J. E. Cirlot – Mặt trăng

Tính biểu tượng của mặt trăng về tầm mức là rộng lớn và rất phức tạp. Quyền năng của vệ tinh này đã được ghi nhận bởi Cicero, khi ông nhận xét rằng ‘Mỗi tháng mặt trăng hoàn tất cùng một quỹ đạo được thực hiện bởi mặt trời trong một năm… Nó góp phần rất lớn vào sự trưởng thành của các loài cây bụi và sự sinh trưởng của các loài động vật.’ Điều này giúp giải thích vai trò quan trọng của những nữ thần mặt trăng như Ishtar, Hathor, Anaitis, Artemis. Con người, từ những thuở ban đầu, đã nhận thức được mối liên hệ giữa mặt trăng và thuỷ triều, và sự kết nối huyền bí hơn nữa giữa chu kì trăng và chu kì sinh lí của người nữ. Krappe – cũng như Darwin – tin rằng điều này tiếp nối một sự thực rằng sự sống của động vật có nguồn gốc từ những biển nước và rằng nguồn gốc này đã truyền một nhịp điệu cho sự sống còn kéo dài nhiều triệu năm. Như ông nhận xét, mặt trăng do đó trở thành ‘Chủ tể của người nữ’. Một sự thực căn cốt khác trong ‘tâm lí học về trăng’ là những thay đổi hiển hiện trên bề mặt theo các pha tuần hoàn của nó. Ông cho rằng các pha này – đặc biệt trong nghĩa phủ định của sự biến mất một phần hoặc dần dần – có thể là nguồn cảm hứng cho thần thoại về Đoạn chi [Dismemberment myth] (Zagreus, Pentheus, Orpheus, Actaeon, và Osiris chẳng hạn). Có thể nhắc đến sự tương đồng của những thần thoại và truyền thuyết về ‘những người quay tơ’ (35). Khi chế độ phụ quyền thay thế chế độ mẫu quyền, một đặc tính nữ trở thành thuộc tính của mặt trăng và một đặc tính nam trờ thành thuộc tính của mặt trời. Hieros gamos [Hôn lễ thiêng liêng], được biết đến rộng rãi như cuộc hôn phối của trời và đất, cũng có thể được coi như sự kết hợp của mặt trời và mặt trăng. Ngày nay người ta thừa nhận rộng rãi rằng các nhịp trăng được sử dụng như những đơn vị đo thời gian hơn là các nhịp mặt trời, và cũng có một sự tương đồng khả dĩ với sự phục sinh – mùa xuân tiếp nối mùa đông, muôn hoa xuất hiện sau sương giá, mặt trời lại mọc sau sự tăm tối của đêm, và trăng lưỡi liềm lớn lên từ ‘trăng non’. Eliade chỉ ra sự kết nối giữa những sự kiện vũ trụ này và thần thoại về sự sáng tạo và tái tạo theo chu kì của vũ trụ (17). Chức năng điều chỉnh của mặt trăng cũng có thể nhận thấy trong sự phân bổ của nước và mưa, và do đó nó xuất hiện từ sớm như sự trung hoà giữa đất và trời. Mặt trăng không chỉ đo lường và xác định các pha trái đất mà còn hợp nhất chúng qua hoạt động của nó: đó là, nó hợp nhất nước và mưa, khả năng sinh nở của người nữ và các loài động vật, và sự màu mỡ của thực vật. Nhưng trên hết nó là thực thể không duy trì tính đồng nhất của mình mà lại chịu những biến đổi ‘nhọc nhằn’ về hình dạng như một chu kì giũ sạch và hoàn toàn khả kiến. Những pha này tương tự các mùa trong năm và các thời kì trong thời lượng sống của con người; và là nguyên nhân gây ra ái lực của mặt trăng lên trật tự sinh học của sự vật, vì nó cũng phụ thuộc vào những quy luật của sự biến đổi, sinh trưởng (từ non trẻ đến trưởng thành) và suy tàn (từ trưởng thành đến tuổi già). Điều này giải thích cho niềm tin thần thoại rằng pha vô hình của mặt trăng tương ứng với cái chết trong con người, và, vì vậy, với ý niệm rằng người chết sẽ đến mặt trăng (và trở về từ đó – theo những truyền thống công nhận sự đầu thai). ‘Cái chết’, Eliade nhận xét, ‘vì vậy không phải là một sự tuyệt diệt, mà là một sự biến đổi của sơ đồ sự sống. Mặt trăng biến mất khỏi bầu trời trong ba đêm, nhưng vào ngày thứ tư nó lại tái sinh… Ý niệm về hành trình đến mặt trăng sau cái chết là một ý niệm đã được duy trì trong những nền văn hoá tiên tiến (ở Hi-lạp, Ấn-độ, và Iran). Tư tưởng Pythagoras đã truyền một xung lực mới cho thần học thiên thể [astral theology]: “Quần đảo Chân-phúc” và tất cả đặc điểm địa lí thần thoại đều được phóng chiếu trên những bình diện vũ trụ – mặt trời, mặt trăng, dải Ngân Hà. Không khó để tìm thấy, trong những thể thức sau này, những đề tài truyền thống về mặt trăng như Đất của Người chết [Land of the Dead] hoặc như trú sở tái sinh của những linh hồn. (Nhưng)… không gian trăng không gì hơn một giai đoạn trong sự thăng thiên; còn những giai đoạn khác nữa: mặt trời, dải Ngân Hà, “quỹ đạo tối cao”. Đây là lí do tại sao mặt trăng điều khiển sự hình thành các sinh vật hữu cơ, cũng như sự phân huỷ của chúng (như màu xanh lá). Vận mệnh của nó bao gồm sự hấp thu những hình thể và tái tạo chúng. Chỉ những gì vượt xa mặt trăng, hoặc ở trên nó, mới có thể vượt qua một cách hợp thức. Do đó, với Plutarch, những linh hồn thực sự chỉ được thanh lọc trong mặt trăng, trong khi thể xác của chúng quay lại trái đất và tinh thần của chúng quay lại mặt trời.’ Trạng thái trăng, từ đó, tương đương với thân phận con người. Đức Mẹ [Our Lady] được vẽ phía trên mặt trăng, do đó biểu lộ sự vĩnh hằng vượt hơn mọi sự biến đổi và tạm thời (17). René Guénon đã xác nhận rằng, trong ‘hình cầu của mặt trăng’, những hình thể bị hoà tan, để những trạng thái cao cấp hơn được tách khỏi trạng thái thấp kém; dẫn đến vai trò kép của mặt trăng là Diana và Hecate – thiên đàng và địa ngục. Diana hoặc Jana là hình thể tính nữ của Janus (26, 17). Bên trong trật tự vũ trụ, mặt trăng được coi như một bản sao của mặt trời, nhưng trong hình thể thu nhỏ, để, nếu mặt trời đem lại sự sống cho toàn hệ thống hành tinh, thì mặt trăng chỉ tác động đến hành tinh của chúng ta. Vì đặc tính thụ động của nó – do nó thu nhận ánh sáng từ mặt trời – nó ngang với tính biểu tượng của số hai và sự thụ động hoặc nguyên lí tính nữ. Nó cũng liên quan đến Trứng của Thế giới [Egg of the World], tử cung và cái tráp (9). Kim loại tương ứng với mặt trăng là bạc (57). Nó được coi là người dẫn đường đến mặt sâu kín của tự nhiên, ngược với mặt trời chịu trách nhiệm với sự sống của thế giới hữu hình và hoạt động sôi nổi. Trong khoa luyện đan, mặt trăng đại diện cho tính dễ bay hơi (hoặc dễ biến đổi) và nguyên lí tính nữ, và cũng như tính đa dạng vì bản chất gián đoạn trong các pha của nó. Hai ý niệm này đôi khi bị lẫn lộn, sinh ra những diễn giải theo nghĩa đen rơi vào cái bẫy mê tín. Ví dụ, những người Greenland tin rằng mọi thiên thể đồng thời cũng là những con người, nhưng đặc biệt mặt trăng bị họ buộc tội xúi giục phụ nữ tham gia những nghi lễ bí mật và vì lí do này họ bị cấm ngắm trăng trong một thời gian dài (8). Ở Arập tiền-Islam, cũng như trong những nền văn hoá Semitic khác, sự thờ cúng mặt trăng chiếm ưu thế hơn sự thờ cúng mặt trời. Mohammed cấm dùng bất kì kim loại nào để làm bùa ngoại trừ bạc (39). Khía cạnh tạo nghĩa khác của mặt trăng liên quan đến kết nối gần gũi của nó với đêm tối (tính mẹ, tính bảo bọc, vô thức, và tính lưỡng nghịch vì nó vừa an toàn vừa nguy hiểm) và độ nhạt trong ánh sáng của nó chỉ chiếu sáng một nửa các vật thể. Vì điều này, mặt trăng gắn liền với sự tưởng tượng và tính đồng bóng như vương quốc trung gian giữa sự tự phủ nhận của sự sống tinh thần và mặt trời sáng rực của trực giác. Schneider chú ý đến một vấn đề hình thái rất thú vị với nhận xét của ông rằng sự biến đổi không ngừng trong hình dạng của mặt trăng – từ hình-đĩa đến một sợi sáng mỏng – dường như đã sinh ra một lí thuyết huyền bí về những hình thể đã ảnh hưởng đến, ví dụ, cách chế tạo các nhạc cụ (51). Đồng thời, Stuchen, Hommel và Dornseif đã giải thích ảnh hưởng của những hình dạng mặt trăng đến những kí tự trong bảng chữ cái Hebrew và Arập, bên cạnh sức ảnh hưởng sâu thẳm của chúng đến hình thái của các nhạc cụ. Eliade trích dẫn bình luận của Hentze về sức ảnh hưởng rằng mọi thuyết nhị nguyên đều tìm thấy trong các pha của mặt trăng, nếu không là căn nguyên lịch sử của chúng, thì tối thiểu cũng là một hình mẫu thần thoại và tượng trưng. ‘Âm giới – thế giới của bóng tối – được đại diện bằng một mặt trăng đang tàn (các sừng = trăng phần tư; dấu hiệu xoắn ốc kép = hai trăng phần tư đối diện từ hai hướng ngược nhau; hai trăng phần tư chồng lưng nhau = sự biến đổi tính trăng đại diện cho một người già khọm xương xẩu). Thế giới trên cao – thế giới của sự sống và của mặt trời mới mọc – được tượng trưng bởi một con hổ (quái vật của bóng tối và trăng non) với con người, đại diện bởi một đứa trẻ, trồi ra từ miệng nó’ (17). Những loài vật được coi là có tính trăng là những loài xuất hiện và biến mất luân phiên, như những loài lưỡng cư; những ví dụ là loài sên rời vỏ và quay lại vỏ của nó; hoặc loài gấu lẩn mất vào mùa đông và tái xuất hiện vào mùa xuân, v.v.. Những vật thể mang tính trăng có thể được coi như những vật thể của đặc tính bị động hoặc phản chiếu, như tấm gương; hoặc những vật có thể thay đổi vùng-mặt của chúng, như cái quạt. Một điểm thú vị đáng ghi nhận là cả hai vật trên về đặc tính đều mang tính nữ.

K.H. dịch
2015.02.
11

Nguyên chú của tác giả:
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(35) KRAPPE, A. H. La Genèse des mythes. Paris, 1952
(39) MARQUÈS RIVIÈRE, J. Amulettes, talismans et pantacles. Paris, 1950
(51) SCHNEIDER, Marius. La danza de espadas y la tarantela. Barcelona, 1948
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Moon” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s