Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông.

Sơ lược về tác phẩm

Khung cảnh thành thị đối với tiểu thuyết của Modiano hiển hiện từ những nhan đề như La place de l’étoile (1968), Les boulevards de ceinture (1972), và Rue des boutiques obscures (1978). Hơn nữa, ảnh hưởng của Émile Zola và nhà thơ Charles Baudelaire cũng rõ ràng trong những tiểu thuyết này, khi chúng bộc lộ ra một thế giới bí ẩn trong đó có những nhân vật bất an về chính bản thân mình. Cuối cùng, Modiano thường xuyên khơi dậy khoảng thời gian Đức chiếm đóng Paris suốt thế chiến II.

Mặc dù Modiano khi ấy còn quá nhỏ để cảm nghiệm được vụ Chiếm đóng đó, nhưng ông hình dung được chuyện đó hẳn là như thế nào, khi khai phá sự bất an trong nhân sinh vốn là thứ ghi dấu lại thời kì rối loạn này trong lịch sử. Các chi tiết tế vi đã mang lại cho tiểu thuyết của Modiano cái nhận thức về hiện thực, khi ông tạo ra một thế giới mà ở đó các nhân vật dường như đóng một vai trò do sự may rủi ban phát cho. Tiểu thuyết của Modiano, với sự hoà trộn giữa chất bi kịch và chất thường ngày, do vậy đã làm xáo động người đọc.

Tiểu thuyết của Modiano chứa nỗi ám ảnh từ sự hiện diện của mẹ ông, Luisa Colpeyn, một nữ diễn viên Bỉ đã tới Paris hồi năm 1940, và của cha ông, Albert, một người Ý Do-thái, vốn là những người có các hoạt động suốt cuộc chiến được ghi dấu lại bởi một sự mờ tối gây muộn phiền. Modiano có lần từng mô tả việc nuôi dạy ông là điển hình của “tất cả những người không có quê nhà lẫn nguồn cội”. Chủ yếu là đi về kí ức, các tác phẩm của Modiano là một cuộc truy tầm căn cước, mà mỗi tác phẩm sẽ thể hiện theo cách riêng của mình.

 Modiano chỉ học một năm tại Sorbonne trước khi trở thành nhà văn. Trong những tác phẩm đầu, ông gợi lên một thế giới tưởng tượng của những kẻ cộng tác với quân thù và những anh hùng Do-thái. Ví dụ như trong La place de l’étoile, nhân vật Raphaél Schlémilovitch gặp gỡ Louis-Ferdinand Célie và Sigmund Freud. La place de l’étoile đề cập một giao lộ của nhiều đại lộ chính ở Pháp cũng như những ngôi sao vàng mà người Do-thái bị buộc mang trước tim mình trong suốt cuộc Chiếm đóng.

Trong La Ronde de nuit, cũng lấy khung cảnh tại Paris suốt thời Chiếm đóng, một điệp viên hai mang qua lại giữa Gestapo và phe Kháng chiến. Tuy nhiên, động cơ của anh ta không phải từ nguyên do chính trị hay lí tưởng yêu nước, và người đọc không chắc được điều gì đã thúc đẩy Swing Troubadour-Lamballe giao nộp những chiến sĩ Kháng chiến cho Gestapo, rồi cuối cùng tự trở thành người tử đạo. Người đọc dõi theo những bước đi của chàng thanh niên lạc lối này qua một Paris tưởng tượng. Mặc dù Modiano dựa trên bối cảnh lịch sử cụ thể, nhưng ông đã tạo ra một khung cảnh nằm ngoài thời gian và không gian, dẫu cho ai cũng nhận biết được nó. Sau rốt, hình tượng người cha của Modiano chi phối La Ronde de nuit khi Modiano tìm cách hiểu những điều cha mình làm trong suốt thời chiến. Trong tiểu thuyết này, ông tạo ra một thế giới gần như huyễn giác mà ở đó xảy ra các hoạt động của người cha, như trong tác phẩm La place de l’étoile.

Giai đoạn Chiếm đóng mà Modiano rất hứng thú đã hiện hữu trong một phần lịch sử tưởng tượng của gia đình ông. Cho đến nay thì cuốn tiểu thuyết mang đậm chất tự truyện nhất của Modiano là Livret de famille, xuất bản năm 1977, trong đó Modiano nỗ lực lần lại bước đi của cha mình trong suốt thời chiến. Điểm khởi nguyên cho tiểu thuyết này là ngày mà người tường thuật (chính là Modiano) điền ngày sinh của con gái mình vào sổ hộ khẩu chính thức của gia đình và nhận ra rằng còn thiếu một số thông tin về cha mẹ mình, chẳng hạn ngày sinh và tên thật của họ. Thái độ của Modiano đối với tuổi thơ của chính ông như là “một tai nạn của cuộc Chiếm đóng” đã truyền một giọng điệu vào bản văn hoài cố đến những nhà văn bị lưu đày.

Không ngạc nhiên khi tiểu thuyết của Modiano thường giới thiệu một nhân vật, có phần giống tác giả, đang tìm kiếm một bóng ma từ quá khứ. Ví dụ, trong Rue des boutiques obscures, một tiểu thuyết đã đoạt giải Goncourt, nhân vật Guy Rolland mắc phải chứng quên và vật lộn để hồi phục  trí nhớ. Người tường thuật trong tác phẩm Chien de printemps (1993) bị nhiếp ảnh gia Francis Jansen gây ám ảnh và, trong Dora Bruder (1997), tác phẩm được cho là xuất sắc nhất của Modiano, chính tác giả là người đi tìm kiếm một thiếu nữ Do-thái biến mất trong cuộc chiến.

Voyage de noces (1990) là câu chuyện về một thiếu nữ tự sát trong phòng khách sạn tại Milano. Khi Jean bắt xe lửa trở về Paris, anh đọc được thông báo về cái chết của cô trên tờ báo và nhận ra là mình từng biết người thiếu nữ đã chết này. Sau đó anh tìm cách tái dựng hình ảnh của Ingrid Teyrsen. Cuốn tiểu thuyết theo hình thức truyện trinh thám khi Jean hình dung lại những liên kết giữa chính anh và Ingrid, khi mỗi người bắt taxi hoặc lúc đi bộ trên cùng một con phố. Việc Jean tìm kiếm Ingrid thực tế là tìm kiếm chính bản thân anh ta. Một vệt nhoè căn cước là điều dễ nhận ra trong Dora Bruder, Memory Lane (1981), De si braves garçons (1982), và Poupée blonde (1983) tìm cách mô tả huyền thoại về một khoảng thời gian hạnh phúc hơn. Fleurs de ruine (1991) và Un cirque passe (1992) đều cùng gợi đến một quá khứ mất mát. Việc tìm kiếm một quá khứ hư ảo là điều tuyệt vọng trong những tiểu thuyết như Villa triste (1975), Dimanches d’août (1986), Vestiaire de l’enfance (1989), và Du plus loin de l’oubli (1996), tất thảy đều gợi đến cảm giác thất bại. Modiano còn viết một vở kịch, La polka (1974), và từng làm việc với nhà làm phim Louis Malle cho các đối thoại trong phim Lacombe Lucien (1974).

Có nhiều quan điểm khác nhau trong giới phê bình đối với tác phẩm của Modiano. Một số nhà phê bình xem ông là một nhà văn phá vỡ truyền thống nhưng tác phẩm của ông vẫn chưa được xem là tiền vệ. Số khác xem tiểu thuyết của ông như những cái bẫy khiến người đọc bị lạc lối trong mối quan hệ giữa tác giả đối với văn bản và văn bản đối với bối cảnh, do Modiano đã từ bỏ hình thức kể chuyện truyền thống. Đề tài nằm bên dưới ba tiểu thuyết đầu của Modiano là vấn đề về việc vừa là người Pháp vừa là người Do-thái. Một số mối bận tâm chính yếu của ông là vấn đề về căn cước, của cá nhân lẫn tập thể, cũng như những tiếng nói lạc lõng của quá khứ.

Tác phẩm của Modiano được nuôi dưỡng bằng những bất an từ quá khứ và từ căn cước của chính ông, cuộc truy tầm những điều như thế là đặc trưng cho nhiều tiểu thuyết của ông. Hơn nữa, xúc động trước cái chết của người em hồi năm 1957, trong nhiều tác phẩm của mình, Modiano cũng gợi lên cảm giác mạnh mẽ về sự thiếu vắng. Ám ảnh với thời kì ngay trước khi ông chào đời và cả với cái tà ác liên quan đến thời kì đó, Modiano đã gợi lên một cảm giác tội lỗi và xa lạ. Tiểu thuyết của ông thuộc về thế giới này lẫn bên ngoài.

Duy Đoàn tổng hợp và chuyển ngữ
Sài-gòn, 20141009
Nhân dịp Patrick Modiano đoạt được giải Nobel Văn chương 2014

Nguồn:

Bisson, Julien. “Patrick Modiano: Literary Giant.” France Today, 11/2011: http://www.francetoday.com/articles/2011/11/15/patrick_modiano_literary_giant.html

Taylor, Karen L. “Modiano, Patrick.” Facts on File Companion to the French Novel. New York: Facts on File, 2007.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s