J. E. Cirlot – Thú một sừng

Tượng trưng cho sự trong trắng và cũng là một biểu hiệu của thanh kiếm hay lời Chúa (20, 4). Truyền thống thông thường biểu thị nó như một con ngựa trắng với một chiếc sừng mọc từ trán, nhưng theo niềm tin bí truyền nó có một thân hình trắng, một cái đầu đỏ và mắt xanh dương. Truyền thuyết kể rằng nó không biết mệt mỏi lúc bị đuổi bắt song lại trở nên hiền lành khi một trinh nữ đến gần (59). Điều này dường như gợi ý rằng nó là biểu tượng của tính dục thăng hoa. Ở Trung-hoa, loài thú này gọi là Kì lân vốn được một số tác giả đồng nhất với thú một sừng, trong khi một số khác lại bất đồng với điều này vì Kì lân có hai sừng. Nó là một tượng vật của những sĩ quan quân đội cấp cao và là một biểu hiệu của sự chính trực và dòng dõi cao quý. Da nó gồm năm màu – đỏ, vàng, xanh dương, trắng và đen; tiếng kêu của nó giống tiếng chuông ngân. Truyền thuyết cho rằng nó sống được một ngàn năm và là loài cao quý nhất trong các loài vật (5). Jung, trong công trình về những mối liên hệ giữa tâm lí học và khoa luyện đan của ông, đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh về loài thú hoang đường này, và kết luận rằng, nói chung, không có một đặc tính biểu tượng rõ ràng mà đúng ra có nhiều biến thể khác nhau bao quát các sinh vật một sừng, có thật lẫn hoang đường, như cá kiếm hay một số loại rồng. Ông ghi nhận rằng thú một sừng đôi khi biến hoá thành một con chim bồ câu trắng, đưa đến sự giải nghĩa rằng một mặt nó có liên quan đến những quái vật nguyên thuỷ trong khi mặt khác nó đại diện cho lực lượng spiritus mercurialis (linh hồn thuỷ ngân) rắn rỏi, thuần khiết và thấu suốt. Ông trích lời nhận xét của Honorius xứ Autun trong Speculum de Mysteriis Ecclesiae (Tấm gương Những bí ẩn của Nhà thờ) của ông này, như sau: ‘Loài thú rất dữ tợn với một chiếc sừng duy nhất này được gọi là thú một sừng. Để bắt nó, một trinh nữ được đưa đến một cánh đồng; rồi con thú lại gần nàng và bị bắt, vì nó chịu khuất phục trong lòng nàng. Đấng Christ được đại diện bởi loài thú này, và sức mạnh vô song của ngài được đại diện bởi chiếc sừng của nó. Ngài, người nằm trong tử cung của Đức Mẹ, đã bị bắt bởi những thợ săn; điều đó nói lên rằng, ngài được nhận ra trong hình dạng con người bởi những ai yêu quý ngài.’ Tuy nhiên, vào thời Cổ, thú một sừng thỉnh thoảng bộc lộ những đặc tính ác độc. Physiologus Graecus bình luận rằng nó là ‘một loài thú chạy nhanh, một sừng và che giấu ý định độc ác nhắm vào con người’. Như Jung từng nhận xét, Giáo hội không nhận ra mặt tiêu cực này của thú một sừng. Mặt khác, các nhà luyện đan sử dụng những ngụ ý lưỡng nghịch của nó để tượng trưng cho Monstrum Hermaphroditum (Quái vật Lưỡng tính). Tính phổ quát của hữu thể tượng trưng không tồn tại trong tự nhiên này quả thực đáng kinh ngạc; ví dụ, nó xuất hiện trong kinh Vệ-đà. Về sự tượng hình của nó, đặc biệt đáng chú ý là những tấm thảm trang trí ở thế kỉ 15 tại Bảo tàng Cluny ở Paris, với những minh hoạ trong La Dame à la Licorne (Quý bà và Thú một sừng) (32).

K.H. dịch
2015.05.
12

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(5) BEAUMONT, A. Symbolism in Decorative Chinese Art. New York, 1949
(20) FERGUSON, George W. Signs and Symbols in Christian Art. New York, 1954
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(59) WIRTH, Oswald. Le Tarot des imagiers du Moyen Age. Paris, 1927

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Unicorn” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s