J. E. Cirlot – Đền thờ

Từ ‘temple’ bắt nguồn từ gốc tem – ‘chia’. Những nhà tiên tri Etruria đã tạo ra một sự phân chia bầu trời bằng sự giao cắt của hai đường thẳng tại một điểm ngay trên đầu, điểm giao cắt trở thành một hình chiếu của khái niệm về ‘Trung-tâm’, và các đường thẳng đại diện cho hai ‘hướng’ của mặt phẳng; đường thẳng bắc-nam được gọi là cardo và đường thẳng đông-tây là decumanus. Các hiện tượng được diễn dịch theo trạng thái của chúng trong sự phân chia không gian này. Do đó, đền thờ trần thế được coi như một hình ảnh của đền thờ thiên giới và cấu trúc cơ bản của nó được xác định bởi những suy xét về trật tự và sự định hướng (7). Đền thờ ban cấp một ý nghĩa đặc trưng và bổ sung cho tính biểu tượng chung của những cấu trúc xây dựng. Nói rộng ra, đây là sự tạo nghĩa huyền bí của ‘Trung-tâm’ vốn thắng thế; đặc biệt, đền thờ và bàn thờ được đồng nhất với biểu tượng của đỉnh-núi như là tiêu điểm giao cắt của hai thế giới thiên giới và trần thế. Theo Philo và Flavius Josephus, đền thờ Solomon là một đại diện tượng trưng của vũ trụ, và nội thất của nó được xếp đặt sao cho: bàn nhang tạo nghĩa tạ ơn; giá nến bảy nhánh tượng trưng cho bảy bầu trời hành tinh; bàn thánh đại diện cho trật tự trần thế. Để bổ sung cho điều này, mười hai ổ bánh mì tương ứng với mười hai tháng của năm. Rương Thoả ước (Ark of the Covenant) tượng trưng cho những điều khả tri (14). Những kiến trúc sư thời kì Lãng mạn, Gothic và Phục hưng, bằng cách thức riêng, đã tìm tòi noi gương nguyên mẫu cấp cao này. Ví dụ, giữa năm 1596 và 1604, những tái thiết tưởng tượng của Đền thờ Solomon xuất hiện trong rất nhiều công trình khác nhau được công bố ở La-mã và dựa trên kinh thánh, và những minh hoạ mà chúng bao hàm đã ảnh hưởng sâu đậm đến những kiến trúc sư của thời đại ấy. Một tạo nghĩa cơ bản khác của đền thờ bắt nguồn từ thực thể của nó là một tổng hợp nhiều biểu tượng khác nhau của trục-thế-giới, như ngọn núi rỗng, các bậc và đỉnh núi cúng tế đã đề cập ở trên. Trong một số nền văn hoá sinh học thiên thể đền thờ hoặc bàn thờ thực ra được xây cất dựa trên một ngọn núi nhân tạo – teocalli của Mexico là một ví dụ. Một khái niệm cao cấp hơn có thể được tìm thấy trong sự mô tả kiến trúc những yếu tố căn cốt của mô hình nội tại của vũ trụ căn cứ trên những con số ba, bảy, mười và đặc biệt là mười hai. Số bảy là đại diện cơ sở cho các hành tinh và những biểu tượng tính bắt nguồn từ chúng, và do đó những ngọn-núi-đền-thờ vùng Lưỡng Hà – hoặc ziggurat – được xây cất theo kiểu dáng của một kim tự tháp bảy tầng. Mỗi tầng được dâng cho một hành tinh riêng biệt. Ziggurat của Babylon gọi là Etemenanki (‘ngôi nhà của bảy hướng của bầu trời và mặt đất’) được xây bằng những viên gạch thô bao phủ bởi những viên gạch đã được nung khác. Một tấm bản ở Louvre có ghi rằng theo kế hoạch nó dài 2200 feet (670,56 mét) và rộng 1200 feet (365,76 mét). Tầng đầu tiên màu đen và dâng Thổ tinh, tầng thứ hai màu cam và dâng Mộc tinh, tầng ba màu đỏ và được cúng cho Hoả tinh, tầng bốn màu vàng kim loại và dâng Mặt trời, tầng năm màu vàng (dâng Kim tinh), tầng sáu màu lam (dâng Thuỷ tinh), tầng bảy màu bạc (dâng Mặt trăng) (39). Trật tự này không phải lúc nào cũng được tuân theo, đôi khi Mặt trăng được đặt ở tầng trời thứ sáu và Mặt trời ở tầng thứ bảy (17). Tuy nhiên, Berthelot gợi ý rằng ziggurat không chỉ bao gồm những khía cạnh huyền bí của Ngọn-núi và Trung-tâm (bởi tác dụng tụ hội và địa thế của nó) và của Các bậc (bởi hình dạng của nó), mà còn tạo thành một hình ảnh của thiên đàng, vì thực vật hiển lộ sinh sôi trên các tầng của nó (7). Những gốc gác của loại cấu trúc này là ở Sumer (7), và những ví dụ có thể được tìm thấy ở Ai-cập, Ấn-độ, Trung-hoa và châu Mĩ tiền-Columbus. Eliade, để xác nhận điều này, bổ sung rằng việc leo lên đỉnh ngọn-núi-đền-thờ của người Lưỡng Hà hoặc Ấn-giáo là tương đương với hành trình xuất thần đến với ‘Trung-tâm’ của thế giới; một khi kẻ du hành đến được tầng cao nhất, y sẽ phá vỡ những lề luật của cấp bậc, siêu vượt không gian trần tục và nhập vào một tinh quyển (18). Một nhận xét rất quan trọng là sự leo núi ngụ ý rốt ráo cùng một xu hướng huyền bí, như có thể thấy trong thực tế rằng những ngọn núi cao là nơi cư trú được kẻ ẩn dật lựa chọn. Và sự tạo nghĩa biểu tượng dành cho loài dê bắt nguồn duy nhất từ sự ưa thích những đỉnh núi cao của chúng. Một ví dụ quan trọng khác của ngọn-núi-đền-thờ, một sản phẩm của văn hoá Ấn-giáo, đến từ bán đảo Đông Dương – đền thờ Borobudur được xây dựng tại trung tâm đảo Java vào thế kỉ thứ 8 của thời đại chúng ta. Về cơ bản nó gồm bốn tầng hành lang dạng vuông, với bốn bệ tròn hơn trên đỉnh nổi lên một lầu tháp được bao bọc. Về hình dạng, nó tương tự ziggurat của Ai-cập, hoặc, trong ngôn ngữ Khmer, một Phnom, tạo nghĩa một ngọn-núi-đền-thờ có thể so sánh với núi Meru, Olympus của Ấn-giáo. Bốn hệ bậc thang dẫn lên trung tâm của mỗi mặt dạng kim tự tháp dẫn trực tiếp từ đáy lên đỉnh. Dường như ý nghĩa thâm sâu nhất gắn với đền thờ này là về một đặc tính siêu nhiên. Tên của nó – Borobudur – nghĩa là ‘trung tâm của khải lộ bí mật’. Mọi công trình lớn có cấp bậc như các bậc thang đều liên quan đến tính biểu tượng của sự tiến hoá tinh thần một cách gián đoạn, tuy riêng rẽ nhưng lại là những giai đoạn tiến triển của sự tiến hoá (6). Đồng thời, nền của Borobudur là một yantra thực thụ về mặt bình đồ, và nhiều tầng bậc dạng vuông và tròn khác nhau của nó tạo thành một mạn-đà-la có liên quan đến tính biểu tượng của ‘sự cầu phương hình tròn’ (6). Cấu trúc biểu tượng của đền thờ Hi-lạp về cơ bản tương tự như nhà-trên-hồ (lake-dwelling): đó là, nó tượng trưng cho sự liên lạc giữa Ba Thế giới – Âm giới (được biểu thị một mặt bởi nước và những cây cọc và mặt khác bởi đất và phần ngầm dưới đất), Trần thế (nền và những cây cột) và Thiên giới (được gợi ý bởi phần mái). Những nhà thờ lớn của Kitô-giáo ít liên quan đến thế giới vĩ mô hơn thế giới vi mô, hình dáng con người được mô tả như hậu điện (đại diện cho cái đầu), điện thập giá và các gian ngang (hai cánh tay), gian giữa và các gian bên cạnh (thân thể) và bàn thờ (trái tim). Trong đền thờ Gothic, những đường cong hướng lên, vai trò quan trọng của trục đứng – và thực ra cả công trình như một tổng thể – nắm bắt ý tưởng của ngọn-núi-đền-thờ với sự tổng hợp ngụ ý của nó về tính biểu tượng của cả thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Theo Schneider, hai toà tháp thường đặt ở mặt phía tây tương ứng với ‘núi song đỉnh của Hoả tinh’ trong những nền văn minh cự thạch nguyên thuỷ (và kết nối với thần thoại Gemini), trong khi mái vòm phía trên gian ngang mang ý nghĩa của một sự tổng hợp cao hơn, một hình ảnh của thiên giới. Cả sự tổng hợp và điểm then chốt đều được củng cố bởi Gershom G. Scholem, trong Les Origines de la Kabbale (Paris, 1966). Ông gợi nhắc rằng Thượng đế sống trong lí tính của ngài hoặc rằng Thượng đế là Lí tính tuyệt đối và là thần ngôn (logos) của thế giới, và rằng đền thờ ‘là nhà’ hoặc nơi ở của Thượng đế, và vì vậy đồng nhất đền thờ với lí tính.

Đền thờ Borobudur. Hình chiếu cạnh và hình chiếu bằng, minh hoạ mô hình mạn-đà-la.

Đền thờ Borobudur.
Mặt cắt cạnh và hình chiếu bằng, minh hoạ mô hình mạn-đà-la.

 K.H. dịch
2015.01.19

Nguyên chú của tác giả:
(6) BENOIST, Luc. Art du monde. Paris, 1941
(7) BERTHELOT, René. La pensée de l’Asie et l’astrobiologie. Paris, 1949
(14) DAVY, M.-M. Essai sur la Symbolique Romane. Paris, 1955
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(18) ELIADE, Mircea. Images et Symboles. Paris, 1952
(39) MARQUÈS RIVIÈRE, J. Amulettes, talismans et pantacles. Paris, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Temple” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s