[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Tác giả: Manohla Dargis

Lời người dịch: Phim Boyhood (2014) của đạo diễn Richard Linklater là một phim hết sức đặc biệt, vì quá trình quay kéo dài 12 năm liên tục (thời gian quay mỗi năm chưa đến một tuần) với cùng một dàn diễn viên. Sau khi xem phim, tôi đã tìm đọc một số bài điểm phim của các nhà phê bình thuộc các tờ lớn như New York Times, New Statesman, New Republic, The Village Voice, Sight & Sound, Film Comment, Film Quarterly, v.v., và thấy bài này của bà Manohla Dargis thuộc tờ New York Times là bài viết tốt nhất và tuy chưa phải là đầy đủ hết nhưng cũng gần như bày tỏ được chính xác những điều cần nói về phim này.

Deana Newcomb - IFC Films

Deana Newcomb – IFC Films

Cảnh đầu tiên trong “Boyhood”, bộ phim dịu dàng, sâu sắc của Richard Linklater, là cảnh bầu trời nhiều mây. Cảnh thứ nhì là về một cậu bé đang nhìn chăm chăm vào bầu trời đó, với một cánh tay gập lại đặt dưới đầu, còn cánh tay kia vươn ra trên mặt đất. Cậu là một đứa trẻ xinh xẻo với đôi mắt điềm đạm, cái mũi hếch và cái miệng có hàm răng kín kẽ. Đây là gương mặt mà bạn sắp biết và sắp sửa yêu quý bởi vì, cũng như đứa trẻ này đang quan sát cõi sống, bạn đang quan sát cậu ta lớn lên. Từ cảnh này qua cảnh nọ, bạn sẽ thấy nét cong ở hàm của cậu thay đổi, sẽ để ý thấy đường chân mày đậm dần lên và chứng kiến đôi cánh tay thanh mảnh của cậu dang rộng ra ôm lấy cả cõi sống cùng bầu trời sáng tỏ lẫn bầu trời đang dần tối.

Được quay hơn 12 năm liên tục, “Boyhood” xoay quanh Mason (Ellar Coltrane), lên 6 lúc câu chuyện bắt đầu và được 18 khi câu chuyện kết thúc. Trong khoảng thời gian nằm giữa, cậu đi học; cãi nhau với cô chị, Samantha (Lorelei Linklater, con gái đạo diễn); và quan sát người mẹ của mình, Olivia (Patricia Arquette), tranh đấu với công việc và với đàn ông trong lúc xoay xở thanh toán các loại hoá đơn, chuyển từ nhà này sang nhà khác và đạt được một số bằng cấp. Đôi khi, chồng cũ của bà, Mason Sr. (Ethan Hawke), lao vào đời bọn trẻ, ban đầu bằng chiếc 1968 GTO. Đó không phải là chiếc xe hơi của người cha (mặc dù nó có thuộc về một người cha: ông Linklater). Mà thay vào đó, nó cùng mẫu với chiếc ngầu ngầu nam tính gầm gừ xuyên suốt “Two-Lane Blacktop”, một trong những phim ưa thích của ông Linklater, và là chiếc mà ông đã tuồn vào những bộ phim như “Slacker” và “Dazed and Confused”.

GTO là một dấu hiệu nhỏ thể hiện phong cách tác giả, và có lẽ còn giúp giảm chi phí cho sản phẩm tương đối ít tiền này. (Nguồn tài trợ can đảm cho bộ phim từ lúc bắt đầu là Jonathan Sehring của IFC Films.) Thực tế hơn, thì chiếc xe có tác dụng như một tượng trưng biểu hiện để tương hợp với những lần vắng mặt của Mason Sr., với lối nuôi dạy con bất cẩn, với bộ râu lúc có lúc không và với những khúc hoan ca phóng túng thật thiết tha. Người xem nào không khoan dung có thể bác bỏ cho rằng Mason Sr. là một kẻ biếng nhác, nhưng, giống như Olivia, người thỉnh thoảng cũng buông lời tục tĩu trước những gương mặt trơ trơ của bọn trẻ, thì ông cũng tràn đầy tình yêu thương. Đây không phải là những bậc cha mẹ trên phim ảnh với những cung cách rập khuôn cùng những giải pháp như trong sách thiếu nhi, mà đây là những nhân vật có nỗi đau chân thật, nguyên sơ cùng những khoảnh khắc duyên dáng bất chợt vốn sẽ mang lại cảm giác sốc cho những bậc cha mẹ thật sự. Đây là những người mà bạn biết, có lẽ là những người giống như bạn vậy.

IFC Films

IFC Films

Tính hiện thực của phim làm người xem bị choáng, và được hiện thực hoá và mang nét tinh tế thật tài tình đến mức người ta dễ bỏ qua. Trong “Boyhood”, Linklater trưng ra chính cái điều mà hầu hết các bộ phim đều phớt lờ hoặc vụng về lược đi – dòng thời gian – và ý tưởng hứng khởi của ông cho việc làm này nằm ở tính ẩn dụ ấn tượng vốn làm nên các đầu đề ở những bài báo.. Khởi sự từ năm 2002, mỗi năm ông tập hợp bốn diễn viên chính để quay ba bốn ngày, làm việc với kịch bản đó trong quá trình quay. (Là người cực kì chống lại tinh thần biếng nhác, ông Linklater trong thời gian đó cũng quay nhiều phim ngắn và phim truyện, bao gồm “Before Sunset”, phim thứ nhì nằm trong bộ ba phim có nam diễn viên Hawke; một phim cải biên hư cấu của “Fast Food Nation”; và một phim hài cảm động lạ lùng về một tay sát nhân, “Bernie”.)

Matt Lankes - IFC FIlms

Matt Lankes – IFC FIlms

Những gì xuất hiện từ mười hai năm đó là một chuỗi các cảnh có cấu trúc và chất liệu được thực hiện tỉ mỉ vốn được đặt định theo nhịp sống. Cấu trúc là điều quan trọng. Ông Linklater từ lâu đã thử nghiệm nhiều lối kể chuyện phi truyền thống, từ hình thức tiếp sức chuyền baton của “Slacker”, trong đó ông để nhân vật này tiếp theo nhân vật nọ, cho đến kiểu đi bộ tiêu dao của bộ ba phim “Before”. Phim của ông đôi khi bị nhầm tưởng là không có cốt truyện, có lẽ vì dường như là thế, khi đối chiếu với những bộ phim chính thống vốn bị người ta hùng hổ nhét vào đầy các sự cố. Một trong những điều thú vị về “Boyhood” là nhiều chuyện xảy ra – có những bữa tiệc và những trận cãi vã, tiếng cười và những giọt nước mắt – nhưng hết thảy các sự kiện này xảy đến trong phạm vi thường nhật đặc trưng mà không cần sự thúc giục và gợi ý ở cách làm phim thường thấy.

Thay vào đó, bộ phim luân chuyển từ năm này qua năm nọ, rải rác đây đó và những chỉ báo về thời gian như bài hát của Britney Spears hay Nintendo Wii. Mới phút này, Mason nhìn Olivia với vẻ mặt hiếu kì khi cô ấy chuyện trò với một giáo sư, Bill (Marco Perella); phút tiếp theo, cậu ta chơi cùng với chị gái mình và mấy đứa con của Bill, Mindy (Jamie Howard) và Randy (Andrew Villarreal), ở sân sau mà hai gia đình này cùng chia sẻ. Một số chuyển tiếp ta không thấy được, đặc biệt khi Mason còn trẻ, và tất thảy đều có ý nghĩa. Khi được nửa phim, lúc cậu cởi áo ra để bơi cùng cha mình và hỏi mấy điều về con gái, bạn sẽ thấy những dấu vết cuối cùng của một cậu bé bầu bĩnh và của tuổi thơ đích thực. Đến phần tiếp theo, Mason trổ giò và gầy đi, và bây giờ nói chuyện với con gái luôn chứ không còn nói về con gái nữa.

Matt Lankes - IFC FIlms

Matt Lankes – IFC FIlms

Đối với một nhà làm phim nổi tiếng về tính nói nhiều nơi các nhân vật, ông Linklater đã từ khước lối lí giải thái quá bằng một cách thức hầu như là rất khác kiểu Mĩ. Khi lần đầu tiên gặp Mason ở tuổi lên 6, nhìn chăm chăm bầu trời trong lúc nằm dài ở bãi cỏ, dường như có thoáng chút thanh thản nơi cậu ta. Cậu ta cũng trông giống như một đứa bé đang nhìn chăm chăm ra ngoài không gian. Cậu ta vui, buồn hay đang buồn chán? Và khi nhìn chăm chăm vào một con chim chết, cậu ta nghĩ gì?; cậu ta cảm thấy ra sao? Ông Linklater không nói gì hết. Thay vào đó ông lấp đầy khung hình bằng gương mặt cận cảnh của Mason, để cho sự im lặng và sức nặng của cái chết quẩn quanh. Các nhân vật của Linklater có thể nói liến thoắng không ngừng, nhưng hiếm khi trong phim của ông, và không bao giờ trong “Boyhood” mà bạn có thể nghe được tiếng ầm ừ của kiểu dẫn chuyện bên dưới ngôn từ của họ.

Phim có một phong cách hình ảnh chuẩn xác, khiêm nhường đến mức hình như vô hình và để phục vụ cho các nhân vật, với các bố cục lúc nào cũng giản đơn và gọn ghẽ, thậm chí có lúc những căn phòng kia rất ư náo nhiệt. Khi ông Linklater quay một phong cảnh, bạn sẽ không dán mắt vào tác phẩm quay đó mà sẽ dán mắt vào vẻ đẹp của những vùng không gian này và của con người trong đó – vẻ xanh tốt bao quanh của khu nhà ở mà Mason lần đầu cưỡi xe đạp, chẳng hạn vậy, và vẻ tĩnh mịch của một vịnh nước nhỏ mà nhiều năm sau đó cậu bơi cùng cha mình. Ông Linklater đặc biệt thích trưng ra cảnh hai người đi bộ và chuyện trò, và khi bạn biết được nhiều điều về mối quan hệ của hai nhân vật từ cái cách họ chiếm ngự  không gian – hai cảnh quay của ông nói lên rất nhiều thứ – cũng như từ những điều họ nói ra. Ông là một hình học gia kiêm thi sĩ của sự thân mật.

Rất ngạc nhiên khi dường như không ai từng làm một phim như “Boyhood” trước đây. Đồng sự gần nhất của phim này có lẽ là loạt phim “7 Up”, một dự án phim tài liệu nhiều phần của Michael Apted mà kể từ 1964 đã xuất hiện cứ mỗi 7 năm với cùng những người nam và người nữ Anh quốc, không hơn không kém, bắt đầu từ lúc họ lên 7. Quan sát những đứa trẻ mang vẻ vô tư phát triển khoẻ mạnh và vấp ngã khi chúng lớn lên – hoặc, tẻ nhạt hơn, trở thành những công dân buồn tẻ và đứng đắn – đó có thể là một nhát dao vào tim bạn. Điều đó cũng có thể là một thứ gì khác quái lạ, đơn giản vì loạt phim này đã nén nhiều thập niên của đời người thành những cảnh phim cứ lần hiện ra, liền lạc và gai góc – một sự quái lạ mà “Boyhood” đã san sẻ cùng khi 12 năm cuộc đời Mason lướt qua trong 165 phút chóng vánh đến sửng sốt. Hôm nay chúng ta ở đây, ngày mai đi mất.

Lối ẩn dụ cấp tiến, quen thuộc ở những chi tiết thường nhật, “Boyhood” hiện hữu ở giao lộ của điện ảnh kinh điển và phim nghệ thuật hiện đại mà không phải hàm ơn một cách mù quáng đối với cả hai truyền thống này. Đây là kiểu mẫu của tính hiện thực điện ảnh, và niềm vui thú mà nó mang lại là điều tuy hiển nhiên mà bí ẩn. Thậm chí sau khi xem phim này ba lần, tôi vẫn chưa nhận biết được trọn vẹn lí do tại sao nó cứ bám lấy mình, và tại sao tôi lại háo hức xem nó lần nữa. Có nhiều lí do để yêu thích các bộ phim, từ câu chuyện chúng kể ra, cho đến những nhân vật đẹp đẽ sống và chết vì chúng ta. Và tuy thế câu chuyện trong “Boyhood” giản dị trong niềm hân hoan tột cùng: Một đứa trẻ trưởng thành. Câu chuyện cùng với tính khiêm tốn ở phần thể hiện hình thức – những căn phòng nhún nhường, những khoảnh khắc thầm lặng, những cuộc đời bình thường – hết thảy những điều này có thể làm mờ khuất đi tham vọng của Linklater và cái tính chất vĩ đại của thành quả ông tạo được.

Không ngạc nhiên khi cái làm cho việc xem phim này trở nên lí thú là ta quan sát thấy các diễn viên già đi một cách tự nhiên trước máy quay mà không cần hiệu ứng tô phết và kĩ thuật số. Và ban đầu có thể khó chú ý gì nhiều hơn những nếp nhăn in lên gương mặt của ông Hawke, nét cong gợi cảm của vòng bụng cô Arquette và sự trổ mã khi cậu Coltrane trưởng thành. Bạn có thể thấy gương mặt chính mình trong những gương mặt kia, cả gương mặt của con bạn nữa. Loại nhận dạng này là điều quen thuộc, giống như ý tưởng cho rằng phim ảnh bảo toàn thời gian. André Bazin viết rằng nghệ thuật hiện xuất từ khao khát của chúng ta muốn chống lại dòng thời gian trôi qua và sự mục rữa không tránh khỏi do thời gian mang đến. Nhưng trong “Boyhood”, kiệt tác của Linklater, ông đã nắm bắt được những thời khắc và buông thả những thời khắc đó khi chuyển từ năm này sang năm nọ. Ông không chống chọi thời gian mà ôm lấy nó trong vẻ đẹp tráng lệ mà rất đỗi phù du.

Duy Đoàn chuyển ngữ
Sài-gòn, 20141117

 

Nguồn:

Dargis, Manohla. “From Baby Fat to Stubble: Growing Up in Real Time.” The New York Times, 7/2014: http://www.nytimes.com/2014/07/11/movies/movie-review-linklaters-boyhood-is-a-model-of-cinematic-realism.html

Advertisements

One comment on “[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s