J. E. Cirlot – Nước

Trong hệ chữ tượng hình Ai-cập, biểu tượng của nước là một đường lượn sóng với những ngọn sắc nhỏ, đại diện cho mặt nước. Một biểu tượng tương tự, khi gấp ba, tượng trưng cho một khối nước, đó là, đại dương nguyên thuỷ và vật chất đầu tiên. Theo truyền thống bí ẩn, thần Nu là thực thể mà từ đó các vị thần của bộ chín đầu tiên hiện ra (19). Người Trung-hoa coi nước như nơi ở riêng của rồng, vì mọi đời sống đều bắt nguồn từ nước (13). Trong kinh Vệ-đà, nước được coi là mâtritamâh (mẹ vĩ đại nhất) vì, vào khởi thuỷ, mọi thứ như một biển nước không ánh sáng. Ở Ấn-độ, nguyên tố này được coi là đấng bảo hộ của sự sống một cách rộng rãi, tuần hoàn xuyên suốt toàn thể tự nhiên, trong hình thức của mưa, nhựa cây, sữa và máu. Vô hạn và bất tử, nước là khởi thuỷ và kết cuộc của mọi thứ trên trái đất (60). Tuy bề ngoài nước là không hình dạng, nhưng các nền văn hoá cổ xưa đã phân biệt giữa ‘nước trên cao’ và ‘nước dưới thấp’. Nước trên cao tương ứng với tiềm lực hoặc những gì còn khả hữu, nước dưới thấp tương ứng với những gì thực có hoặc đã được tạo tác (26). Trong một ý nghĩa tổng quát, khái niệm ‘nước’, tất nhiên, đại diện cho mọi chất lỏng. Hơn nữa, nước nguyên thuỷ, hình ảnh của vật chất đầu tiên, cũng chứa đựng mọi vật thể rắn trước khi chúng đạt được hình thể và độ rắn. Vì lí do này, các nhà luyện đan đặt tên ‘nước’ cho thuỷ ngân trong giai đoạn đầu của sự biến tố, cũng như cho ‘thân thể lỏng’ của Con người theo cách tương tự (57). ‘Thân thể lỏng’ này được diễn giải bởi tâm lí học hiện đại như một biểu tượng của vô thức, đó là, một biểu tượng của phi-hình-thức, của động lực, động cơ, mặt nữ của nhân cách. Sự phóng chiếu hình ảnh người mẹ (mother-imago) thành nước phú cho chúng những đặc tính bí ẩn khác nhau của người mẹ (31). Một nghĩa phụ của tính biểu tượng này được tìm thấy trong sự đồng nhất của nước với trí tuệ trực giác. Trong thuyết nguồn gốc vũ trụ của người Lưỡng Hà, vực nước thẳm được coi như một biểu tượng của Trí tuệ khách quan, khó thăm dò. Một vị thần cổ Ireland mang tên Domnu, nghĩa là ‘vực biển’. Trong những thời đại tiền sử, chữ dùng chỉ vực thẳm dường như đã được chuyên dùng để chỉ những gì khó dò và huyền bí (4). Nước, nói ngắn gọn, tượng trưng cho đại hội vũ trụ của những tiềm lực, fons et origo, có trước mọi hình thể và tạo vật. Sự chìm trong nước tạo nghĩa một sự quay lại trạng thái trước phôi, một mặt theo nghĩa cái chết và sự huỷ diệt, nhưng mặt khác lại là sự tái sinh và đổi mới, vì sự chìm trong nước làm tăng lực-sống. Tính biểu tượng của lễ rửa tội, có liên kết gần gũi với tính biểu tượng của nước, đã được giải nghĩa cặn kẽ bởi Thánh John Chrysostom (Homil. in Joh., XXV, 2): ‘Nó đại diện cho cái chết và sự chôn cất, sự sống và sự phục sinh… Khi chúng ta trầm đầu dưới nước, như trong một mồ đá, con người cũ hoàn toàn bị chìm đắm và chôn vùi. Khi chúng ta rời khỏi nước, con người mới đột nhiên xuất hiện’ (18). Tính hai mặt của đoạn trích trên chỉ là trên bề mặt: trong khía cạnh đặc trưng của tính biểu tượng tổng quát của nước, cái chết chỉ tác động đến Con-người-trong-tự-nhiên trong khi sự tái sinh là của con người tinh thần. Trên cấp độ vũ trụ, điều tương đồng của sự chìm trong nước là lũ lụt, khiến mọi hình thể tan biến và quay lại trạng thái lỏng, do đó phóng thích các nguyên tố sẽ được kết hợp lại sau đó trong những mô hình vũ trụ mới. Tính chất trong suốt và chiều sâu, thường liên kết với nước, hướng sâu đến việc giải thích sự tôn kính của những người xưa dành cho nguyên tố này, như đất, là một nguyên lí tính nữ. Người Babylon gọi nó là ‘ngôi nhà của trí tuệ’. Oannes, một hữu thể thần thoại đem văn minh đến cho nhân loại, được vẽ chân dung như nửa người nửa cá (17). Hơn nữa, trong những giấc mơ, sự sinh nở thường được biểu lộ qua hình-ảnh-nước (Freud, Introduction to Psycho-Analysis). Thành ngữ ‘lớn lên từ trong nước’ và ‘được che chở từ trong nước’ tượng trưng cho sự phì nhiêu, và là những hình ảnh ẩn dụ của sự sinh nở. Mặt khác, trong tất cả các nguyên tố, nước là sự chuyển tiếp rõ ràng nhất, giữa lửa và khí (các nguyên tố nhẹ) và đất (nguyên tố rắn đặc). Tương tự, nước giữ một vai trò hoà giải giữa sự sống và cái chết, với một dòng chảy hai hướng tích cực và tiêu cực của sự sáng tạo và phá huỷ. Thần thoại về Charon và Ophelia tượng trưng cho chuyến hải trình cuối cùng. Cái chết là thuyền viên đầu tiên. ‘Chiều sâu trong suốt’, ngoài những ý nghĩa khác ra, đóng vai trò đặc biệt cho kết nối liên lạc giữa bề mặt và vực sâu. Do đó có thể nói nước chắp nối hai hình ảnh này lại (2). Gaston Bachelard chỉ ra nhiều đặc tính khác nhau của nước, và nhiều ý nghĩa biểu tượng phụ bắt nguồn từ chúng làm giàu thêm ý nghĩa cơ bản mà chúng ta đã mô tả. Những ý nghĩa phụ này không phải là một tập hợp những biểu tượng chính xác cho lắm, như một dạng ngôn ngữ biểu lộ sự biến tố của nguyên tố luôn-trôi-chảy này. Bachelard liệt kê ra nước sạch, nước giếng, nước chảy, nước đọng, nước lặng, nước ngọt và nước mặn, nước phản chiếu, nước thanh lọc, nước sâu, nước ào ạt. Dù chúng ta có coi nước như một biểu tượng của vô thức cá nhân hay vô thức tập thể hoặc như một nguyên tố của sự hoà giải và tan rã hay không, thì hiển nhiên tính biểu tượng của nó vẫn là một biểu hiện của tiềm lực sống của tinh thần, của những cuộc vật lộn của những chiều sâu tinh thần nhằm tìm cách phát biểu có hệ thống một thông điệp sáng rõ có thể lĩnh hội dành cho ý thức. Mặt khác, những tính biểu tượng phụ bắt nguồn từ những đối tượng có liên quan như các vật chứa nước, và cũng từ những cách thức mà nước được sử dụng: tẩy rửa, tắm gội, nước thánh, v.v.. Có một biểu tượng không gian rất quan trọng kết nối với ‘cấp độ’ của nước, chỉ sự tương quan giữa cấp độ vật chất thực tế và cấp độ luân lí tuyệt đối. Theo đó, Đức Phật, trong pháp thoại Assapuram của ngài, có thể nhìn thấy hồ-núi – nước trong suốt lộ ra, ở đáy, cát, vỏ sò ốc, sên và cá – như con đường cứu chuộc. Cái hồ này rõ ràng tương ứng với một khía cạnh cơ bản của ‘Nước Trên cao’. Mây là một khía cạnh khác của ‘Nước Trên cao’. Trong Le Transformationi của Ludovico Dolce, chúng ta phát hiện thấy một hình dáng huyền bí đang nhìn vào bề mặt không gợn sóng của một cái ao, tương phản với gã thợ săn đáng nguyền rủa, luôn trong cuộc rượt đuổi con mồi không ngừng của y, ngụ ý sự tương phản biểu tượng giữa hoạt động chiêm nghiệm – trạng thái sattva của Du-già (Yoga) – và một hoạt động thể chất mù quáng – trạng thái rajas. Sau cùng, nước trên cao và nước dưới thấp liên lạc với nhau qua diễn trình mưa (sự co cuộn) và sự bốc hơi (sự tiến hoá). Tại đây, lửa can thiệp làm biến đổi nước: mặt trời (tinh thần) khiến nước biển bốc hơi (do đó, làm thăng hoa sự sống). Nước tụ thành mây và quay lại đất trong hình dạng của mưa-ban-sự-sống, được ban cho tác dụng kép: nó là nước, và nó đến từ thiên giới (15). Lão Tử chú trọng diễn trình tuần hoàn khí tượng này, tính vật chất lẫn tinh thần đồng thời tương đồng, nhận xét rằng: ‘Nước không hề ngơi nghỉ, ngày cũng như đêm. Khi trôi chảy trên cao, nó gây ra mưa và sương. Khi trôi chảy dưới thấp, nó định hình sông suối. Nước nổi bật trong việc thực hiện điều lành. Nếu một con đập được xây để ngăn nó, nó dừng lại. Nếu được khơi dòng, nó sẽ chảy xuôi theo dòng nọ. Vì vậy nó được coi là không cố sức. Nó cũng không đủ sức phá huỷ những gì bền và chắc’ (13). Khi nước bộc lộ vai trò trong các khía cạnh phá huỷ của mình, trong diễn trình của các sự kiện đại hồng thuỷ, tính biểu tượng của nó không thay đổi, và chỉ phụ thuộc vào tính biểu tượng lấn át của dông bão. Cũng tương tự trong những bối cảnh mà dòng chảy tự nhiên của nước được nhấn mạnh ấy, như trong luận điểm của Heraclitus rằng ‘Bạn không thể trầm mình hai lần trên cùng một dòng sông; vì những dòng nước mới luôn trôi chảy qua bạn.’ Ở đây sự ám chỉ không phải là tính biểu tượng của nước, mà là ý tưởng về dòng chảy xuôi theo một dòng không thể đảo ngược. Trích Evola, trong La tradizione ermetica: ‘Không có nước thiêng, không gì hiện hữu, theo Zosimus. Mặt khác, giữa những biểu tượng của nguyên lí tính nữ bao gồm luôn những gì có hình dạng như những cội nguồn của nước (người mẹ, sự sống), như: Đất Mẹ, Mẹ của Nước, Đá, Hang động, Nhà của Mẹ, Đêm, Nhà của Chiều sâu, Nhà của Năng lượng, Nhà của Trí tuệ, Rừng, v.v.. Người ta không nên mê lầm bởi chữ ‘thiêng’. Nước tượng trưng cho sự sống trần thế và tự nhiên, không phải sự sống siêu hình.’

K.H. dịch
2015.02.02

Nguyên chú của tác giả:
(2) BACHELARD, GASTON. L’Eau et les Rêves. Paris, 1942
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(13) CHOCHOD, Louis. Occultisme et magie en Extrême-Orient. Paris, 1945
(15) DIEL, Pail. Le Symbolisme dans la mythologie grecque. Paris, 1952
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(18) ELIADE, Mircea. Images et Symboles. Paris, 1952 (19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(31) JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950
(60) ZIMMER, Heinrich. Myths and Symbols in Indian Art and Civilization. New York, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Water” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s