J. E. Cirlot – Các hành tinh

Các hành tinh cấu thành một trật tự đặc trưng trong vũ trụ. Đây là công việc của khoa học về thiên văn nghiên cứu chúng từ một quan điểm tự nhiên và toán học, dựa trên nền tảng của hệ thống mà Copernicus đã thiết lập với De Revolutionibus Orbium Coelestium [Về những sự quay vòng của các thiên thể] năm 1543 của ông, theo đó mặt trời là trung tâm vây quanh bởi tập hợp quỹ đạo của các hành tinh: Thuỷ tinh [Mercury], gần nhất, kế đến là Kim tinh [Venus], Trái đất [Earth], Hoả tinh [Mars], các Tiểu hành tinh [Asteroids], Mộc tinh [Jupiter], Thổ tinh [Saturn], Thiên vương tinh [Uranus], Hải vương tinh [Neptune] (và Diêm vương tinh [Pluto]). Nhưng khoa chiêm tinh và biểu tượng truyền thống lấy cảm hứng không phải từ hệ thống của Copernicus mà là từ hệ thống đã được công nhận bởi Người Cổ đại [Ancients]. Vì giá trị của tính biểu tượng ở đây phụ thuộc duy nhất vào một tiến trình hoá sao (đó là, sự phóng chiếu của một trật tự tâm thần đã có thành trật tự bầu trời, hoặc sự diễn giải của một ‘chuỗi’ năng lực giải thích những hiện tượng trong thế giới tâm lí và tinh thần) nên chúng ta không cần phải xem xét câu hỏi phức tạp rằng hệ thống Ptolemy (được xác nhận một phần bởi Thuyết Tương đối [Theory of Relativity]) có thể hoà hợp với hệ thống Copernicus tới đâu. Đồng thời, sự kiện có tồn tại bảy hành tinh đáp lại ý tưởng về bảy bầu trời hành tinh, đến lượt chúng khớp với bảy Hướng hoặc vùng trong không gian (đến lượt chúng, khi được chuyển thành những thuật ngữ về thời gian, trở thành nguồn gốc của bảy ngày trong tuần). Mối quan hệ của các hành tinh với bảy điểm trong không gian như sau: Mặt trời – thiên đỉnh, Mặt trăng – thiên để, Thuỷ tinh – trung tâm, Kim tinh – phương Tây, Hoả tinh – phương Nam, Mộc tinh – phương Đông, và Thổ tinh – phương Bắc (54). Trật tự mà khoa chiêm tinh đặt cho các hành tinh – Mặt trời và Mặt trăng cũng được coi là những hành tinh – như sau, lấy Trái đất làm trung tâm và theo thứ tự từ gần nhất đến xa nhất: Mặt trăng, Thuỷ tinh, Kim tinh, Mặt trời, Hoả tinh, Mộc tinh, Thổ tinh (Thiên vương tinh và Hải vương tinh, dù hai hành tinh này thường không được tính). Giới tính của những thực thể này được định rõ với Kim tinh, Hoả tinh, Mộc tinh và Thổ tinh. Thuỷ tinh biểu lộ cả tính nam và lưỡng tính. Mặt trời và Mặt trăng trao đổi giới tính nhau qua các thời đại, tuỳ theo nền văn hoá của thời kì ấy. Nền tảng huyền bí của thần thoại hành tinh được tìm thấy trong sự tổng quát hoá của Varro rằng các hành tinh là những thiên thể và, đồng thời, là những đấng sinh thành của sự sống (7). Mỗi năng lực tạo sinh này có một hình cầu hoạt động đặc thù, chính là ‘bầu trời’ của nó, và uy lực của ‘bầu trời’ này lan toả suốt các vùng không gian thâm nhập vào nhau. Tính biểu tượng hành tinh đạt đến độ phức tạp cao nhất trong mối quan hệ của nó với vòng Hoàng đạo; vì vòng Hoàng đạo biểu tượng hoá các cấp và các pha của một chu kì sáng tạo cụ thể. Lí thuyết về ‘những tương ứng’, áp dụng vào các hành tinh, chiết ra một hệ thống phức tạp trong đó mỗi hành tinh được coi là một ‘thức [mode]’ đặc trưng được phú cho một đặc tính cụ thể, và liên quan đến một Giác quan đặc thù, hay một kim loại, một mùi hương, hay một loài cây, chẳng hạn. Tuy nhiên, quan trọng hơn là thấu hiểu được sự kết nối của mỗi hành tinh với một đức hạnh hoặc khuynh hướng đã có: vì vậy, Mặt trời liên quan đến ý chí và tính hoạt động, Mặt trăng liên quan đến trí tưởng tượng và thế giới của những hình thể, Hoả tinh liên quan đến sự chiến đấu và huỷ diệt, Thuỷ tinh liên quan đến trực giác và sự vận động, Mộc tinh liên quan đến óc suy xét cừ khôi và sự cai quản, Kim tinh liên quan đến tình yêu và các mối quan hệ, Thổ tinh liên quan đến tính nhẫn nại và bảo tồn. Tuy nhiên, các khuynh hướng chính yếu của những phẩm tính này có lúc tiêu cực có lúc tích cực. Ély Star gợi ý một sự sắp xếp như sau, phù hợp với các nguyên lí của sự tiến hoá và tinh thần hoá: Mặt trời – cái thiện tiềm tàng, Mặt trăng – cái ác tiềm tàng, Thuỷ tinh – tính nhị nguyên và do đó, ý chí tự do, Kim tinh – cái thiện khách quan, Hoả tinh – cái ác khách quan, Mộc tinh – cái thiện chủ quan, Thổ tinh – cái ác chủ quan. Các hành tinh do đó được chia thành hai khu vực, một toả sáng và một tăm tối, cả hai đều cần thiết cho chu trình tồn tại; những khu vực này tương ứng với các vùng sáng và tối riêng biệt của biểu tượng Trung-hoa về luồng vũ trụ [universal flux] – Âm-Dương (54). Mertens-Stienon đã nghiên cứu các năng lực hành tinh trong khía cạnh thần hệ của chúng, xuất phát từ ngoài vào trong, do đó cái ở xa nhất trở thành cái cổ xưa nhất và ‘nguyên thuỷ’ nhất của các vị thần: Thiên vương tinh sinh ra Thổ tinh (không gian bầu trời sáng tạo ra thời gian), và quyền uy của Thổ tinh được kế thừa bởi trật tự kiến tạo của Mộc tinh; tiếp theo là con cái của Mộc tinh – Hoả tinh (nguyên lí năng động), Kim tinh (bị động) và Thuỷ tinh (trung tính) (40). Từ quan điểm biểu tượng, chuỗi tiến hoá này hút kẻ tra vấn vào nội tâm, cô đặc chính nó bên trong linh hồn con người, vì linh hồn là tiểu vũ trụ phản chiếu đại vũ trụ. Tầm quan trọng của các cổ mẫu hành tinh xuất hiện trong sức ảnh hưởng bền bỉ của thần thoại Hi-La, vì đó là những thần thoại cổ điển biểu hiện sinh động và sáng tỏ nhất ý nghĩa bên trong của chúng; như Jean Seznec (53) đã trình bày, những thần thoại này được duy trì phổ biến xuyên suốt văn hoá Kitô-giáo thời Trung cổ và thời Phục hưng mà không bị chống đối bởi Giáo hội, vì họ nhận thức được chân lí tâm lí và biểu tượng của chúng. Waldemar Fenn duy trì ý tưởng rằng một số bản khắc thời tiền sử có chứa các nhóm bốn hoặc ba nguyên tố hợp thành và những bản vẽ này tương ứng với các hình thể hành tinh. Nghệ thuật đại chúng của các sắc dân Bắc Âu, tất nhiên, vẫn lưu giữ sự phân chia các hình cầu này – chủ yếu theo quan điểm tâm lí – thành hai nhóm: nhóm trong gồm ba thành tố và nhóm ngoài gồm bốn thành tố. Căn cứ vào sự cân bằng của các hành tinh với bảy Hướng của Không gian (như chúng ta đã phác hoạ trước đó), thì nhóm trong (xếp dọc theo trục đứng) sẽ gồm chuỗi Mặt trời – Thuỷ tinh – Mặt trăng, trong khi nhóm ngoài, tương đương với bốn phương, liên quan đến Kim tinh – Hoả tinh – Mộc tinh – Thổ tinh. Điều này gợi ý rằng, như những thành phần của linh hồn con người, ba thành phần trung tâm quan trọng và ảnh hưởng nhiều hơn bốn thành phần bên ngoài, vì bốn thành phần này liên quan đến hình vuông và tính biểu tượng của vị trí và giới hạn (như với các bộ tứ [tetramorph]), trong khi ba thành phần bên trong cấu thành động lực tâm linh thực thụ của trật tự tam nguyên [ternary order], gồm tính năng động, tính bị động và trung tính.

K.H. dịch
2015.01.28

Nguyên chú của tác giả:
(7) BERTHELOT, René. La pensée de l’Asie et l’astrobiologie. Paris, 1949
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(53) SEZNEC, Jean. The Survival of the Pagan Gods. New York, 1953
(54) STAR, Ély. Les Mystères de l’Etre. Paris, 1902

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Planets” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s