John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

John Lukacs

Những con quái vật hợp cùng nhau

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 382 trang, $29.99

 

Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, và ý nghĩa của điều này xứng đáng có được nhiều sự chú ý hơn những gì được tiếp nhận lâu nay.

Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành; Stalin trỗi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực Tây phương không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, là kết quả từ quyết định của người Anh (và Pháp) nhằm chống lại việc Đức chinh phục Ba-lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Nazi-Soviet vào ngày 23 tháng Tám năm 1939 chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng Chín đã không ngăn được Anh quốc và Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức trước cuộc xâm lăng của Đức vào Ba-lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng trong nhiều tháng tiếp theo để tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức lại là câu chuyện khác.

Giờ đây ba phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Nazi-Soviet kể từ lúc ấy, phần lớn của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance là bản tường trình tốt của sử gia Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách đã xử lí được những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, một cách hiển nhiên và dữ dội, chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù công khai của nhau. Từ những ngày đầu tiên thăng tiến chính trị của mình, Hitler đã mô tả Do-thái giáo và chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý hệ. Cũng như Hitler, y là một người theo chủ nghĩa dân tộc; y gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Soviet Foreign Minister Vyacheslav Molotov signing the Nazi–Soviet Pact, with German Foreign Minister Joachim von Ribbentrop directly behind him, next to Stalin, August 23, 1939

Bộ trưởng Ngoại giao Soviet Vyacheslav Molotov kí hiệp ước Nazi-Soviet, với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Joachim von Ribbentrop ngay đằng sau, kế bên Stalin, ngày 23 tháng Tám năm 1939 (Ảnh: Fine Art Images/Heritage Images/Getty Images)

Vào tháng Năm năm 1939, Hitler nhận ra rằng trong cuộc chiến của người Đức với bên phía Tây, Nga có thể ở vai trò trung lập. Nhưng việc thực hiện điều đó không đơn giản; Nga phải có gì đó đổi lại. Trong suốt mùa hè năm đó, nhóm đại biểu Anh-Pháp tìm kiếm một dạng thoả thuận quân sự với Nga và chuyện không đi được tới đâu. Có một số viên chức và nhà ngoại giao cao cấp của Đức, đứng đầu trong số đó là bộ trưởng ngoại giao Joachim von Ribbentrop của Hitler, có khuynh hướng thiên hẳn về phi vụ Đức-Nga. Trong lúc đó tại Moskva, Stalin đã có động thái rồi: vào đầu tháng Năm, y sa thải bộ trưởng ngoại giao của mình, Maxim Litvinov người Do-thái, thay thế bằng Vyacheslav Molotov (người giữ chức bộ trưởng ngoại giao suốt cuộc chiến và một thời gian dài sau đó). Hitler hiểu điều đó nghĩa là gì. Vào tháng Tám, Ribbentrop bay đến Moskva để kí Hiệp ước Bất tương xâm (Non-Aggression Pact); bức ảnh Ribbentrop với cây bút trong tay cho thấy ở hậu cảnh Stalin mãn nguyện thấy rõ. Hitler hi vọng sự kiện gần như tuyệt diệu này có thể ngăn người Anh và người Pháp không can dự cuộc chiến giành Ba-lan với y. Điều đó không xảy ra, mặc dù Stalin không thất vọng vì điều đó.

Điều quan trọng hơn Hiệp ước Bất tương xâm là phần phụ lục của hiệp ước, một Định ước Bí mật, vốn yêu cầu không gì khác hơn là phân chia Đông Âu, đặc biệt là Ba-lan, với một phần nước này sẽ bị Soviet thâu tóm. Ngoài ra, Đức công nhận “khu vực quan tâm” của Nga tại Estonia, Latvia, Phần-lan, một phần Lithuania và tỉnh Bessarabia ở Romania. Moskva phủ nhận chính sự tồn tại của Định ước Bí mật này trong suốt thời gian dài, ngay cả sau khi kết thúc Thế chiến II đã lâu. Nhưng sự kiện đó tồn tại trong văn khố của Đức; và vào năm 1939 nó đã trở thành một hiện thực u ám và dễ sợ. Tận đến năm 1986, Molotov già nua (lúc đó đã hơn 90) vẫn phủ nhận chính sự tồn tại của sự kiện này trước một phóng viên Nga. Thực tế, nhiều hoàn cảnh của sự kiện này vẫn còn đó qua cuộc thế chiến và cả những xung đột tiếp sau đó cho đến năm 1989.

Quân đội và nhân dân Ba-lan đã chiến đấu can trường với người Đức suốt một tháng vào năm 1939 (gần lâu bằng Pháp với đội quân đáng kể của họ vào năm 1940). Nhưng 17 ngày sau khi Đức xâm lược, quân đội của Stalin đã xâm lăng Ba-lan từ phía đông. Vài ngày sau tại Brest, nơi gặp gỡ lúc ấy ngay trên phần chia mới của Nga tại Ba-lan, có một cuộc duyệt binh chung nho nhỏ của binh lính và quân xa của Nazi và Soviet. Chỉ hơn hai tháng sau, chưa đầy ba tháng sau khi Thế chiến II nổ ra, trận đánh duy nhất trên đất liền tại châu Âu là giữa Nga và Phần-lan, vốn là dân tộc không chấp nhận sự kiểm soát của Nga trên đất nước họ. Người Anh thất kinh. Họ (và người Pháp) thậm chí suy xét, trong thoáng chốc, về việc can thiệp, nhưng việc này đã không xảy đến. Quân đội Hitler sớm xâm chiếm Đan-mạch, Norway, Hà-lan, Bỉ – và sau đó là Pháp. Churchill và Anh quốc đứng một mình, trong suốt hơn một năm sau đó.

Cuối tháng Chín năm 1939, Ribbentrop bay tới Moskva lần nữa để thu xếp một số thoả thuận về đường biên giới, từ đó sẽ tiến hành Định ước Bí mật kia. Xuyên suốt cuộc chiến, trong số những viên chức cấp cao của Đức, y là người mong muốn nhất trong việc tìm kiếm và duy trì những thoả thuận với người Nga. (Người đồng cấp của y trong số những người Nga, Molotov, thường có những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương.) Ở khía cạnh này, chúng ta còn có thể chú ý đến những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương giữa Hitler và Stalin. Hitler cho rằng cần phải tiến hành những điều khoản về mối quan hệ đồng minh với Stalin; về phần mình, Stalin nhiệt thành hơn Hitler trong chuyện này. Một ví dụ là lời chúc tụng có lẽ không cần thiết của y dành cho Hitler sau khi kí bản hiệp ước vào ngày 24 tháng Tám năm 1939: “Tôi biết dân tộc Đức yêu mến Führer (Quốc trưởng) của họ nhiều đến dường nào, do đó tôi muốn uống vì sức khoẻ của ông ta.” Đáng kể hơn đối với hồ sơ lịch sử đó và hệ trọng hơn đối với nhân dân Đông Âu là ý định của Soviet và hành vi xâm lăng của họ ngay sau khi kí hiệp ước Nazi-Soviet.

Vào cái ngày diễn ra chuyến viếng thăm thứ nhì của Ribbentrop đến Moskva, áp lực của Nga lên các quốc gia Baltic đã bắt đầu. Nga đưa ra yêu sách đòi thay đổi những chính quyền tại Baltic, đầu tiên là tại Estonia, sau đó là những nước láng giềng Latvia và Lithuania. Quan trọng hơn, giờ đây Nga đã điều quân đến những nước đó, đặc biệt đến hải cảng của họ, làm suy giảm trầm trọng nền độc lập của những nước này. Chính quyền tại những nước này chịu áp lực phải tuân theo lệnh của Soviet và phải thực hiện theo, ngoại trừ Phần-lan. Hai tháng sau, Cuộc chiến Mùa đông tại Phần-lan bắt đầu. Đội quân nhỏ bé của Phần-lan đã chiến đấu quật cường và dũng cảm, một thực tế mà ngay cả Stalin cũng phải thừa nhận; kết quả là xuất hiện một hiệp định trong đó Phần-lan từ bỏ một số phần lãnh thổ cho Soviet nhưng vẫn duy trì nền độc lập cho phần lớn đất nước.

Sự tình tại Ba-lan còn xui rủi và kinh khủng hơn nhiều. Ở đó sự chiếm đóng của Soviet chí ít cũng tàn bạo và thảm khốc – nếu không muốn nói nhiều hơn – so với những phần đất Ba-lan bị Đức khuất phục. Nga trục xuất ít nhất một triệu người – bao gồm nhiều gia đình, mà không cho họ mang theo đồ đạc – tới Siberia, Kazakhstan và tít miền bắc nước Nga, mà gần như không ai có thể thấy lại được quê nhà của mình lần nữa. Vào tháng Tư và tháng Năm năm 1940, khoảng 22,000 sĩ quan Ba-lan bị bắn chết gần Katyn. Hơn một triệu tù nhân và công nhân Ba-lan bị trục xuất tới Đức để chịu lao động cưỡng bức trong suốt thời chiến.

Đáng nói là nhiều việc làm thế này đã bắt đầu ngay sau khi Soviet chiếm được miền đông Ba-lan vào tháng Chín năm 1939. Một số người Ba-lan, bao gồm người Do-thái, đã chào mừng binh lính Soviet, những tưởng rằng binh lính Soviet đến để giải phóng họ khỏi Nazi. (Sau đó họ thất vọng người Nga đến mức một số người Do-thái ở miền đông Ba-lan nghĩ rằng tốt hơn nên trốn sang khu vực của Nazi, cho dù họ đã biết người Đức đối xử với dân Do-thái ra sao.) Từ năm 1939 đến 1941, có lẽ đa số dân Do-thái trên thế giới sống tại Đông Âu, hầu hết họ sống tại miền đông Ba-lan, miền tây Nga, Ukraina, và Belarus. Cuộc thanh trừng chung quyết của người Đức chưa được Hitler quyết định cho đến tháng Chín năm 1941 và trước tháng Một năm 1942 vẫn chưa được thực hiện, nhưng theo nhiều cách khác nhau, số phận của họ đã được báo hiệu trước từ Hiệp ước Nazi-Soviet.

Vào ngày 14 tháng Sáu 1940, ngay cái ngày quân Đức diễn hành vào Paris, Moskva cuối cùng đã quyết định thi hành Định ước Bí mật. Trong vòng một hai ngày, Nga tuyên bố tổng sáp nhập Estonia, Latvia và Lithuania vào Liên bang Soviet. Chính phủ tại những nước này bị cầm tù hoặc bị đày ải. Nhiều cựu viên chức ở đó bị xử tử, và ít nhất 25,000 người Baltic bị trục xuất tới Liên bang Soviet. Hitler chở những sắc tộc thiểu số Đức ở vùng Baltic đến Đức bằng tàu thuỷ của Đức.

Vào tháng Mười một 1940, Molotov sang Berlin. Đây không phải là chuyến đi thành công của y. Cung cách ngoại giao của y cứng đờ như tính cách y vậy. Nhìn thấy Đức chinh phục gần hết châu Âu, y đề xuất việc gộp Bulgaria vào khu vực của Nga. Theo đó Liên bang Soviet sẽ có sự hiện diện gần Bosphorus, với cái giá phải trả là Thổ-nhĩ-kì. Người Đức không đáp lại lời đề xuất này. Vào một ngày tháng Mười hai năm 1940, Hitler bắt đầu hoạch định một cuộc chiến chung cuộc với Nga.

Stalin phần nào chỉ trích hành vi của Molotov tại Berlin; y cho là bộ trưởng ngoại giao của mình có lẽ đã quá cứng nhắc. Đây là lối cư xử điển hình của Stalin trong suốt sáu tháng tiếp theo. Y không thể và sẽ không tin Hitler sẽ khởi sự một cuộc chiến chống lại mình trong khi Đức vẫn còn Anh quốc để xử lí.

Stalin đã thực hiện một số động thái để cải thiện tình hình của Nga. Y thương thảo một hiệp ước giao hảo với Nam-tư, vốn chẳng được gì, vì Hitler đã xâm lược Nam-tư vào cái ngày kí hiệp ước này. Y mời bộ trưởng ngoại giao Nhật, Matsuoka Yōsuke, đến Moskva khi ông này trên đường quay trở về Nhật sau chuyến viếng thăm Berlin. Đáng ngạc nhiên là sau đó y kí một Hiệp ước Bất tương xâm với Nhật. (Ngay sau khi Nazi xâm lược Liên bang Soviet vào tháng Sáu năm 1941, Matsuoka, khi trở về Tokyo, đã đề nghị Nhật nên xâm lược Nga từ phía đông. Thật là quá sức cho giá trị của những bản Hiệp ước Bất tương xâm năm 1941. Nhưng Matsuoka không được như ý, vì kẻ thù chính của Nhật lúc bấy giờ là Hoa-kì.)

Stalin ra lệnh phải có những cử chỉ thân thiện đối với Đức, bao gồm cả việc đẩy nhanh khâu vận chuyển các sản phẩm Soviet đến đó. Y không một chút mảy may phản ứng lại lời cảnh báo từ Churchill về viễn cảnh Đức sẽ tấn công Liên bang Soviet. Trong suốt mười ngày trước cuộc xâm lăng của Nazi – mặc cho tất cả mọi loại thông tin về mối đe doạ của Đức – Stalin cố gắng thực hiện những điều tốt nhất, hay có lẽ là những điều tệ nhất, để xác nhận lòng tin của mình vào Hitler và vào Đức. Tôi không biết một trường hợp đơn lẻ nào có hành vi thấp hèn đến thế (bởi đó là điều đã từng vậy) mà xuất phát từ một chính khách của một thế lực hùng cường.

Cuộc tấn công của Đức đã làm Stalin thoạt đầu sốc đến câm lặng. (Những lời của Molotov sau khi Đức tuyên bố chiến tranh cũng đáng nói: “Chúng ta xứng đáng điều này sao?”) Những mệnh lệnh đầu tiên của Stalin cho quân đội Soviet là đừng phản ứng gì cả. Phải mất nhiều giờ đồng hồ sau cuộc xâm lăng – cho đến trưa – thì y mới ra lệnh quân đội phản kháng lại.

Vẫn còn là vấn đề tranh cãi về việc y đã run sợ ra sao trong suốt những ngày công kích đầu tiên của Nazi. Cuối cùng y đã xốc lại được tinh thần của mình. Vào ngày 3 tháng Bảy năm 1941 – mười một ngày sau cuộc xâm lăng của Đức – y gọi nhân dân Liên bang Soviet là một tập thể ái quốc. Tới thời điểm đó, một số binh lính Nazi đã ở bên trong miền tây Liên bang Soviet được hơn trăm dặm và đang tiến đến Moskva. Roger Moorhouse kết lại phần dẫn nhập khiêm tốn của mình: lịch sử của Hiệp ước Nazi-Soviet “xứng đáng được giải cứu ra khỏi những dòng cước chú và khôi phục trở lại vị trí đúng đắn của mình… Tôi chỉ có thể hi vọng rằng cuốn sách này sẽ góp được một phần nho nhỏ cho tiến trình đó.” Quả vậy.

Dĩ nhiên vẫn còn đó những nghi vấn dành cho các sử gia. Một vấn đề là nhiều văn khố Soviet vẫn còn đóng cửa, và văn bản của họ thường là không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Một nghi vấn sâu xa hơn vẫn chưa giải quyết được nằm ở chỗ mục đích chính của Hitler vào năm 1941 là gì. Trước nhân dân và đồng minh của mình, y đã có những giải thích rõ ràng và đơn giản. Y chưa bao giờ thoải mái trong việc liên kết với Liên bang Soviet. Y kinh tởm chủ nghĩa cộng sản. Nhưng còn có một yếu tố khác, có lẽ mang tính quyết định, trong tâm trí của y. Ở đâu đó y đã buông lời nhận xét về điều này trước một số tướng lĩnh của mình. Những lời đó liên quan đến Anh quốc – và đằng sau đó là Hoa-kì. Một khi đã chinh phục Nga, buộc Stalin quy hàng hay phải rút đi những gì còn lại của thế lực Soviet đằng sau Ural, Siberia, thì khi đó Churchill (và Roosevelt) có thể làm được gì? Họ phải đối diện với một kẻ khổng lồ Nazi-Á-Âu, với đội quân Đức lớn mạnh vốn không còn phải chiến đấu trên hai mặt trận nữa.

Vấn đề của Stalin nghiêm trọng hơn nhưng lại đơn giản hơn. Vào đầu tháng Chín năm 1941, y viết cho Churchill nói rằng Liên bang Soviet đang “chịu mối đe doạ chết người”. Chuyện đó không xảy ra; và đến năm 1942, y nhận ra là mình sẽ nhận được nhiều thứ từ mối quan hệ đồng minh với Anh và Hoa-kì hơn là với Đức. Nhưng chí ít cho tới tháng Sáu 1941, Stalin và Molotov vẫn còn chuộng Đức của Hitler hơn là phương Tây.

Ở phương diện này có một chỗ dành cho một tiểu sử, hay một phác thảo tiểu sử, của một viên chức nham hiểm của Soviet mang tên Vladimir Dekanozov, người thân cận với Molotov trong suốt thời gian dài, một trong những kẻ thân Đức quan trọng trong hàng ngũ viên chức cao cấp của Soviet (và vào năm 1941 còn là đại sứ tại Berlin). Có chứng cứ cho rằng độ cuối mùa xuân năm 1943, Molotov điều y đến Stockholm với mục tiêu thiết lập mối liên hệ với Nazi. Ribbentrop đã sẵn sàng gặp Dekanozov nhưng bị Hitler cấm không cho gặp. Vào cuối năm 1953, Khruschev ra lệnh xử tử Dekanozov.

Hai tuyên bố lịch sử đã xuất hiện bằng văn bản sau khi kết thúc cuộc chiến một thời gian. Vào tháng Mười hai năm 1941, Churchill điều bộ trưởng ngoại giao Anthony Eden đến Moskva. Quân đoàn tiến công của Đức trước đó đã dừng ngay trước Moskva nhưng thậm chí có thể nghe thấy tiếng súng ở bên kia bức tường của điện Kremlin. Stalin nói với Eden: “Vấn đề của Hitler là ông ta không biết dừng lại chỗ nào.” Eden: “Thế có ai biết không?” Stalin: “Tôi biết.” Hai từ này không hoàn toàn xa rời sự thật. Vào tháng Mười một năm 1944, Churchill đến gặp De Gaulle tại Paris. De Gaulle nghiêm trách người Mĩ vì đã để Nga chiếm toàn bộ Đông Âu. Churchill bảo, vâng, Nga giờ đây là con sói đói khát. “Nhưng sau bữa ăn sẽ đến giai đoạn tiêu hoá.”* Nga sẽ không thể tiêu hoá được phần lớn Đông Âu. Và quả đúng vậy.

Chú thích của tác giả:

* Điều đáng lưu tâm là cuộc trao đổi này không được ghi nhận trong hồi kí chiến tranh của Churchill mà trong hồi kí của De Gaulle. Churchill nói ra điều này từ lâu trước khi có bài diễn thuyết “Iron Curtain” (“Bức màn sắt”) vào năm 1946.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn, 20150416

Nguồn:

Lukacs, John. “Monster Together.” The New York Review of Books, 4/2015: http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/apr/23/hitler-stalin-monsters-together/

Advertisements

4 comments on “John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s