đặc biệt về những vùng biển “Trung-hoa” mà họ tin là được gọi tên đúng. Theo lẽ tự nhiên, những người láng giềng sợ hãi từ Nhật, Philippines đến Việt-nam đều nhìn sang Mĩ nhằm tìm sự hậu thuẫn trong vai trò người bảo hộ của Pax Pacifica (Hoà bình Thái bình dương) kiểu Mĩ kể từ Thế chiến II.

2. Gần như không hình dung ra được một cuộc chiến “tổng lực”

Năm 1914, bên cạnh những cuộc chiến nhỏ thỉnh thoảng xảy ra và những cuộc đụng độ thực dân, thì chiến tranh là thứ “lạc hậu”. Cuốn sách đắt hàng thời đó của Norman Angell lập luận rằng chiến tranh là một “ảo tưởng lớn”, bởi vì kẻ thắng trên danh nghĩa chắc chắn sẽ mất nhiều hơn những gì họ có thể đạt được.

Năm 2014, “nền hoà bình lâu dài” kể từ Thế chiến II, được củng cố bằng vũ khí hạt nhân và toàn cầu hoá về kinh tế, đã khiến cho chiến tranh toàn lực giữa các thế lực lớn hiển nhiên trở thành một hành động tự hại mình, một chuyện mà dường như chẳng ai có thể hình dung nổi.

3. Mối tương thuộc chằng chịt: về kinh tế, xã hội, và chính trị.

Năm 1914, Anh quốc và Đức là đối tác thương mại chính và là nhà đầu tư ngoại quốc chính yếu của nhau tại châu Âu. Vua George và Hoàng đế Wilhelm là anh em chú bác với nhau, người sau đã từng ngồi bên cạnh giờ phút lâm chung của người bà, Hoàng hậu Victoria, hồi năm 1901, và là người diễn hành thứ nhì chỉ sau George ở đám tang của cha George, Vua Edward VII, hồi năm 1910. Các tầng lớp tinh hoa của hai xã hội này đều học tại những trường đại học lớn của nhau, là đối tác kinh doanh của nhau, và cùng nhau gầy dựng xã hội.

Năm 2014, Trung-quốc là đối tác thương mại lớn thứ nhì của Hoa-kì , Hoa-kì là người mua lớn nhất các mặt hàng xuất khẩu của Trung-quốc, và Trung-quốc là người giữ nợ ngoại quốc lớn nhất của Mĩ. Một phần tư triệu sinh viên Trung-quốc học tập hàng năm tại các trường đại học Mĩ, mà gần đây còn có cô con gái duy nhất của Chủ tịch Trung-quốc Tập Cận Bình.

4. Chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy làm nổi bật các tranh chấp lãnh thổ.

Năm 1914, khi Đế chế Ottoman tan rã, những nhà dân tộc chủ nghĩa Serbia muốn tạo ra một Serbia lớn mạnh hơn, còn Nga và Áo-Hung đấu đá nhau để giành sức ảnh hưởng đối với những nhà nước hậu duệ của Ottoman tại vùng Balkan. Trong khi đó, những người Đức vùng dậy dự tính về một nước Đức lớn hơn và những nhà ái quốc Pháp mơ về việc lấy lại vùng Alsace-Lorrain, những tỉnh bị Đức chiếm từ tay Pháp sau cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ hồi năm 1870-71.

Năm 2014, Trung-quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku do Nhật quản lí ở biển Hoa Đông, và bằng “đường 9 đoạn” họ khẳng định chủ quyền của toàn bộ vùng biển Hoa Nam, đó là những phản ánh cho tham vọng muốn xác định những dữ kiện mới ở vùng biển xung quanh, làm dấy động chủ nghĩa dân tộc ở các nước trong khu vực và ở chính dân chúng của họ nữa.

5. Những thiết lập quân sự mạnh mẽ tập trung vào một kẻ thù chính yếucho mục tiêu hoạch định và mua hàng (và để biện minh cho ngân sách quốc phòng).

Năm 1914, quân sự Anh và Đức coi nhau như là những mối hiểm hoạ lớn, Đức và Nga nhìn nhau như hai kình địch lớn, và Pháp tập trung vào mối nguy hiểm do Đức gây ra.  Năm 1907, khi sự bành trướng của hải quân Đức đạt đến chỗ có thể thách thức thế thượng tôn của hải quân Anh, thủ tướng Anh đã yêu cầu một nhà phân tích hàng đầu của bộ ngoại giao làm một bản ghi nhớ “về tình trạng hiện thời của mối quan hệ giữa Anh quốc với Pháp và Đức”. Bản tài liệu mà bây giờ đã nổi tiếng do Eyre Crowe viết ra dự đoán rằng Đức không chỉ sẽ thiết lập nên quân đội mạnh nhất ở châu lục này, mà còn “xây dựng một lực lượng hải quân mạnh nhất có thể”. Việc Đức theo đuổi cái mà bản ghi nhớ đó gọi là “quyền bá chủ chính trị và uy thế hải quân” sẽ gây ra mối đe dọa cho “nền độc lập của các nước láng giềng và kì cùng là sự tồn tại của nước Anh”.

Ngày nay, Bộ Quốc phòng Hoa-kì dự tính chống lại một thứ mà họ gọi là “mối đe dọa chống tiếp cận/phủ nhận khu vực”, “một kẻ mà ai cũng biết” được che đậy hững hờ dành cho Trung-quốc. Kể từ nỗi nhục năm 1996, khi Trung-quốc bị buộc rút khỏi những mối đe doạ đối với Đài-loan sau khi Hoa-kì gửi hai tàu sân bay để hỗ trợ Đài-loan, thì họ đã lên kế hoạch, xây dựng, và đào tạo nhằm đẩy lực lượng hải quân Hoa-kì lùi ra xa hẳn Đài-loan đến quần đảo gần nhất và cuối cùng lùi về quần đảo gần thứ nhì.

6. Các đồng minh khắng khít tạo ra cái mà Henry Kissinger gọi là một “cỗ máy huỷ diệt bằng ngoại giao”.

Năm 1914, một mạng lưới các giao kết đồng minh phức tạp đã đe doạ một cuộc leo thang nhanh chóng tiến đến cuộc chiến giữa các thế lực hùng mạnh. Sau khi thống nhất nước Đức vào thế kỉ mười chín, Thủ tướng Otto von Bismarck đã tạo dựng một mạng lưới các đồng minh mà sẽ giữ được hoà bình ở châu Âu trong khi cô lập Pháp, kẻ thù chính của Đức. Hoàng đế Wilhelm phá vỡ cơ cấu đồng minh vốn được Bismarck tinh chỉnh trước đó, khi vào năm 1890 ông từ chối không đưa Nga vào danh sách đồng minh của Đức. Hai năm sau, Nga thành đồng minh với Pháp. Điều này khiến Đức phải củng cố ràng buộc của mình với Áo-Hung, và Anh để có thể vướng mắc sâu hơn với cả Pháp và Nga.

Năm 2014, ở Đông Á, Hoa-kì có nhiều đồng minh, Trung-quốc gần như không có ai.  Bổn phận và kế hoạch tác chiến của Mĩ bao phủ cả một dải sự kiện từ Hiệp ước Mĩ-Nhật về Hợp tác và An ninh Tương hỗ, điều này buộc Hoa-kì phải xem bất kì cuộc tấn công nào nhắm vào Nhật là tấn công vào chính Hoa-kì, cho đến các thoả thuận với Philippines và những nước khác vốn chỉ yêu cầu Mĩ tư vấn và hỗ trợ. Khi Trung-quốc hùng hồn xác định vùng nhận dạng trên không, đưa dàn khoan dầu khí đến những vùng đang tranh giành, loại trừ tàu của những nước khác ra khỏi vùng biển xung quanh các quần đảo tranh chấp, và điều tàu và máy bay đến nhằm vẽ lại “luật đi đường”, thì lúc ấy ta dễ hình dung ra các viễn cảnh trong đó những sai sót hoặc tính toán lầm lạc sẽ dẫn đến các kết quả mà hẳn không ai muốn chọn lấy.

7. Sức quyến rủ của một cuộc tập kích nhằm cải thiện triệt để quyền lực và thanh thế.

Năm 1914, đế chế Áo-Hung đang suy tàn phải đối diện với tình trạng bành trướng dân tộc Slav ở vùng Balkhan vốn được Nga hậu thuẫn. Thấy được Serbia là tiêu điểm của tình trạng bành trướng đó, Hoàng đế Franz Joseph hình dung rằng mối hiểm hoạ này có thể kiềm lại được bằng sự bại trận quyết định của Serbia. Việc người kế thừa của ông, Franz Ferdinand, bị ám sát đã mang lại một cơ hội.

Năm 2014, Shinzo Abe tìm cách đảo ngược lại “những thập niên mất mát” của Nhật. Một phần tư thế kỉ trước, Nhật có vẻ đang ở ngưỡng cửa trở thành “Kẻ số một”. Từ lúc đó, họ khựng lại về mặt kinh tế và gần như không liên can đến tình hình chính trị quốc tế. Do vậy, chương trình phục dựng của Abe không chỉ gồm “Abenomics”, mà còn gồm việc hồi phục ảnh hưởng của Nhật trên thế giới, bao gồm việc chỉnh sửa hiến pháp và mở rộng lực lượng quân sự Nhật nhằm đáp lại cái mà ông công khai gọi là “mối đe doạ Trung-quốc”.

Tóm lại, đó không phải là một ảo tưởng đối với những ai thấy trạng huống phát triển ngày nay làm gợi nhắc đến các sự kiện một thế kỉ trước. Nhưng mặt khác như Giáo sư May đã gợi nhắc ta, còn có những khác biệt đáng kể nữa.

Khác biệt

1. Sự đụng độ giữa các nền văn minh:Như Samuel Huntington lập luận trong cuốn Clash of Civilizations, sự khác biệt sâu sắc về giá trị và thế giới quan giữa các nền văn minh là nhân tố hệ thống đáng kể dễ dẫn tới xung đột. Ở bình diện này, năm 2014 nguy hiểm hơn một thế kỉ trước.

Năm 1914, châu Âu là tiêu điểm của văn minh và các nhà lãnh đạo Âu châu làm chủ cả cõi vũ trụ này. Hầu hết các vua chúa đầu não của châu Âu – từ Vòng Bắc cực đến Địa-trung-hải – đều có quan hệ máu mủ với nhau, với việc Nga hoàng và Hoàng đế Đức xưng với nhau là Nicky và Willy. Dù vậy, như Huntington lưu ý, đường đứt gãy giữa Văn minh Tây phương và Chính thống giáo Đông phương chạy khắp cả vùng Balkan.

Năm 2014, Trung-quốc và Hoa-kì tách biệt nhau không chỉ mỗi vùng Thái-bình Dương. Những khác biệt đáng kể giữa các giá trị ở Bắc-kinh và Washington bao gồm sự hoà hợp theo cấp bậc đối với tự do; các giá trị cộng đồng đối với chủ nghĩa cá nhân; thế độc quyền của Đảng Cộng sản đối với dân chủ.

2. Nền tảng tài chính của thế lực bá quyền.

Năm 1914, Anh quốc là chủ nợ lớn nhất thế giới.

Năm 2014, Hoa-kì là con nợ lớn nhất thế giới. Thuế thấp kết hợp với chi tiêu nhiều dẫn đến kết quả Washington mượn hơn 17 ngàn tỉ dollar. Phần lớn số này phát xuất từ những kẻ cho vay ngoại quốc, với phần lớn nhất do Trung-quốc nắm giữ. Vị thế của Mĩ vừa là con nợ vừa là thị trường quan trọng đối với sản phẩm Trung-quốc, tương hợp với vị thế Trung-quốc vừa là ngân hàng vừa là nhà cung cấp hàng tiêu dùng quan trọng cho Mĩ, điều này tạo ra các hoàn cảnh được gọi là MADE (Mutual Assured Destruction of Economies).

3. San sẻ chung vùng địa lí.

Năm 1914, các đối thủ Âu châu có những đường biên giới vật lí chung đụng nhau. Điều này tạo động cơ để tiến quân nhanh, đẩy cao tốc độ ra quyết định trong cuộc khủng hoảng.

Năm 2014, Hoa-kì và Trung-quốc cách nhau mấy đại dương và thậm chí còn nằm trên hai bán cầu khác nhau. Tuy vậy, với vai trò là một thế lực ở Thái-bình Dương với nhiều đồng minh và căn cứ khắp châu Á, Hoa-kì liên tục hiện diện ở các vùng biển kề cận Trung-quốc. Hơn nữa, các tiến bộ trong công nghệ dẫn tới kết quả là không còn biên giới nào trong không gian thực lẫn không gian ảo. Ở những địa hạt này, khi các tiến bộ nhanh chóng có thể đạt được (hoặc được hình dung là đạt được) một số lợi thế quyết định thì việc đó có thể làm dấy lên bóng ma của tình huống “bất ổn khủng hoảng”, làm nhớ lại châu Âu ở đầu thế kỉ hai mươi.

4. Vũ khí hạt nhân và vũ khí huỷ diệt hàng loạt.

Năm 1914, ý nghĩ cho rằng một cuộc chiến toàn châu Âu có thể sẽ rất tàn khốc đến mức nó sẽ chấm dứt một thiên niên kỉ cai trị thế giới của giới lãnh đạo Âu châu, và không ai có thể hình dung ra được ý nghĩ này.

Năm 2014, vũ khí hạt nhân có một “hiệu ứng cầu pha-lê” (crystal ball effect) vốn cho phép giới lãnh đạo thấy rõ rằng việc leo thang đến chiến tranh hạt nhân có thể sẽ xoá sổ quốc gia của họ ra khỏi bản đồ.

5. Cân bằng quân sự.

Năm 1914, việc giữ cân bằng về sức mạnh quân sự giữa các quốc gia lớn ở châu Âu là điều mỏng manh. Anh-quốc có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, Đức có quân đội mạnh nhất, và năng lực của Nga và Pháp đều đáng kể. Hơn nữa, toàn bộ các quốc gia đều can dự chủ động vào một cuộc chơi tế nhị của việc cân bằng quyền lực.

Năm 2014, quân sự Hoa-kì không có ai xứng tầm. Sau hai thập niên họ chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn tất cả các nước khác cộng lại, Mĩ đến lúc này có các lực lượng chiến đấu được huấn luyện tốt nhất và được vũ trang mạnh nhất trên trái đất. Trong một tương lai dễ thấy trước, không một nhà hoạch định quân sự Trung-quốc nào có lí trí lại có thể trình ra một kế hoạch chiến tranh đánh bại quân sự Mĩ trên chiến trường, cho dù có ở Đông Á đi nữa. Mặt khác, sau hơn một thập niên của cái mà hai phần ba người Mĩ lúc này đánh giá là những cuộc chiến lầm lạc, Hoa-kì đang mỏi mệt và cảnh giác trước chiến tranh. Khi đánh giá ý chí và năng lực của Hoa-kì ngày nay, Trung-quốc có thể bị dụ lãnh lấy nhiều mối nguy cơ hơn bình thường.

6. Công nghệ và tính minh bạch

Năm 1914, Nga và Pháp sợ rằng Đức có thể âm thầm tiến quân. Không rõ về thời gian biểu tiến quân và những cuộc hành quân của nhau đã góp phần rất nhiều cho động lực leo thang chiến tranh. Các chính phủ gửi điện tín cho các viên đại sứ, những người truyền tin đến các văn phòng ngoại quốc, việc này làm tăng thêm nguy cơ truyền thông lầm lạc.

Năm 2014, các hệ thống tình báo cung cấp những thông tin gần như theo thời gian thực về chuyển động của tàu, máy bay, và quân đội. Thông tin này trang bị cho giới lãnh đạo nhiều thông tin tốt hơn rõ rệt để có thể đưa ra quyết định trong cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, họ có thể nói chuyện trực tiếp với nhau qua điện thoại và hội đàm viễn liên qua màn hình.

7. Cấu trúc của nền chính trị thế giới.

Năm 1914, nền chính trị toàn cầu phân rõ ràng thành nhiều cực, khiến cho việc cân bằng mỏng manh trở nên thiết yếu, và khó tránh được tính toán sai lầm.

Năm 2014, Hoa-kì vẫn duy trì vị thế siêu cường quốc duy nhất trong một thế giới mà theo đường hướng hiện nay đang tiến triển về phía phân cực: lưỡng cực với Trung-quốc, hay thậm chí đa cực nếu châu Âu nhập cuộc chơi, Ấn-độ trỗi dậy đứng vào hàng ngũ cường quốc, và Nga có thể tiếp tục duy trì sự quyết đoán mới mẻ của mình. Những tính toán sai lầm của Trung-quốc và Nga về sự cân bằng quyền lực tương quan có thể tạo ra các mối nguy cơ tiềm tàng.

***

Do vậy cái nào nổi bật hơn: sự tương đồng hay sự khác biệt? Cân nhắc dãy sự kiện ở cả hai phía , khi một chiến lược gia người Sao Hoả đánh giá hoàn cảnh của tháng Một năm 1914 với hoàn cảnh đầu năm 2014 thì liệu người đó sẽ phán đoán được việc xảy ra cuộc chiến giữa các cường quốc có khả năng xảy ra cao hay thấp? Đối với những “kẻ tự mãn” sống ở cái mà Gore Vidal dán nhãn là “Hiệp chúng quốc Thất ức”, thì những điều tương đồng có thể ở vai trò gợi nhắc sống động rằng nhiều lí do hiện được đưa ra nhằm coi nhẹ các mối đe dọa chiến tranh đã không ngăn được thế chiến I. Đặc biệt, thực tế rằng chiến tranh hẳn là điều phi lí cũng không làm cho người ta không thể hình dung về nó. Đối với những kẻ “đánh động” thực hiện ngoại suy từ quá khứ để dự đoán thảm hoạ sắp tới, thì Phương pháp May sẽ mang đến một điều chỉnh bổ ích. Đối với bản thân tôi, bài tập phân tích lịch sử này dẫn tôi đến kết luận rằng việc xảy ra chiến tranh giữa Hoa-kì và Trung-quốc trong thập niên tới có xác suất cao hơn tôi hình dung trước khi xem xét sự tương tự – nhưng vẫn là điều bất khả. Nếu các chính khách ở Hoa-kì và Trung-quốc suy ngẫm về những gì xảy ra một thế kỉ trước, thì những góc nhìn và nhận thức từ quá khứ này có thể được áp dụng bây giờ để làm nguy cơ chiến tranh thậm chí còn thấp hơn nữa.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20140819

Nguồn:

Allison, Graham. “Just How Likely the Another World War?” The Atlantic, 7/2014: http://www.theatlantic.com/international/archive/2014/07/just-how-likely-is-another-world-war/375320/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s